| |
Tác phẩm mới nhất với tựa đề Cuộc thánh chiến chống Cộng 1945-1975 của Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu
Wednesday, March 24, 2004
|
|
|
|
|
|
Chính Đạo, còn có bút hiệu Nguyên Vũ, tên thật là Vũ Ngự Chiêu. Trước năm 1975, anh phục vụ trong binh chủng Pháo Binh Dù và đã có hơn 20 tác phẩm xuất bản. Sau khi ra hải ngoại, Nhà văn Nguyên Vũ tiếp tục cầm bút và đeo đuổi việc học. Anh tốt nghiệp Tiến sĩ Sử học tại trường Đại Học Wiscosin-Madison năm 1984. Không ngừng ở đó, sau khi cùng gia đình di chuyển về thành phố Houston thuộc Tiểu bang Texas, anh là Giám Đốc nhà Xuất bản Văn Hóa và tốt nghiệp Tiến Sĩ Luật Khoa tại Đại Học Houston năm 1999.
Nhân dịp anh vừa xuất bản tác phẩm mới nhất với tựa đề “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975” , chúng tôi hân hạnh có cuộc phỏng vấn sau đây, để tìm hiểu thêm về tác phẩm này. Xin giới thiệu Nhà văn Nguyên Vũ hay Sử Gia Vũ Ngự Chiêu cùng quý độc giả.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Trước tiên, anh vui lòng trình bày khái quát về tác phẩm mới nhất này, ví dụ như sách có bao nhiêu chương, gồm có mấy tập và xin anh giải thích rõ hơn là tại sao anh chọn tựa đề là “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng?”
Vũ Ngự Chiêu:
Về nội dung CTCCC, Tập I này gồm 5 đoản thiên. Mở đầu là sơ lược tiểu sử Tổng thống Jean Baptiste Ngô Đình Diệm (1897-1963). Tiếp đó là bài “Từ Điện Biên Phủ tới Geneva,” “Cuộc Truất phế Bảo Đại,” “Mùa Phật Đản đẫm máu (1963)” và “Phiến Cộng trong Dinh Gia Long.” Tập II, cũng sẽ có 5 bài, bàn về Việt Nam từ 1963 tới 1975.
Dĩ nhiên có lý do riêng cho sự lựa chọn tựa đề này. Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975 có thể dịch qua Mỹ ngữ như “The Anti-Communist Holy War” hay “The Anti-Communist Crusade.” Sau gần ba thập niên nghiên cứu tài liệu văn khố, tôi đi đến kết luận là cuộc chiến Việt Nam, trên cả hai mặt quốc tế và quốc nội, đều mang sắc thái một cuộc “thánh chiến.” Chẳng phải vô tình mà Thủ tướng Charles de Gaulle bổ nhiệm Linh mục/Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu làm Cao Ủy năm 1945 để cầm đầu cuộc tái chiếm Việt Nam, với sự ban phép lành của Tòa thánh Vatican cùng Tổng Giám mục Antonin Drapier. Tại Mỹ, chúng ta chưa quên bài diễn văn “bức màn sắt” của Thủ tướng Bri-tên Winston Churchill năm 1946, hay phong trào “Sợ Đỏ” và “Tố Cộng McCarthyism” vào đầu thập niên 1950. Vì thế, cuộc tái xâm lăng Việt Nam của Pháp được biến hóa dần thành “chống Cộng.” Tại nội địa, nòng cốt của cuộc chiến là Đảng Cộng Sản Đông Dương, và các Giáo sĩ cùng giai tầng trung gian bản xứ sót lại từ thời Pháp thuộc. Các đảng phái chống Cộng không chịu sự chi phối của Giáo hội Ki-tô đều bị loại ra ngoài, bắt buộc phải đứng bên lề, trong khi đại đa số dân Việt của cả hai miền bị biến thành những con chốt qua sông, quay cuồng trong những cơn bão cát khói lửa và bạo lực. Đặc biệt là từ sau năm 1954. Thí dụ như các hệ phái Đại Việt miền Bắc, miền Trung, Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Cao Đài, Hòa Hảo, v.. v.... Tôi vẫn còn nhớ mãi lời cố Tổng thống Diệm mỉa mai ông Nguyễn Xuân Tiếu và các lãnh tụ Đại Việt Quốc Xã là “chuyên viên thất nghiệp.” Sở dĩ ông Tiếu và các thành viên của Đảng này bị gán ghép cho bảng hiệu chẳng mấy tốt đẹp trên là nhờ “ân sủng” của chính chế độ ông Diệm—họ bị phũ phàng gạt bỏ khỏi đời sống bình thường, luôn luôn sống trong những mắt nhìn đa nghi, e ngại. Chẳng khác gì cảnh các Linh mục Ki-tô cùng giai tầng trung gian bản xứ và con cháu họ mỉa mai các nhà Nho dưới thời Pháp thuộc là “chuyên viên thất nghiệp.”
Tôi muốn dành biên khảo này để biểu trưng lòng tri ân hai cố giảng sư John R. W. Smail và Richard D. Coy, hai sử gia đã giúp tôi vượt qua sạn đạo vào sử học từ 1975 tới 1984. Biên khảo này cũng chỉ có thể hoàn tất nhờ sự tài trợ của nhiều học bổng, đặc biệt là hai học bổng Fulbright để nghiên cứu tại Pháp trong hai năm 1982-1983 và 1985-1986. Tôi muốn ghi nhận và đa tạ sự giúp đỡ nhiệt tình của quí vị Tổng Giám đốc Văn khố Pháp, Giám đốc văn khố hải ngoại, Trung tướng Giám đốc Nha Sử học Lục quân Pháp, Linh mục Giám đốc Văn khố Hội truyền giáo Hải ngoại, Giám đốc văn khố Thư viện Lyndon B. Johnson, cùng các nhân viên, đã dành cho nhiều dễ dãi trong việc tham khảo, kể cả những tư liệu chưa giải mật, suốt hơn hai thập niên qua.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Anh vui lòng trình bày rõ ràng hơn về chủ đề “Phiến Cộng Trong Dinh Gia Long” ở chương thứ 5.
Vũ Ngự Chiêu:
Bài “Phiến Cộng trong Dinh Gia Long” trình bày về hành động và âm mưu ve vãn [flirtation] Hà Nội của gia đình Tổng thống Diệm.
Không ai có thể chối cãi việc anh em họ Ngô tiếp xúc với Cộng Sản. Nếu thời điểm họ Ngô bắt đầu ve vãn Cộng Sản còn gây nhiều bàn cãi, đầu mối bằng xương, bằng thịt (Maneli, đại diện Poland trong Ủy Ban Quốc tế Kiểm soát Đình Chiến) xuất hiện tại ngay chính Dinh Gia Long ngày 2/9/1963. Ngô Đình Nhu cũng tuyên bố với viên chức tình báo Mỹ, và các Tướng miền Nam, nhiều lần, rằng ông ta từng tiếp xúc Việt Cộng và có triển vọng nói chuyện với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Theo Trần Văn Dĩnh, đích thân Tổng thống Diệm còn cho lệnh ông ta tiếp xúc đại diện cao cấp của Bắc Việt tại New Dehli vào trung tuần tháng 11/1963. Trong khi đó, từ tháng 3/1963, vợ chồng Ngô Đình Nhu bắt đầu mở chiến dịch chống Mỹ, và xa gần đòi Mỹ giảm bớt số cố vấn; bí mật nhờ Pháp môi giới nói chuyện với Hà Nội. Việc ve vãn Cộng Sản này, không những đi ngược lại chính sách của Mỹ khi quyết định yểm trợ ông Diệm “vô điều kiện” từ năm 1954-1955, mà còn vi phạm luật lệ đương thời và quốc sách chống Cộng của Việt Nam Cộng Hòa. Mưu mẹo “không ăn được thì đạp đổ” này dẫn đến cuộc đảo chính 1/11/1963 và cuộc hành quyết ba anh em họ Ngô của các Tướng tá và quân nhân Việt Nam Cộng Hòa theo đúng luật pháp và quốc sách của miền Nam.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Giữa nhà văn Nguyên Vũ và sử gia Chính Đạo, Vũ Ngự Chiêu, khác nhau như thế nào? Và mỗi bút hiệu có những tác phẩm nào?
Vũ Ngự Chiêu:
Dĩ nhiên là có sự khác biệt. Tại Việt Nam, tôi viết ký sự chiến trường và truyện ngắn, truyện dài với bút danh Nguyên Vũ, may mắn một thời có sách bán chạy hàng đầu, nhưng xứng đáng được gọi là “nhà văn” hay chưa thì xin để hậu thế phán xét. Viết “văn,” đã hẳn, được thoải mái khi vẫy phóng ngòi bút diễn đạt tư tưởng mình. Nghiên cứu và viết sử thì khác, hoàn toàn khác, có những nguyên tắc không thể vi phạm: Đó là phải có tài liệu khả tín, được phân tích và lượng giá với phương pháp sử học, và dưới ánh sáng lương tâm nghề nghiệp. Người học sử và viết sử phải biết tách rời khỏi sự yêu ghét hay quan điểm chính trị, tôn giáo của mình, tái dựng các dữ kiện một cách trung thực tối đa. “Cái tôi” phải giảm xuống mức tối thiểu.
Khi còn ở trong nước, những tác phẩm bán chạy nhất của tôi là Đời Pháo Thủ (bút ký), Những cái chết vô danh (tập truyện), Trở về từ cõi chết (truyện), Vòng Tay Lửa (trường thiên), Thềm Địa Ngục (truyện), Đêm hưu chiến (truyện), Sau bảy năm ở lính (bút ký), Đêm da vàng (trường thiên), v.. v... Tại hải ngoại, tôi đã in thêm các tập Xuân buồn thảm: Cuộc sụp đổ của Nam Việt Nam (bút ký), Trận chiến chưa tàn (truyện), Giặc Cờ Đỏ (trường thiên), cùng hai tâm bút Paris: Xuân 1996, và Ngàn năm soi mặt. Về nghiên cứu sử học, tôi đã in ba tác phẩm bằng Mỹ ngữ dưới tên thực, và mười biên khảo bằng Việt ngữ với bút danh Chính Đạo. Biên khảo duy nhất bằng Việt ngữ ký tên thực của tôi là bộ Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, gồm ba tập. Những tác phẩm ký tên Chính Đạo thường được viết cho độc giả không chuyên môn, dễ đọc hơn, không quá khô khan như các biên khảo đúng kỹ thuật chuyên nghiệp.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Anh vui lòng cho biết những đặc biệt trong tác phẩm Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng.
Vũ Ngự Chiêu:
Biên khảo sử học mới nhất này nhằm giải đáp một số vấn nạn, nếu không phải nghi án, lịch sử cận đại. Dựa trên tài liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Cộng, và Việt Nam cùng tài liệu nguyên bản khác thu thập suốt gần ba thập niên qua, tôi hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho việc tái dựng lại những trang lịch sử trung thực nhất, không ngả nghiêng tà vạy theo ý thức hệ, tôn giáo hay mục tiêu chính trị giai đoạn của các thế lực nào đó.
Dĩ nhiên, với người không thuộc giới nghiên cứu chuyên nghiệp, bất cứ tài liệu nào hợp với sở thích (như để suy tôn, nhớ ơn hay đả kích, nhục mạ một tác nhân nào, và kêu gọi toàn dân Việt Nam phải nhất tề đồng xướng họa với họ)ï, mới là “tài liệu thật và đúng.” Người nghiên cứu sử chuyên nghiệp thì khác. Công trình tái dựng lịch sử có những phương pháp, triết lý và lương tâm nghề nghiệp không thể sao lãng. Thí dụ như không ai được quyền hài lòng với một tài liệu do mình khám phá ra, hay dựa trên sự hiểu biết hạn hẹp của mình ở một góc nhỏ bé nào của lịch sử, hoặc niềm tin và ước muốn riêng tư, rồi nhắm mắt lại để kết luận, tổng quát hóa cho toàn cảnh (kiểu toàn dân ghi ơn Ngô Tổng thống). Người nghiên cứu cũng chỉ có mục đích duy nhất là tái dựng lịch sử bằng những tư liệu có trong tay, theo phương pháp sử học, dưới sự soi sáng của lương tâm nghề nghiệp.
Về Tập I của CTCCC, phải nói cả 5 đoản thiên đều có những đóng góp. Bài sơ lược tiểu sử Tổng thống Jean Baptiste Ngô Đình Diệm (1897-1963) là nỗ lực xuyên qua những màn hỏa mù tuyên truyền và tự quảng cáo bấy lâu, tái dựng cố Tổng thống Diệm và họ Ngô gần sát nhất với con người đích thực của họ. Tiếp đó, bài “Từ Điện Biên Phủ tới Geneva” tóm lượïc hai biến cố quân sự và chính trị nửa thế kỷ trước, năm 1954, đánh dấu một khúc quanh trọng đại của lịch sử, nhưng rất ít người, thưa vâng, rất ít người, tường tận. Tài liệu mới giải mật hoặc công bố cho phép tôi vững tin để tái dựng lại hai biến cố này một cách gần sát sự thực nhất. Độc giả sẽ có dịp tìm hiểu rõ ràng hơn tại sao bỗng đất nước chia đôi theo vĩ tuyến 17. Hay chế độ Quốc Gia Việt Nam của Thủ tướng Diệm có quyền gì hoặc có tiếng nói nào trong biến cố lịch sử này chăng? Bài “Cuộc Truất phế Bảo Đại,” trình bày cuộc thay ngôi đổi chủ ở miền Nam năm 1955 trên bối cảnh chính trị nội địa cũng như chiến lược của các cường quốc. Tôi không đi sâu vào những tiểu tiết như ai phản bội ai, nên hoặc không nên truất phế, mà chỉ tái dựng lại sự việc dưới ánh sáng sử quan và với các tài liệu hiện có trong tay (tương đối đã đầy đủ). Tôi nghĩ đây là cao điểm của chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng cũng đồng thời là nửa đường đi xuống, khiến cuộc chiến chống Cộng chỉ còn là cuộc tranh giành quyền lực giữa họ Ngô và các giáo sĩ Ki-tô đối lại với Đảng CS Việt Nam. Bài thứ tư, “Mùa Phật Đản đẫm máu (1963),” bổ túc cho chương đầu của tập Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, nhờ một số tài liệu mới giải mật, kể cả văn khố Liên Hiệp Quốc và Việt Nam (Kho Lưu Trữ Trung Ương II). Kết luận của tôi là cuộc tranh đấu của Phật Giáo năm 1963, ít nữa ở giai đoạn đầu, thuần có tính cách tôn giáo, và là phản ứng tự nhiên của phong trào duy tân Phật Giáo từ thập niên 1920. Họ Ngô, như Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần tiết lộ, vì trốn trách nhiệm, và rồi vì muốn phản ứng lại việc bổ nhiệm Đại sứ Henry Cabot Lodge, đã sử dụng bạo lực, đưa tới điều mà Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mỹ McGeorge Bundy gọi là “cơn điên cuồng tập thể của một gia đình cai trị,” và, tất nhiên, sự sụp đổ của chế độ. Bài thứ năm, “Phiến Cộng trong Dinh Gia Long,” đã tóm lược ở trên.
Đặc biệt, Cuộc thánh chiến chống Cộng có rất nhiều phụ bản tài liệu văn khố được công bố lần đầu trên thế giới. Những phụ bản này có lẽ là đóng góp quan trọng nhất của tôi. Với rừng sách trên thế giới, chẳng ai bận tâm đến một biên khảo không có tài liệu mới, chỉ nhai lại những nghiên cứu của người khác.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Sau gần 30 năm, Việt Nam được gọi là thống nhất về phương diện địa lý, Cộng Sản đã toàn trị trên đất nước, nhưng có thể vẫn còn một hố sâu chia cách giữa những người Việt ngay cả trong nước. Vẫn còn nhiều chống đối, bất mãn. Với tư cách là một nhà nghiên cứu Sử, xin anh cho biết ý kiến về vấn đề này và theo anh thì làm thế nào để Việt Nam tiến bộ, phát triển, giàu mạnh hơn?
Vũ Ngự Chiêu:
Tôi thật buồn khi thấy dù đã 29 năm qua, người Việt vẫn chưa thể tự hòa giải, san bằng những dị biệt để chung sức tái dựng lại một quê hương chậm tiến, dân trí chưa cao, nghèo khó, kém phát triển về kinh tế cũng như khoa học và kỹ thuật. Một trong những lý do là sự chia rẽ có sức tác hại của bệnh ung thư máu theo đường ranh ý thức hệ, tôn giáo, địa phương, chủng tộc, ưu quyền và danh lợi cho đoàn thể hoặc cá nhân. Nói cách khác, là chứng cận thị lịch sử. Để hóa giải được chứng bệnh trầm kha này, tôi vẫn nghĩ, cần nghiền ngẫm lại những trang lịch sử trung thực của đất nước và dân tộc Việt, rồi rút ra những bài học có thể ứng dụng cho tương lai. Người Việt vốn rất thông minh, hiếu học, cần mẫn, lại rộng lòng nhân từ. Chứng bệnh chia rẽ hiện nay là hậu quả nền giáo dục “ngu dân” từ bao thế kỷ qua của các giới chức cầm quyền hoặc các lãnh tụ tôn giáo, nôm na gọi là “dân ngu dễ dạy.”
Nguyễn Vĩnh Châu:
Qua những diễn biến chính trị trong thời gian qua tại Việt Nam, trong vùng Đông Nam Á cũng như thế giới và với kiến thức phong phú và sâu sắc về lịch sử, anh nhận định thế nào về vận mệnh của dân tộc, đất nước Việt Nam?
Vũ Ngự Chiêu:
Cám ơn lời khen tặng của anh Nguyễn Vĩnh Châu, nhưng kiến thức của tôi thực ra còn rất nông cạn. Hơn nữa, đã gần ba thập niên chưa trở lại Việt Nam, chỉ biết nước Việt và người Việt qua các tài liệu truyền thông và nghiên cứu của đồng nghiệp, tôi mất đi thứ trực giác của người Việt về tình hình đất nước mình.
Nhưng theo tôi, không hẳn quá lạc quan, Việt Nam có khả năng bước vào thế kỷ XXI với nhiều triển vọng tích cực. Nếu chính phủ Việt Nam có viễn kiến, biết tận dụng cơ may hiện tại của chính trườøng quốc tế, tìm cách cân bằng ảnh hưởng các cường quốc, sớm hòa đồng và hội nhập vào cộng đồng Đông Nam Á-Thái Bình Dương với đầy nghị lực, can đảm thiết lập cho bằng được một chế độ pháp trị, chân thành và nghiêm chỉnh thực thi những văn kiện quốc tế đã ký kết—như Bản Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên ngôn Nhân quyền—Việt Nam sẽ có sự yểm trợ của thế giới để vượt qua những khó khăn cứng đọng bấy lâu.
Một số học giả và chuyên viên về Việt Nam cho rằng người Việt chỉ biết bắt chước, sao chép lại những kinh nghiệm và túi khôn của nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc. Tôi không nghĩ vậy. Người Việt ta rất thông minh. Vì chưa có hoàn cảnh và điều kiện để tri nghiệm và thực thi một nền giáo dục khai phóng và thực nghiệm, các chính quyền xưa nay chưa đào tạo được những nhân tài và lãnh đạo cần thiết cho một nước Việt Nam tiến bộ và hùng cường. Nếu lãnh đạo Việt Nam thực tâm yêu nước, thương dân, con đường hiện đại hóa của Việt Nam sẽ chẳng thua kém gì Thái Lan hay Nhật Bản.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Cuối cùng, anh có thể cho biết dự định tương lai của anh là gì?
Vũ Ngự Chiêu:
Đã trên 60 tuổi rồi, tôi chẳng có nhiều dự định. Công việc đang làm và sẽ tiếp tục trong những năm tới là hoàn tất một bộ sử Việt Nam cận và hiện đại bằng Mỹ ngữ. Tôi cùng một số anh em cũng đang nỗ lực bắc nhịp cầu thông cảm giữa dân tộc Việt và dân tộc Mỹ, qua việc trao đổi những kiến thức dĩ vãng hầu xây dựng một nền tảng liên hệ mới, tốt đẹp hơn, dựa trên bình quyền và tình thân hữu.
Một trong những việc muốn thực hiện là nghiên cứu về khả năng cải cách luật pháp tại Việt Nam, hầu tiếp tay vào việc giúp Việt Nam sớm thiết lập được một nền pháp trị hiến định. Sự đóng góp của tôi cũng có thể từ một vị thế khác hơn một người học luật và học sử. Hy vọng trong một tương lai gần tôi sẽ biết rõ mình sẽ có con đường nào để đi. Chỉ biết thật chắc rằng tôi vẫn hằng tâm niệm lời thề cùng vong hồn tử sĩ hơn 30 năm trước: Đó là tha thiết và liên lũy phục vụ quyền lợi của quốc gia và dân tộc. Danh lợi cá nhân, với tôi, chỉ tựa đất thó, mảnh sành.
Nguyễn Vĩnh Châu:
Chân thành cảm ơn Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn rất đầy đủ và thích thú hôm nay.
NGUYỄN VĨNH CHÂU
|
|
|
|
Những Bài Liên Quan: |
|
|
LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của
các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật
báo Người Việt và Người Việt Online.
|
|
|
|
|
|
|
|
|