| |
Tản mạn về tác phẩm Nhà Bè Nước Chảy Chia Hai của Nguyễn Lý Tưởng
Friday, February 20, 2004
|
|
|
|
|
|
Tống Diên
(Tiếng Vang, Sacramento số 101 từ 01 Feb-15 Feb 04)
Một sự trùng hợp khá thú vị đã xảy ra trong sinh hoạt văn học nghệ thuật tại Cali vào những tháng cuối năm 2003. Ở phía Nam, Nguyễn Lý-Tưởng (NLT) vừa cho ra mắt độc giả quyển Nhà Bè Nước Chảy Chia Hai (NBNCCH) thì chẳng bao lâu sau đó, ở miền Bắc, Ngô Viết Trọng cũng ấn hành xong lịch sử tiểu thuyết Công Nữ Ngọc Vạn.
Cả hai tác phẩm đều tập chú vào việc làm sống dậy trước mắt độc giả một số nhân vật lịch sử triều Nguyễn ít nhiều bị chôn vùi dưới lớp bụi thời gian. Dĩ nhiên là mỗi tác phẩm phải sử dụng những phương thức đặc thù thích hợp với thể loại của tác phẩm. Ở đây người viết xin đề cập tới riêng tác phẩm NBNCCH mà thôi.
Nhìn riêng cái tựa sách “Nhà Bè Nước Chảy Chia Hai” (NBNCCH) độc giả có ấn tượng sơ khởi đây là một tập truyện ngắn, một sách biên khảo về ca dao miền Ðông Nam Việt hoặc một công trình đặc cứu về vùng Nhà Bè thuộc tỉnh Gia Ðịnh. Khi thấy ảnh Lăng Ông Bà Chiểu ở bìa trước và hàng chữ Nghiên Cứu Lịch Sử dưới ảnh đó, người đọc mới nghĩ đến một công trình nghiên cứu lịch sử mà đối tượng là những nhân vật miền Nam nói chung.
Trong chương mở đầu “Vị Ẩn Sĩ”, NLT cũng đã xác nhận chính đó là mục đích của tác phẩm. Ở chương này ông cũng có kể lại một sự kiện (nghe giọng hò của một cô gái miền Nam... “Nhà Bè nước chảy chia hai...”) đã từng dấy lên nơi ông một cơn xúc động thâm trầm mà mãnh liệt có thể xem như là động cơ tâm lý thúc đẩy ông biên soạn tác phẩm này.
Nói rõ hơn tác phẩm là tập hợp những bài viết về những danh tướng, những vị khai quốc công thần của triều Nguyễn từ thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên tới thời vua Gia Long. Hầu hết những nhân vật nói trên có sinh quán ở miền Nam hoặc đã từng cai trị ở miền Nam hay đã thu hoạch được những chiến công rực rỡ tại miền đất này khi vua Gia Long còn là Nguyễn Vương Nguyễn Phúc Ánh trong thời gian tẩu quốc và phục quốc. Nhìn chung, nhờ tập chú vào một đề tài thôi nên NBNCCH đã có nội dung thuần nhất hơn “Thuyền Ai Ðợi Bến Văn Lâu” cũng của cùng tác giả NLT. Tuy nhiên vẫn có hai chương không kết liền chặt chẽ được với đề tài chung của tác phẩm.
Ðó là các chương 15 (Hoạt Ðộng Gián Ðiệp Thời Trịnh-Nguyễn) và 16 (Ấn Ngọc Tỷ Truyền Quốc). Xet dưới khía cạnh thuần lý thì các chương này phải là những chương cuối cùng của quyển sách, nhưng NLT đã đặt chúng trước các chương 17 (Tam Hùng Ðất Gia Ðịnh), 18 (châu Văn Tiếp), 19 (Ðỗ Thanh Nhân), 20 (Võ Tánh). Tôi không nghĩ là tác giả sắp xếp các chương theo lối tùy hứng. Ắt hẳn ông có lý do để đảo ngược thứ tự các chương ở phần cuối của tác phẩm. Tôi tin ông muốn thay đổi không khí bằng cách đặt xen kẽ vào một vài đề tài mới để độc giả khỏi nhàm chán. Tác phẩm viết cho độc giả xem thì phải phục vụ độc giả tới chừng mức tối đa có thể làm được, nỗ lực này cũng chính đáng thôi.
Tuy nhiên, việc chìu theo thị hiếu độc giả phải dừng lại ở nơi mà sử gia bắt đầu làm nhiệm vụ của mình. NLT đã tôn trọng nguyên tắc này. Thỉnh thoảng nhằm mục đích tạo hứng thú cho độc giả, ông cũng có kể lại nhiều giai thoại về những nhân vật làm đối tượng biên khảo của ông. Nhưng lần nào ông cũng cẩn thận ghi rõ xuất xứ của câu chuyện để độc giả khỏi lầm tưởng đó là sự thực đã được kiểm chứng. Thông thường ông chỉ tường thuật các sự kiện được ghi chép trong sử liệu thôi, các sự kiện mà chính ông đã lượng định là có cấp độ chân xác khá cao. Xin liệt kê dưới đây những sử liệu mà ông đã tham khảo và trích dẫn khi biên soạn quyển NBNCCH:
- Ðại Nam Liệt Truyện (Tiền Biên và Chính Biên).
- Ðại Nam Thực Lục (Tiền Biên và Chính Biên).
Các bộ sử liệu trên do Quốc Sử Quán nhà Nguyễn biên soạn.
- Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí của Nguyễn Khoa Chiêm (sau thời Gia Long tác phẩm này được gọi là Việt Nam Khai Quốc Chí Truyện hoặc Trịnh Nguyễn Diễn Chí).
- Ðại Nam Nhất Thống Chí.
- Histoire de la Cochinchine Francaise của Launay.
- La Cochinchine Religieuse của Louvet.
- Bài Le Vénérable Joseph Marchand trong quyển Les 52 Serviteurs de Dieu của Launay.
- Le Pays d'Annam của Luro.
- Bài Joseph Marchand, Le Criminel d'Etat trong quyển Échos de la Rue du Bac của Christian Simonet.
- Bài Hạnh Á Thánh Giuse Marchand (Du) trong quyển Hạnh Cha Minh và Lái Gẫm của Linh Mục Mathêu Ðức.
- Việt Nam Giáo Sử của Phan Phát Huồn.
- Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.
Trong các bộ sử liệu biên soạn vào thời triều Nguyễn, một số đã được Viện Sử Học Hà Nội và nhà xuất bản Thuận Hóa dịch từ chữ Hán ra chữ Việt; phần còn lại được chính tác giả NLT dịch trọn quyển hoặc đọc trực tiếp bản chữ Hán và trích dẫn một số đoạn có liên hệ tới đề tài của bài viết.
Vốn xuất thân từ Viện Hán Học và đã học sử ở Ðại Học Văn Khoa và Ðại Học Sư Phạm, tác giả NLT có thể đọc và hiểu rõ nội dung các sử liệu cổ, đồng thời ông cũng không quên đối chiếu các dữ kiện thu thập được để thẩm định giá trị chính xác của các dữ kiện đó. Ngoài ra, trong tư thế là người trí thức Công Giáo thường quan tâm đến thân phận những tín đồ đầu tiên của tôn giáo này ở Việt Nam, NLT đã nỗ lực sưu tầm các tài liệu giáo sử Công Giáo thời nhà Nguyễn (chủ yếu kể từ vua Minh Mạng trở về sau). Chính những tài liệu này đã góp phần soi sáng một số biến cố xảy ra trong thời gian nói trên.
Ðược đào tạo chính quy qua các trường lớp chuyên nghiệp, NLT đã cố gắng tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp áp dụng trong khoa sử học hiện đại. Nỗ lực này chẳng những góp phần củng cố giá trị những tác phẩm ông biên soạn mà còn giúp ông hóa giải những lời chỉ trích đến từ những người bất đồng tư tưởng chính trị, tôn giáo v.v.. với ông nữa.
Nhân tiện, xin nhắc lại đây một chuyện ngoài lề đã cũ nhưng vẫn còn tồn tại như là một kinh nghiệm quý báu cho những người viết sử. Nguyên báo Người Việt ra ngày 08-12-1995 và các ngày kế tiếp có đăng bài “Bổ Túc Và Ðính Chính” Sử Liệu Về Ông Nguyễn Văn Tường” ký bút hiệu Tr.V (xin viết tắt bút hiệu của tác giả vì những gì tôi trình bày dưới đây liên quan tới sự việc hơn là tới cá nhân). Bài viết chỉ trích việc NLT (trong bài Từ Ngôi Mộ Lưỡng Hổ Chầu Ðến Chiến Khu Tân Sở Ðời Vua Hàm Nghi) nói Nguyễn Văn Tường là con của một người chèo đò chớ không phải là con rơi của vua Thiệu Trị. Tr.V còn tố cáo rằng sở dĩ NLT “bóp méo lịch sử”, nói Nguyễn Văn Tường là con của người chèo đò là vì “ông Tường chống Pháp, loại trừ những người thân Pháp”. Ông NLT có trả lời ông Tr.V và đã đưa ra những bằng chứng bác bỏ giả thuyết của các ông Thái Văn Kiểm, và Nguyễn Ðắc Xuân (mà ông Tr.V tin là một sự thật lịch sử) theo đó Nguyễn Văn Tường là con rơi của vua Thiệu Trị.
Tin bên nào bây giờ, bên ông NLT với những sử liệu và nhân vật mà ông viện dẫn hay bên các ông Thái Văn Kiểm, Nguyễn Ðắc Xuân và Tr.V? Ðộc giả có thể chọn lựa sau khi đọc kỹ bài viết của mỗi bên và so sánh phương pháp làm việc của hai bên. Vấn đề đáng được quan tâm đặc biệt là lời cáo buộc của ông Tr.V theo đó ông NLT đã hạ thấp giá trị cá nhân Nguyễn Văn Tường bằng cách nói Nguyễn Văn Tường là con của một người chèo đò chỉ vì lý do “Nguyễn Văn Tường chống Pháp, loại trừ những người thân Pháp”. Nói như ông Tr.V. hóa ra ông NLT cố tình bêu xấu Nguyễn Văn Tường chỉ vì Nguyễn Văn Tường chống Pháp! Nếu tin lời ông Tr.V thì phải suy diễn rộng ra như sau:
- Nhiều người chống Pháp khác cũng bị ông NLT bêu xấu.
- Ông NLT là tay sai của Pháp; ông và gia đình của ông ắt phải hưởng nhiều quyền lợi to tát do Pháp ban cho hoặc giả NLT mê say nước Pháp đến nỗi tự đặt mình ở cương vị một người Pháp yêu nước cực đoan chớ không ở cương vị một người Việt Nam.
Rất tiếc là ông Tr.V không trưng dẫn được bất kỳ bằng cớ nào cho thấy các sự việc trên đây đã thực sự xảy ra. Tình trạng này đưa tới kết luận hợp lý là ông Tr.V bất bình với ông NLT không phải trên địa hạt sử học mà trên địa hạt khác (như tư tưởng chính trị hoặc tôn giáo chẳng hạn). Sự bất bình trên những địa hạt như vậy có khi không tiện nói ra nên phải chuyển vị nó qua địa hạt sử học để cho nó có vẻ vô tư hơn.
Bên Pháp cũng có những trường hợp tương tự. Vào thập niên 1960, nhân dịp đài truyền hình quốc gia Pháp vinh danh Robespierre, hai phe tả-hữu đã dựa vào những ưu khuyết điểm của nhà cách mạng này mà chửi bới nhau tàn tệ. Tóm lại, thực tế cho thấy sử học có thể là nơi giải quyết các mối bất đồng quan điểm phát sinh từ nơi khác. Một nhà viết sử thận trọng, biết tuân thủ các quy tắc trong ngành, có thể hóa giải tương đối dễ dàng những đòn thù đến từ những đối thủ của ông ta ở môi trường khác.
Bây giờ xin trở lại với tác phẩm NBNCCH. Ðề tài chính yếu của tác phẩm đã đáp ứng sự mong đợi của độc giả từ lâu đã hơi nhàm với những anh hùng dân tộc lừng danh nhưng đã được nói tới quá nhiều như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ v.v.. Quyển NBNCCH giới thiệu những nhân vật mới hơn (xin hiểu theo nghĩa ít được nói tới hơn), đa số gốc gác ở miền Nam hoặc lập nghiệp lâu đời ở miền Nam vốn dĩ là vùng đất mới của lãnh thổ Việt Nam, một vùng đất phì nhiêu đầy hứa hẹn, thừa thãi tài nguyên nhưng lại thiếu quá khứ, thiếu những nhân vật của quá khứ nên luôn luôn tha thiết với những nhân vật này.
Có một vài phần, chương đã tạo nên sắc thái đa dạng cho tập NBNCCH. Ðó là phần “Người Minh Hương” (gồm 6 chương cả ngắn lẫn dài) và các chương Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Văn Thoại. Ở những nơi này, tác giả NLT đã tạo ra không khí mới, đã đưa người đọc tới những diễn trường mới của lịch sử. Các chiến công được tường thuật hạn chế ở mức tối thiểu và thay vào đó là những công trình chính trị, kinh tế văn hóa hoặc những đề án quân sự có quy mô chiến lược. Thiếu những phần, chương như vậy thì tác phẩm NBNCCH ắt đã không đạt tới tầm vóc mong muốn.
Nhưng cái chương ngoạn mục, độc đáo, bất ngờ nhất vẫn là chương “Hoạt Ðộng Gián Ðiệp Thời Trịnh Nguyễn”. Nhan đề này có thể thoạt tiên tạo ấn tượng rằng đây là một truyện dã sử được ngụy trang thành chính sử. Kỳ thực nó đúng là chính sử mặc dù phần lớn các sự kiện và biến cố trong đó được kể lại dựa theo quyển “Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí” của Nguyễn Khoa Chiêm - Tham Chính Chánh Doãn Sự - thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Là đại thần của chúa Nguyễn, Nguyễn Khoa Chiêm dĩ nhiên phải ca tụng công nghiệp của chúa Nguyễn, nhưng không phải bao giờ ông cũng chê bai mạt sát chúa Trịnh và binh vực chúa Nguyễn vô điều kiện. Ðặc biệt, ông chỉ có thể thêm bớt một số chi tiết chớ không thể bịa đặt toàn bộ các diễn biến lịch sử mà ông kể lại. Về phần tác giả NLT thì cũng có đối chiếu tác phẩm của Nguyễn Khoa Chiêm với các bộ sử liệu triều Nguyễn như Ðại Nam Thực Lục Tiền Biên, Ðại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Khâm Ðịnh Việt Sử Thông Giám Cương Mục trước khi biên soạn chương “Hoạt Ðộng Gián Ðiệp Thời Trịnh Nguyễn”. Do đó độc giả an tâm về sự chân xác của chương này. Ðiều cần nói nhất là chương “Hoạt Ðộng Gián Ðiệp Thời Trịnh Nguyễn” đã tường trình cho độc giả biết cái góc cạnh bí mật lịch sử chiến tranh phân ly Nam-Bắc mà các vị chúa Trịnh-Nguyễn đã khởi xướng và duy trì trong gần 150 năm nếu kể luôn cả thời gian sau khi hai bên tạm hưu chiến và lấy sông Gianh làm ranh giới. Từ trước đến nay hầu như chẳng ai biết gì cả về cuộc chiến tình báo giữa hai triều Trịnh-Nguyễn, bởi lẽ cuộc chiến đó không hề được đề cập tới trong các bộ sách lớn nhỏ dùng để dạy sử ở trường học.
Tuy đã đạt được những ưu điểm trên đây, tác phẩm NBNCCH vẫn không tránh khỏi một khuyết điểm tất yếu là không kể ra hết được mọi chi tiết liên quan tới các sự kiện lịch sử, hoặc không bàn luận đầy đủ về các chi tiết đó hay không giải đáp trước mọi thắc mắc mà độc giả có thể nêu lên. Thiếu sót này bắt nguồn từ những trở ngại khách quan như thiếu sử liệu để tham khảo hoặc không thể viết tràn lan vượt ra quá xa ngoài cái khuôn khổ mà đề tài quy định. Xin dẫn ra dưới đây vài trường hợp điển hình.
1- Trong Vụ Án Lê Văn Khôi:
a) Khi quan quân tới bắt Cố Du (Linh Mục Joseph Marchand) thì một cậu thiếu niên Việt Nam (giúp lễ cho Cố Du) vừa khóc vừa chạy theo ông. “Nhưng các quan không cho và lấy roi mây đánh đuổi cậu đi vì sợ cậu sẽ bị tội chết khi theo Linh Mục đi về kinh đô Huế”. Theo thiển ý, tới đây có thể bàn rộng ra thêm một chút như sau. Quan lại nhà Nguyễn, dù có ác độc đến đâu đi nữa, cũng vẫn còn chút tình người trong một số trường hợp nào đó.
b) Khi loạn Lê Văn Khôi bị trấn áp xong, triều đình tấu trình lên vua Minh Mạng một bản án hết sức khắc nghiệt dành cho các can phạm. Chính vua Minh Mạng đã tự tay phê vào bản án để ban bố lệnh ân giảm cho một số can phạm, đại ý như sau:
- Anh em Lê Văn Hán (con nuôi Lê Văn Duyệt) là Lê Văn Yến, Lê Văn Tề trước xử án trảm quyết, nay đổi thành trảm giam hậu.
- Lũ Lê Văn Sầm (6 tên) đều dưới 15 tuổi, hãy giam lại cho nghiêm cẩn.
- Hai con của Lê Văn Yến, hai con của Lê Văn Tề, bé dại không biết gì thì tha không nã bắt.
- Mười ba người đàn bà trước xử làm đầy tớ gái, nay thả cả.
- Ba người vợ lớn, vợ bé của Lê Văn Duyệt trước xử phân thây, nay cũng không xét hỏi nữa.
Ðược vua hỏi ý kiến, quan lại trong triều đổ xô nhau xin vua hủy bỏ lịnh ân giảm và ngược lại tăng án phạt lên cho nặng thêm. Nhưng vua Minh Mạng vẫn quyết định giữ nguyên lịnh ân giảm. Như thế vua Minh Mạng tỏ ra sáng suốt và có độ lượng hơn các triều thần của ngài. Dựa vào sự kiện đó, cũng nên lấy lại một chút công bằng cho vua Minh Mạng.
2- Tháng Tư năm Ðinh Dậu 1657 chúa Trịnh Tráng mất, Trịnh Tạc lên ngôi thay cha nhưng không ổn định được nội bộ nhà chúa. Ðược điệp viên từ ngoài Bắc vào báo cáo tình hình, chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần dẫn quân ra phía Bắc đến vùng Thạch Hà (thuộc Nghệ An) thì dừng quân lại ở dinh Vân Cát. Các quan văn võ đều tâu xin chúa đem quân vượt sông Lam tiến ra Bắc đánh đổ chúa Trịnh. Sách “Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí” của Nguyễn Khoa Chiêm (dựa theo đó NLT biên soạn bài “Hoạt Ðộng Gián Ðiệp Thời Trịnh Nguyễn”) bảo rằng chúa Hiền không chấp nhận kế hoạch này vì cho đó là một hành vi bất nhân, bất nghĩa vì trước kia, khi chúa Nguyễn Hoàng mất, chúa Trịnh có sai người mang lễ vật vào phúng điếu. Không lẽ bây giờ lại trả lễ bằng hành động xâm lăng? Chúa Hiền bèn ra lịnh dừng quân và sai người sắm lễ vật đem ra kinh đô Thăng Long viếng tang chúa Trịnh Tráng.
Tới đây độc giả có thể nêu lên thắc mắc là liệu câu trả lời của chúa Hiền với triều thần của mình có thể diễn đạt đúng ý nghĩ thầm kín của chúa hay không? Bởi lẽ nếu sợ mang tiếng là bất nhân, bất nghĩa thì dẫn quân ra tới Thạch Hà để làm gì? Phải chăng trong thâm tâm chúa Hiền đã thẩm định lại tình hình và chợt thấy rằng nếu chúa đánh ra Bắc thì lập tức chúa tôi, anh em nhà họ Trịnh sẽ đoàn kết lại để đối phó. Trong trường hợp đó, hy vọng thắng lợi của quân Nam trở nên khá mong manh bởi lẽ tiềm lực của miền Bắc lúc đó lớn hơn tiềm lực của miền Nam. Mà hễ thất trận ở miền Bắc thì có nhiều khả năng phải mất luôn các huyện mới chiếm lĩnh được ở phía Nam sông Lam và có thể phải lùi xa hơn nữa. Do đó chúa Hiền thích chọn giải pháp ngoại giao để bảo toàn những gì mình vừa thu đoạt được hơn là làm một chuyến phiêu lưu mà thành công không được bảo đảm. Chúa Hiền có tầm nhìn chiến lược trong khi triều thần của ông chỉ có tầm nhìn chiến thuật mà thôi. Sự thật có thể là như vậy chăng?
3- Năm 1781 khi Ðỗ Thanh Nhân bị Nguyễn Phúc Ánh cho người mai phục bắt giết đi thì một thuộc hạ của Nhân là Võ Nhàn nổi lên chống lại chúa Nguyễn Phúc Ánh. Rốt cuộc Võ Nhàn cũng bị giết chết. Người em là Võ Tánh bỏ trốn một thời gian rồi tập hợp được một lực lượng đông đến một vạn người và hùng cứ ở Gò Công, tự xưng là Tổng Nhung. Nhiều lần quân Tây Sơn đã tấn công vào vùng này, nhưng lần nào cũng thất bại cả. Năm 1788 Võ Tánh đem toàn bộ lực lượng của mình về quy thuận chúa Nguyễn Phúc Ánh, được chúa phong chức Khâm Sai Tổng Nhung Chưởng Cơ và được cho cưới người chị của chúa là Công Nữ Ngọc Du. Về sau, bị quân Tây Sơn vây hãm trong thành Quy Nhơn, Võ Tánh đã tuẫn tiết bằng phương thức tự thiêu.
Vấn đề cần tìm hiểu là lý do nào đã khiến Võ Tánh quên đi mối thù Nguyễn Phúc Ánh giết anh của mình để có thể về phục vụ dưới trướng Nguyễn Phúc Ánh và trung thành với vị vương này cho tới chết. Ðây là một đề tài khá lý thú nhưng e khó tìm được tài liệu tham khảo.
4- Trước đây vài chục năm, đông đảo dân chúng miền Nam vẫn còn thờ phượng Tả Quân Lê Văn Duyệt như là thần thánh linh thiêng. Ðông đảo sử gia cũng ít nhiều chịu ảnh hưởng của dân chúng nên đã viết lại cuộc đời của ông theo chiều hướng suy tôn. Ai cũng muốn thấy nơi ông một danh nhân sáng chói, một nạn nhân đáng thương chớ không nhìn ra nơi ông một thủ phạm đáng sợ. Những tính xấu ác liệt, những hành động bạo ngược của ông chỉ được nói phớt qua thôi, thậm chí không được đề cập tới. Những nạn nhân của ông được đưa vào lãng quên để cho ánh sáng chiếu lên bức tượng của ông vẫn được tinh khiết. Giờ đây, có thể một thành phần nào đó, nhỏ hay lớn, trong khối dân miền Nam vẫn còn muốn giữ nguyên vẹn tình trạng này. Nhưng đã tới lúc các sử gia phải nghiêm chỉnh đặt lại vấn đề, phải xem Tả Quân Lê Văn Duyệt là nhân vật lịch sử và do đó phải nhìn ông dưới mọi khía cạnh với nhãn quan của sử gia.
Tôi xin nêu ra dưới đây một vài nghi vấn cần làm sáng tỏ, những nghi vấn này có liên quan tới tính tình và cung cách xử sự của Tả Quân với thuộc hạ và dân chúng, với bạn đồng liêu cũng như với vua nữa.
a) Ở miền Nam, hễ thấy ai ngang ngược thì người ta bảo nhau rằng “Nó làm như ông Hoành, ông Trắm” mà không biết Hoành, Trắm là hai thuộc hạ thân thiết nhất của Lê Văn Khôi, con nuôi của Tả Quân Lê Văn Duyệt, Tổng Trấn Gia Ðịnh Thành. Cụm từ trên đây nói lên tư cách và hành vi của hai ông Hoành, Trắm; nó đã được truyền miệng trong dân gian một trăm mấy chục năm trời và ắt đã xuất hiện ngay từ thời Lê Văn Duyệt còn tại chức (hồi nhỏ tôi cứ nghe người lớn nói câu này mãi mà không biết ông Hoành, ông Trắm là ai, tới lớn khi đọc sách viết về cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi tôi mới hiểu hai người này là ai).
Có thể nào Tả Quân Lê Văn Duyệt hoàn toàn không nghe dư luận đồn đãi chi cả về hành động sách nhiễu của thuộc hạ của ông đối với dân chúng? Ðây là một nghi vấn cần tìm hiểu thêm.
b) Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim có ghi lại vắn tắt vai tuồng của Tả Quân Lê Văn Duyệt trong vụ án Nguyễn Văn Thuyên, con của Tiền Quân Nguyễn Văn Thành, Tổng Trấn Bắc Thành và là người nổi tiếng là văn võ song toàn. Thuyên có làm một bài thơ để giao du với bạn bè, lời lẽ chỉ hơi ngông cuồng mà thôi, nhưng nếu xét một cách hẹp hòi từng chữ một thì có vẻ như Thuyên có ý đồ muốn thay đổi vận nước! Nội dung bài thơ thấu đến tai vua Gia Long. Ban đầu vua muốn bỏ qua nhưng Lê Văn Duyệt cứ nài nỉ xin xét xử mãi khiến vua bị thuyết phục nên giao nội vụ cho Lê Văn Duyệt xử lý. Kết quả, Nguyễn Văn Thuyên bị tra tấn phải nhận tội muốn dấy loạn nên bị xử trảm, còn cha là Nguyễn Văn Thành không được Gia Long cho vào chầu nữa nên ức lòng uống thuốc độc chết. Kể như gia đình Nguyễn Văn Thành tan nát dưới tay Lê Văn Duyệt. Mà Nguyễn Văn Thành lại chính là người đi tìm Lê Văn Duyệt để chiêu dụ về phò chúa Nguyễn Phúc Ánh!
Tiếng tăm văn võ song toàn của Nguyễn Văn Thành, lòng đa nghi của vua Gia Long, bản tính hung bạo và ưa lấn lướt người khác của Lê Văn Duyệt là những yếu tố chủ yếu cấu tạo nên vụ án Nguyễn Văn Thuyên. Còn bài thơ của Thuyên chỉ là một cơ hội trong muôn ngàn cơ hội khác để ba yếu tố nói trên đây kết hợp nhau mà tạo thành biến cố. Bỏ qua không cứu xét tới ba yếu tố này là một thiếu sót mà các sử gia cần bổ sung trong những tác phẩm viết về triều Nguyễn Gia Long.
c) Huỳnh Công Lý, cha vợ của vua Minh Mạng, làm Phó Tổng Trấn Gia Ðịnh Thành (Tổng Trấn chính là Tả Quân Lê Văn Duyệt) ngay từ thời Gia Long còn sống. Huỳnh Công Lý đã từng vào sinh ra tử với chúa Nguyễn Phúc Ánh và đã lập được nhiều chiến công hiển hách. Trong thời gian làm Phó Tổng Trấn ông đã vâng lịnh vua Gia Long đào kinh An Phong (hiện nay là kinh Tàu Hủ ở vùng Nhà Bè). Ông đã hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian 6 tháng đúng theo hạn định của vua. Chính Huỳnh Công Lý là người đã nhận thơ tuyệt mệnh của Nguyễn Văn Thành (bị Lê Văn Duyệt bức tử như vừa nói ở trên) rồi dâng thơ này lại cho vua Gia Long. Khi vua Minh Mạng lên ngôi ít lâu thì Lê Văn Duyệt đột ngột cáo buộc Huỳnh Công Lý tội tham nhũng rồi tự tiện dùng gươm Thiên Phương Kiếm của vua Gia Long ban cho (gươm này là biểu tượng của quyền tiền trảm hậu tấu) mà chặt đầu người phụ tá thân cận của mình. Thế là cha con Nguyễn Văn Thành đều phải chết dưới tay Lê Văn Duyệt mà người nhận thơ tuyệt mạng của Nguyễn Văn Thành để trao lại cho vua Gia Long cũng không toàn thây!
d) Trong bản luận tội của triều đình sau khi loạn Lê Văn Khôi được dẹp yên, Tả Quân Lê Văn Duyệt bị khép vào tội tiếm xưng vì đã xưng “Cô” (Cô gia) với thuộc hạ, một lối xưng hô dành riêng cho vua chúa. Lời buộc tội này không phải là hoàn toàn không có cơ sở. Thật vậy, Tả Quân Lê Văn Duyệt thường phô trương uy quyền của mình với mọi người, ngay cả với vua nữa. Khi ông qua đời, mộ của ông được dân chúng địa phương gọi là lăng (mộ của vua chúa) tức là dân coi ông như là vương gia chớ không coi ông như là quan đại thần thường như các quan lại khác. Ðôi khi ông tự tiện tiếp sứ thần ngoại quốc thay vì chuyển đưa họ ra kinh đô để chầu vua. Trong tác phẩm NBNCCH (trang 23) độc giả cũng được biết người Pháp gọi Tả Quân Lê Văn Duyệt là Vice Roi (Phó Vương). Như vậy, Tả Quân Lê Văn Duyệt ắt phải nói năng và hành động như thế nào đó nên dân chúng và người ngoại quốc mới xem ông như là thuộc hàng vương tước! Ông đã xé sắc dụ cấm đạo của vua Minh Mạng và nói thêm: “Không, bao lâu tôi còn sống, không được làm như thế, sau khi tôi chết, nhà vua muốn làm gì thì làm” (trang 38, NBNCCH). Ông lại tự tiện chém đầu cha vợ vua là Huỳnh Công Lý, bất chấp lịnh của triều đình bảo giải Huỳnh Công Lý về kinh xét xử. Qua những hành động như trên, có thể thấy rõ Tả Quân Lê Văn Duyệt không hề nỗ lực giấu giếm việc ông coi thường uy quyền của vua.
Tác giả NLT đang ở một vị thế thích hợp để có thể nghiên cứu thêm về những sự kiện và nghi vấn nêu trên đây hầu bổ sung (trong các tác phẩm tới) vào tiểu sử những nhân vật mà ông giới thiệu với độc giả.
Nhìn chung, tác phẩm NBNCCH là một công trình biên khảo sử học mới lạ trong đề tài, chân xác trong nội dung và chính thống trong phương pháp làm việc của tác giả. Dĩ nhiên một vài khiếm khuyết nhỏ do trở ngại khách quan là chuyện không thể tránh khỏi.
|
|
|
|
Những Bài Liên Quan: |
|
|
LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của
các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật
báo Người Việt và Người Việt Online.
|
|
|
|
|
|
|
|
|