Nguoi-Viet

Promote Your Page Too
 
Tản mạn với Nhà Văn Thảo Trường - “Những Miểng Vụn của tiểu thuyết” hay những miểng vụn của số phận!
Tuesday, August 26, 2008 Bookmark and Share
medium_NVHN-Thao Truong - 01.jpg

Nhà văn Thảo Trường. (Hình: Vũ Ðình Trọng/Người Việt)

medium_NVHN-Thao Truong - 02b.jpg

Bìa tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” của nhà văn Thảo Trường. Thiết kế của họa sĩ Nguyễn Ðồng.

Suy ngẫm cùng nhà văn Thảo Trường

“...Cho đến năm 1975, tội lớn nhất của cộng sản là thắng trận, và chiến công lớn nhất của cộng hòa là thua trận...”

“...Phải luôn nhớ rằng hãy quên đi tất cả...”

Vũ Ðình Trọng/Người Việt

“Tôi đã trải qua một thời chiến, tôi cũng đã trải qua một thời tù và hiện tôi đang phải trải qua một thời loạn!” Nhà văn Thảo Trường nói như thế khi nhìn lại toàn bộ chặng đường đời mà ông đã trải nghiệm.

Cầm bút từ năm 1958, Thảo Trường nổi lên như một nhà văn dấn thân. Từ tập truyện đầu tay “Thử Lửa” (Tự Do xuất bản tại Việt Nam năm 1962, Việt Báo tái bản tại Hoa Kỳ năm 2007) đến tập truyện mới nhất do Người Việt xuất bản năm 2008, “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” cho người đọc một cái nhìn bao quát về cả một xã hội Việt Nam, về thân phận con người Việt Nam trước và sau cuộc chiến - bi đát và tủi nhục.

Trong một cuộc trò chuyện dành cho phóng viên Nhật Báo Người Việt, ông cho biết:

“Từ bao lâu nay tôi nghĩ, cuộc chiến tranh Việt Nam không giống như bao nhiêu cuộc chiến tranh khác. Ðó là một cuộc chiến giữa hai ý thức hệ quốc gia-cộng sản gặp nhau, đụng độ nhau dữ dội nhất, hơn Cao Ly, Ðức hay Tàu. Cuộc chiến mà chúng ta đã trải qua kinh hoàng lắm, huynh đệ tương tàn, thật thảm khốc.”

“Như bên Ðức dù có chia hai phe quốc gia, cộng sản nhưng khi cuộc chiến ngã ngũ rồi thì mọi chuyện đều êm. Mình thì khác, bên thắng trận trả thù bên thua, nên chiến tranh giữa hai bên thực sự chưa chấm dứt. Tôi muốn viết lại tất cả những cái đó.”

Ðọc những tác phẩm ông viết trước năm 1975 như “Người đàn bà mang thai trên kinh Ðồng Tháp”, “Tầm xa cũ bắn hiệu quả”, “Viên đạn bắn vào nhà Thục”,... người đọc dễ dàng nhận ra trong mỗi số phận riêng của từng nhân vật, bức tranh toàn xã hội mà trong đó cuộc chiến giữa hai ý thức hệ được vẽ lại theo một gam màu xám, đau buốt, nhức nhối nhưng rất chân thật.

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ông bị bắt trong khi tìm đường chạy xuống Cần Thơ để tiếp tục chiến đấu. Ông kể:

“Những giây phút đầu tiên bị bắt làm tù binh, tôi nghĩ ‘Thôi đời mình tiêu rồi!’ Tôi nghĩ, thôi cũng đành thả nổi cuộc đời. Khoảng hơn một tháng sau, họ đưa chúng tôi xuống Ðồng Tháp Mười, nhập chung vào đoàn sĩ quan QL.VNCH ra trình diện. Tôi trở lại đúng cái nơi mà xưa tôi từng đi hành quân và viết tiểu thuyết ‘Người đàn bà trên kinh Ðồng Tháp’. Rồi một đêm, chúng tôi bị đưa xuống tàu đi ra Bắc. Ở ngoài Bắc 8 năm, sau đó tôi được đưa về Rừng Lá, Suối Lạnh, Hàm Tân cho đến năm 1992 thì được thả.”

Ðiều an ủi duy nhất của ông lúc bị bắt là vợ con ông đã sang được Hoa Kỳ trước khi cộng sản cưỡng chiếm miền Nam. “Tôi nghĩ mình không lo được cho họ nhưng dù sao họ cũng có một chỗ an toàn, tự lo cho họ được.”

“Năm 1975 tôi nặng gần 70kg, sau hai năm ở tù, tôi chỉ còn 40kg! Người chỉ còn da bọc xương, mà không chết. Tôi gọi đó là ‘Cuộc Sống Sót’. Mà mình đói như vậy theo tôi là do cái kế, một chương trình, thủ đoạn, chính sách của họ nhằm tiêu diệt sĩ quan VNCH. Tôi nhớ hồi Liên Xô tiêu diệt sĩ quan Ba Lan, họ bắn hay chôn sống. Cái hận của người Ba Lan đối với Liên Sô vẫn còn đó. Nhưng theo tôi Liên Xô vẫn còn nhân đạo hơn CSVN. Họ không thủ tiêu, không chôn sống ngay mà phát cho mỗi người cựu thù một cái cuốc. Ngày nào cũng phải vào rừng, phá rừng hay trồng khoai, sắn. Về trại thì lại phải nghe giảng những điều “đạo đức”. Kinh hoàng lắm. Chung quanh thì anh em cứ chết vì bệnh tật. Họ bệnh chỉ vì đói, kiệt lực mà chết. Chuyện đó không thể nào quên được.”

“Chính sách Stalin dùng ở Tây Bá Lợi Á được chính quyền CSVN áp dụng. Nhiều người chúng tôi đã chết vì chính sách dã man đó, tôi may mắn thoát được.”

“Khi tôi ý thức được rằng sự thật là như vậy thì tôi cố gắng làm cho đầu óc mình tỉnh táo để quan sát, ghi nhận tất cả hình ảnh chung quanh để làm chất liệu. Không có giấy thì tôi dùng trí nhớ, gần mười bảy năm trong tù tôi ‘chụp hình’ bằng cách đó thôi. Có người hỏi rằng có phải tôi may mắn khi được ở tù hay không để có những chất liệu sống cho những trang thiểu thuyết của mình? Làm sao có thể coi đó là may mắn được, tôi là nhà văn nên chỉ muốn ‘bắt’ cái hiện thực cuộc sống về làm của riêng thôi. Nếu nói là ‘may mắn’ thì cái may mắn duy nhất mà tôi có được là tôi còn sống. Cái may mắn nữa là tôi đều có mặt trong những giây phút cuối của cuộc chiến và giây phút cuối của cuộc sống tù đày.”

Năm 1992, ông là một trong hơn một trăm người cuối cùng được thả. Năm sau ông sang Hoa Kỳ đoàn tụ với gia đình tại Quận Cam, California.

“Trước năm 1975, tôi viết cũng chỉ muốn tác phẩm của mình để đời. Mười bảy năm sau năm 1975 không viết vì bị chế độ chính trị khống chế. Nay thay đổi hoàn cảnh có thể viết được thì lại tiếp tục. Không có gì thay đổi cả. Ðiều này có nghĩa là chế độ chính trị không bắt tôi im được mãi, họ chỉ cản trở tôi được một giai đoạn thôi.”

Thế là những gì ông “chụp” được trong suốt mười bảy năm trong tù được phơi bày trong từng câu chuyện. Người đọc có thể thấy sự khác biệt về văn phong của ông. Vẫn là một giọng văn đầy sức lôi cuốn, những miểng vụn của hàng trăm số phận được ông cắt ghép lại thành những câu chuyện chung cho một xã hội mới suy đồi. Ông tâm sự:

“Mười mấy năm nay mà chỉ viết được như thế này thì cũng hơi ít, bởi tôi làm việc rất chậm. Sửa tới sửa lui nhiều lần nên nhiều khi một năm mới có được một tác phẩm.”

“Tôi viết một cách rất bình thản. Sở dĩ tôi được như vậy cũng nhờ nhà tôi và các con tôi. Sang đây tôi không phải lo gì cả, vì họ đã ổn định cuộc sống trong thời gian tôi ở tù rồi. Tôi không phải đi làm như nhiều anh em H.O. khác để nuôi vợ nuôi con. Tất cả mọi thứ tôi được hưởng khi sang bên này đều do họ lo cho tôi, từ ăn uống, nhà cửa, xe cộ, cho đến máy computer để tôi làm việc. Trời thương ban cho tôi một gia đình như vậy. Sở dĩ được như vậy cũng là trước đây tôi cũng là người yêu thương và lo lắng cho vợ con tôi hết lòng.”

“Hai năm nay nhà tôi bệnh nên tôi phải chăm sóc cho bà ấy và tiếp tục làm việc. Thỉnh thoảng tôi đi một số tiểu bang khác, hay đi Âu Châu để làm việc, nghỉ ngơi, ở nhà đã có các con tôi lo cho mẹ chúng nó.”

<<BOLD>>

“Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết”

<<Hết BOLD>>

“Với tuyển tập này, tôi rất hài lòng,” nhà văn Thảo Trường chia sẻ suy nghĩ của ông với phóng viên Nhật Báo Người Việt trước ngày phát hành tuyển tập trên. Ông cho biết thêm:

“Báo Người Việt và Việt Báo đều là chỗ thâm tình với tôi. Ông Trần Dạ Từ quen tôi hồi còn ở Việt Nam, ở tù chung. Qua đây tôi được ông Trần Dạ Từ giúp tái bản tập truyện đầu tay 'Thử Lửa'. Còn ông Ðỗ Ngọc Yến thì tôi qua đây tôi mới quen. Ngày tôi sang Mỹ ông ấy đi đón tôi rồi nói tôi cứ tới báo Người Việt ngồi làm việc, muốn làm gì thì làm. Tôi chưa bao giờ ngồi ở Người Việt và Việt Báo ngày nào cả vì tôi sợ nếu tôi dấn thân vào công việc làm báo tôi sẽ không còn thì giờ để tiếp tục suy nghĩ, thực hiện những tác phẩm của mình.”

“Hồi trước tôi làm báo vì phải nuôi một vợ, bảy con, bây giờ thì họ lo cho tôi. Tôi không bị gánh nặng về kinh tế, thế thì tôi làm báo để làm gì?”

“Chúng tôi (tôi, ông Ðỗ Ngọc Yến và ông Trần Dạ Từ) đối xử với nhau không như thân tình 'mày, tao', cũng không kiểu 'chén chú, chén anh' mà là như những người có ý thức với nhau về mọi vấn đề. Tình cảm chúng tôi rõ ràng như thế.”

Nếu anh hỏi tác phẩm nào cho là “để đời” được thì tôi cũng không biết trả lời như thế nào? Tập truyện này được gom góp từ những tác phẩm tâm đắc của tôi, trong đó bạn bè tôi cũng nhiều ý lắm, người thích truyện này, người thích truyện kia, còn chuyện có thể 'để đời' hay không lại là một chuyện khác. Tôi muốn một câu chuyện chỉ có vài chục trang nhưng mô tả được xã hội Việt Nam, cuộc chiến Việt Nam. Tôi không biết là có nhét được không nhưng cố gắng tìm cách xây dựng một câu chuyện như thế. Ông Trần Dạ Từ thì cho rằng truyện ‘Từ dưới đỉnh đồi nhìn lên chân núi’ tôi đã làm được việc đó rồi.”

“Mây trôi” cũng là một truyện đáng chú ý trong tập truyện này, đây là một câu chuyện được sắp đặt theo ý tác giả bằng một số nhân vật có thật.

“Những câu chuyện có thật vì được lấy chất liệu từ chính cuộc sống của tôi, tôi đã gặp những nhân vật như thế và tôi đem vào truyện của mình. Thí dụ như bà 'Nữ Hoàng Trầm Hương' trong 'Mây trôi' là một nhân vật tôi đã gặp hồi còn trong tù, hay người thương binh cộng sản, người vợ góa của người lính cộng sản. Vì thế tôi có nói với ông Nguyễn Mạnh Trinh là trong truyện của tôi sự thật chiếm 99%, và hư cấu cũng chiếm 99% là như thế. Có chỉ là một cách trả lời thôi, vì sự thật là hư cấu qua cái nhào nặn của nhà văn. Mình không đưa ra sự thật như một tấm ảnh mà muốn diễn tả bằng văn chương, thành ra là hư cấu.”

“Có một điều thích thú với tôi là họa sĩ Nguyễn Ðồng và Nguyễn Thị Hợp đã giúp tôi làm cuốn này. Tôi và anh Ðồng biết nhau từ bên Việt Nam hồi chúng tôi còn trẻ. Ðiều đáng tiếc là ông Yến đã mất rồi nên không thấy được việc làm này của tôi.”

“Tôi rất bằng lòng những việc tôi đã làm, còn việc đánh giá như thế nào là do độc giả. Tôi không dám nói cái này, cái kia được hay không. Một số những truyện mà tôi hài lòng đều được in trong tập truyện này.”

Có thể nói tập truyện “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” là những miểng vụn của hàng trăm số phận mà theo nhà văn Thảo Trường “nếu như thử gom những miểng vỡ trong các tập truyện in ở hải ngoại những năm qua, chắp nối, sắp xếp, hàn gắn chúng lại với nhau, thêm bớt vài vài dấu chấm phết, đặt tên nhân vật chưa có tên, tùy theo cách thức của mỗi người đọc, may ra, biết đâu nó sẽ hóa thành những tiểu thuyết theo ý từng người.” (Miểng - Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết)

Những Bài Liên Quan:
NGUOI VIET Online (www.nguoi-viet.com)
Tìm kiếm bài :
ĐỌC NHIỀU NHẤT