Nói chuyện với nhà báo Đỗ Ngọc Yến: thuở thiếu thời (2)
Sunday, February 01, 2004 Bookmark and Share
Đỗ Ngọc Yến thuở thiếu thời

Đỗ Tăng Bí ghi

(Tiếp theo và hết)
Nhiều tổ chức, đoàn thể, nhiều cơ quan truyền thông, nhiều trường đại học Mỹ và các sắc tộc thiểu số đã công nhận sự đóng góp của nhà báo, nhà hoạt động Đỗ Ngọc Yến, cho sự phát triển và hội nhập của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, và sự hoà hợp với các cộng đồng bạn. Độc giả đã được đọc và nghe nhiều chương trình phỏng vấn, bài báo viết về anh Đỗ Ngọc Yến. Riêng phần ghi dưới đây sẽ cho chúng ta thấy bàng bạc hình ảnh anh Yến hồi còn rất trẻ qua ký ức của ông về Sài Gòn những năm tháng 1950. Phần ghi này trích từ “chương trình” nói chuyện giữa Đỗ Ngọc Yến và bạn bè vào cuối năm 1999. Chúng tôi thường nêu ra với anh Yến các thắc mắc về những điều xẩy ra trong giai đoạn trước đây chúng tôi chưa hiểu rõ, và Anh trả lời như một đóng góp hiểu biết của Anh. Về đề tài “Thời nhỏ của anh Yến”, chúng tôi gồm Phạm Phú Minh, Hà Tường Cát và Đỗ Tăng Bí thay nhau nêu câu hỏi...

HTC : Đó là thời dưới chế độ của Tây. Còn hồi nhỏ anh cũng không có một thời gian nào sống dưới chế độ Việt Minh?

Đ.N.Y: Không. Nhưng ngược lại tôi lại hoàn toàn sống dưới chế độ mà bên kia gọi là “tạm chiếm.” Nhưng vì lý do đó tôi liên hệ (đến phía Việt Minh) nhiều nhất là khi vào học ở Petrus Ký, Petrus Ký là cái ổ! Khi tôi vào Petrus Ký thì vừa xảy ra vụ Trần Văn Ơn được hai năm, cao trào này đang từ từ đi lên. Trong trường Petrus Ký lúc này học sinh đi học là một chuyện nhưng mặt khác bị chi phối quan tâm đến một lối sống khác: họp hành, đọc sách báo này nọ... Nhà tôi lúc đó ở Bùi Thị Xuân, gần khu Bàn Cờ, Lê Văn Duyệt thì có hai bãi đất trống bán sách báo cũ — cũ đây là cách đó chừng 3, 4 năm thôi — các sách vào thời kỳ bắt đầu kháng chiến, mà đặc biệt là toàn là sách báo kháng chiến. Dần dần có sách báo của Thông Tin Hoa Kỳ. Những cuốn sách đầu tiên của Thông Tin Hoa Kỳ vào truyền bá về thế giới tự do. Tôi nhớ là báo Thế Giới Tự Do số hai là tôi đã được trông thấy, và tôi biết tòa soạn của Thế Giới Tự Do đặt ở lầu 4 tại phố như thế nào, mà khi đó tụi con nít chạy đến, tìm cách chạy lên thang máy vì hiếu kỳ.

Những cuốn sách đầu tiên được dịch ra là cuốn “Đêm hay ngày” của Koestler, cuốn “Tôi chọn tự do, chọn công lý” của mấy anh đi trốn ở Nga thật dày; trong đó cũng có những cuốn về văn hóa Mỹ như “Dũng sĩ da đỏ,” rồi “The Last of Mohican” của P. Coopper, lúc đầu là mấy cuốn đó. Rồi đến thời kỳ ông Diệm từ năm 1954 trở đi, mới dịch những loại sách văn học như cuốn “Kho tàng phiêu lưu” của Tom Sawyer, “Đôi bạn phiêu lưu”... Nhưng trước đó, những cuốn sách khác đều là sách chính trị hết, duy có vài cuốn về văn hóa như “Bác sĩ Aerosmith” của Sand Lewis có thể nói là sách nói hoàn toàn về Mỹ. Có một cuốn nổi tiếng “Tẩy Não Tại Trung Hoa Đỏ” (1949)...

Trong trường hợp của tôi, tôi khác với nhiều bạn vì tôi là một thằng bé lớn lên hoàn toàn trong thành phố, thành ra hai loại tranh đấu này tôi quen từ bé đến lớn: tranh đấu nội thành và công khai hợp pháp tranh đấu dưới một chế độ chính trị đặc biệt nào đó. Lúc đó mình đủ sức tò mò để nghĩ tại sao có sách như thế này, mà lại có thể phổ biến được, nhưng không hiểu tình hình chính trị ra sao? Sau này có một người thông thạo vấn đề đó cắt nghĩa mới hiểu. Lúc đó chính phủ Sài Gòn người ta để tình trạng như vậy để người Mỹ quan sát thấy là có tài liệu cộng sản khắp mọi nơi, hoạt động cộng sản tưng bừng khắp ngõ, để người ta sợ chế độ cộng sản mà ủng hộ viện trợ cho phe Tây ở Việt Nam.

HTC: Lúc đó anh đã đọc được những sách của ông Hoàng Văn Chí chưa? Cuốn mỏng, nhỏ cũng do Thông Tin Hoa Kỳ xuất bản?

Đ.N.Y: Sách Thông tin Hoa Kỳ tôi đã xem từ đầu, bời vì từ năm 49 hoạt động, thì mấy năm đầu chưa có loại sách đó đâu. Hai cuốn của Thông Tin Hoa Kỳ lúc đó nổi tiếng nhất là cuốn sách hình “Tám bậc vĩ nhân” (Hoa Kỳ) trong đó có từ ông Washington đến ông Jefferson rồi ông Headman rồi trong đó có một ông Tây đen là ông B. Washington (?), rồi một ông thi sĩ Whitman, rồi ông G. Nixon... Rồi đến báo Thế Giới Tự Do, số đầu tiên thì tôi không biết nhưng tôi biết số Thế Giới Tự Do 2. Còn nhà xuất bản của Thông Tin Hoa Kỳ lúc đó được đặt tên là Tân Á. Rồi báo Sức Mạnh và Tự Do, đây là báo người ta bỏ... nhà cầu. Tôi có đọc một đoạn trong tờ báo này về “Đêm hay Ngày” và bắt đầu hiểu, khi ấy tôi khoảng 11-12 tuổi, hiểu rằng cuốn này đặt đề tài là nếu anh chấp nhận thế này thì anh là cộng sản rồi, tức là ở đời quan trọng nhất là tự do với cơm áo, nếu anh muốn có cơm áo thì phải chấp nhận cộng sản, còn chấp nhận tự do thì phải cãi nhau với cộng sản.

Hồi đó sách vở cũng đủ sức để dạy cho mình những hiểu biết, lúc đó tôi chừng 9-10 tuổi.

P.P.M: Anh Yến vừa nói lúc nãy là ở trường Petrus Ký thời ấy là cái ổ. Tôi cũng hiểu được đó là cái chỗ mà ông Huỳnh Văn Tiễn, Lưu Hữu Phước... những vị mà sau này nổi tiếng về cách mạng, đó đúng là một chỗ quy tụ những trí thức yêu nước, những người ý thức về thân phận của dân tộc của đất nước để bắt đầu tranh đấu. Truyền thống đó đã tiếp tục cho đến vụ Trần Văn Ơn, đây cũng là một yếu tố nuôi dưỡng, mà sau này khi tôi vô học Petrus Ký tôi cũng thấy không khí đó ở trong lớp học sinh cũ của Petrus Ký. Khi chơi với các anh Yến, Lê Đường, Trần Đại Lộc là còn hào quang của những năm cuối 40 đầu 50, còn phảng phất tại Petrus Ký. Chuyện hoạt động bí mật thời đó thì coi như là những thần tượng.

Đ.N.Y: Nói tóm tắt là nó có những truyền thống, và hai là nó có nề nếp rồi. Nghĩa là lớp nào nó cũng có những người, hai ba loại: loại lăng xăng có liên hệ với những tên hoạt động lớn hơn chừng hai, ba tuổi, hai ba lớp hay là thân nhân ở ngoài. Trước đó thì nó không có gì hết nhưng sau bị ảnh hưởng của những anh kia. Trong trường hợp tôi, trước đó tôi không có liên hệ với ai hết, nhưng lúc đó tôi là xì-cút (Hướng đạo). Trong xì-cút có dạy nhiều thứ như dạy anh phải là một thành phần nào trong lớp của anh, nghĩa là trong lớp cần gì thì anh phải tự nguyện v.v... Thầy giáo ở Petrus Ký cũng có nhiều thầy hóc búa như ông Giám thị, nhưng cũng có một số thầy luôn luôn kích thích tinh thần yêu nước của học trò. Tôi còn nhớ năm học Đệ tứ, một thầy giáo dạy Sử Địa, mà người này đã từng ở tù thời Trần Văn Ơn. Ông này đã dạy Sử trong tinh thần kích thích học trò. Thầy giáo này mê báo Đời Mới của ông Hoàng Thương lắm. Năm học Đệ tứ tôi đã có gần đủ số báo Đời Mới này (có khoảng 154 số) — đến tháng 4 năm 1955 thì tờ báo đóng cửa — tôi chỉ đi ra nhặt ở đầu đường bán lẻ. Ngày tôi bị ra tòa rồi đi tù tôi mang hết bộ đó biếu cho người thầy này. Khi ra khỏi tù, cảnh sát cứ theo điều tra xem mình bị ảnh hưởng bởi những ai, ai nói cho mình điều này, ai nói cho mình thế kia.

PPM: Anh vừa nói cái vụ bị ra tòa và bị đi tù, anh nói sơ lại chi tiết này một chút.

Đ.N.Y: Có hai lần. Thời kỳ đi tù đầu là năm 1957, lúc đó tôi 16 tuổi. Ông Minh học xong Đệ tứ (ở Miền Trung) để vào Nam học Đệ Tam, còn tụi tôi học dưới này Đệ Ngũ, Đệ tứ lên. Trước đó thì vẫn tự động lên Đệ Tam nhưng đến năm đó vào khoảng tháng 3, một thông tư của Bộ Giáo Dục là, từ giờ trở đi ai là học sinh Đệ tứ muốn lên Đệ tam phải đỗ “bình thứ,” nếu không có thì phải thi vào. Tự nhiên là tương lai của đại đa số bị đe dọa. Từ chuyện này đã phát sinh ra phong trào Kiến nghị. Vào khoảng đầu năm 1957, cả lớp có 40 chục người Kiến nghị thì đứa nào cũng ký vào hết, nhưng phải có một học sinh đại diện, mà thường học sinh đại diện này phải là người học giỏi trong lớp. Như thế có 10 lớp Đệ tứ có 10 lá thư như vậy. Mỗi lá thư đính kèm 30, 40 chục chữ ký. Chẳng những trường Petrus Ký làm thế mà tất cả những trường công ở Sài Gòn đều làm, (và người đại diện ký kiến nghị cho cả trường Trưng Vương là bà Dung (vợ anh Cát bây giờ). Thế là cả Sài Gòn kể cả trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An đều ký, nhưng đến khi ra tòa thì không có những học sinh này. Chẳng những trường dưới miền Tây như Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho, trường Thoại Ngọc Hầu ở Phan Thanh Giảng cũng đều ký hết.

Khi kiến nghị thì phải đèo theo hai điều, là đèo theo học bổng, cải thiện về giáo dục. Phong trào này xảy ra đầu năm 57, đây là năm đầu tiên đấu tranh Chống Hiệp Thương. Trên nguyên tắc là năm 56 thì đòi Hiệp Thương nhưng hai bên lắc đầu nhau, đến 57 điều này xảy ra thì là con đẻ của chuyện kia thôi.

Các trường lớp được tổ chức họp tại Sài Gòn, rồi miền Nam mười mấy trường họp lại trong một nhà hóc bà tó tại Bàn Cờ. Tôi thì không đại diện lớp đại diện trường nhưng tôi lại là người tổ chức cuộc họp đó mà địa điểm lại không biết ai cho mượn (vì tất cả đều là bạn bè, người một tay). Tôi lại là người tổ chức đi lại, ăn uống và cuối cùng tôi là chủ tọa của buổi họp đó, bạn bè tôi thì được dặn để làm này nọ, còn tôi thì không ai dặn hết, chỉ vì tinh thần xì-cút mà có tinh thần tổ chức. Vì là chủ tọa cho nên sau đó tôi ra bưu điện gửi thư cho Tổng thống và Quốc Hội. Tất cả những thư từ lúc đó khi gởi cho hai cấp đó phải có số căn cước của mình, còn nếu gởi thư bảo đảm thì không thành vấn đề. Khi đưa căn cước là tôi thầm biết, “Me,ï lúc này là bắt đầu lãnh đủ rồi đấy nhá!” Nhưng đã lao theo thì phải tới luôn. Và dĩ nhiên là thơ không đời nào có câu trả lời. Thế là phải họp lại và xuống đường.

Cuộc xuống đường tại Nha Trung Tiểu học đường Lê Văn Duyệt trước cửa Tao Đàn, nơi trước là văn phòng Thủ tướng Ngô Văn Thinh ngày xưa treo cổ chết, mà tôi là đại diện của phe biểu tình 200, 300 trăm người với cờ xí. Tôi vào nói chuyện với ông Tổng Giám Đốc Trung Học Bùi Phượng Trì. Xong về nhà, đến ngày hôm sau thì mới thấy những bạn kia đến nói cảnh sát ở quận nhì quận nhất quận ba gọi tôi.

Mới đầu chỉ có 1, 2 thằng báo tôi còn không tin nhưng sau đó 7, 8 thằng báo tin thì biết đúng là nó đã lùa hết đám này ra rồi.

Thằng nào cũng báo tin cho biết là họ đang đi tìm xem vụ này có những ai. Đến lúc này tôi biết tình hình nguy đến nơi. Tôi dò hỏi thì biết cảnh sát đặc biệt miền Đông ở chỗ Mạc Đỉnh Chi, tôi đến trình diện, “Tôi đây không cần phải đi tìm.” Thế là cảnh sát giữ tôi ở đó.

Trong bản khai tại đó có những câu hỏi rằng: Những ý kiến này là của ai. Tôi biết vậy nên nhất định chứng minh rằng đó là ý kiến của chính anh em học sinh. Thế là tôi bị giam một thời gian sau đó thả ra. Trước khi thả ra tôi phải ký vào giấy cam kết phải báo cáo cho họ biết nếu có những ai tiếp xúc... Tôi ký xong về và suy nghĩ tìm cách báo cho mọi người biết là tôi đã bị theo dõi rồi các anh đừng liên lạc với tôi nữa. Nhưng tôi khám phá ra rằng tất cả những người chơi với tôi cũng đều đã được dặn như vậy hết rồi, nghĩa là không đứa nào liên lạc với đứa nào nữa. Thì rồi lại yên.

Trong năm Đệ tam đó, tôi đang hoạt động tưng bừng thì tự nhiên hoàn toàn bị cô lập. Sau đó vài tháng thì cũng có người đến liên lạc nhưng không phải là chuyện học sinh nữa mà lúc đó là họ liên lạc, mời tôi đi họp trong Tổng Liên đoàn Lao động, lập một nghiệp đoàn Văn Nghệ Sĩ, bây giờ là đấu tranh văn nghệ từ những rạp hát, cải lương, báo chí v.v...

PPM: Nghiệp đoàn văn nghệ sĩ? Lúc đó anh đã là văn nghệ sĩ, đã viết lách gì chưa?

Đ.N.Y: Tôi đâu có viết lách gì, nhưng đại khái mình là dân hoạt động. Rủ là tôi đi. Vô họp đây thì bàn bên cạnh là bàn công an. Tụi công an ngồi đó 24/24 để ghi lại tất cả những chuyện đó vì là đấu tranh công khai mà. Tôi lại nghĩ thầm, “đây lại là cái rắc rối nữa đây. Nhưng kệ, làm thì cứ làm.” Lúc này tôi cũng đã bắt đầu chơi với đám văn nghệ sĩ rồi nhưng cũng chỉ là tép riu thôi, nhưng vấn đề là hệ thống tổ chức tức là anh đã bị lộ phía học sinh rồi thì họ sẽ (đưa anh) vào sâu sang hoạt động khác, vì đây là một hệ thống có tổ chức mà. Sau đó khó khăn thì họ dặn tôi đừng liên lạc với Liên đoàn Lao động nữa, muốn liên lạc gì thì đi lên trên Hóc Môn, đi vào các vườn họp. Khi đi họp lên đường Chi Lăng, từ Chí Nhuận từ nhà ông Phạm Duy đi ngược về Bà Chiểu, cứ buổi chiều từ 4, 5 giờ muốn gặp thì đứng chờ ở đó có người đạp xe đạp ngang qua. Rồi, như thế các bạn đã biết hồi nhỏ của tôi thế nào rồi đấy.

Những Bài Liên Quan:
NGUOI VIET Online (www.nguoi-viet.com)
Tìm kiếm bài :
Nguoi-Viet

Promote Your Page Too
Tin Khác