Ý kiến của những người từng đọc tác phẩm của Thảo Trường
Trong cái nhìn của tôi, (thì) Thảo Trường là một, trong vài nhà văn nhân bản nhất, của hai mươi năm văn học miền Nam (và, Việt Nam.)
Trong văn chương, ông không dành phần “hoành tráng” cho những ồn ào súng đạn. Xe tăng. Phi pháo... (Mà,) là những những vùng nám. Ðen. Vắng. Im. Nơi bản năng con người, được quyền cất tiếng. Nơi đói. Khát. Thèm muốn... (dù có rụt rè, run rẩy,) cuối cùng, vẫn được nhà văn trân trọng đặt ngang hàng với những ý niệm, lý tưởng to lớn... trừu tượng. Ðiển hình, truyện ngắn “Người Ðàn Bà Mang Thai Trên Kinh Ðồng Tháp.”
Chính vì thế, vẫn theo tôi, nó không thể nhân bản hơn. Nói cách khác, đó là tiếng kêu thương chấp chới của khoảng lặng giữa nước mắt và, niềm đau. Tiếng cười và, nỗi nhục.
Buồn thay, tiếng kêu thương kia, vẫn còn chấp chới trên thân phận, đất nước Việt Nam, hôm nay. (Nhà thơ Du Tử Lê, 2008)
Tôi đã đọc Thảo Trường từ những năm 60 khi tôi còn theo học ban Triết ở Ðà Lạt. Hai tập truyện “Thử Lửa,” và “Người Ðàn Bà Mang Thai Trên Kinh Ðồng Tháp” của anh hồi đó đã gây nơi tôi một ấn tượng mạnh mẽ: lôi cuốn và đau nhức! Có thể nói qua những trang viết của Thảo Trường người ta thấy số phận những nhân vật của anh luôn ở vào thế xót xa và nghiệt ngã. 17 năm sau Tháng Tư 1975, nằm trong nhà tù cộng sản, Thảo Trường đã nhìn thấy thêm, đã sờ chạm được thêm những nhân vật khác, những số phận khác trong những hoàn cảnh khốn đốn khác. Nhà văn của chúng ta bằng sự nhạy bén của trái tim đã tích lũy, đã ghi nhận, đã viết trong trí nhớ... cho đến ngày được ra khỏi nhà tù, đến được nước Mỹ, một đất nước “không chiến tranh” như anh nói, “nhưng thế giới đang ở một thời loạn, nơi này có kẻ nhận là Chúa, nơi khác có bà xưng mình là Phật, con giết cha mẹ, mẹ trấn nước con thơ, vợ chồng giết hại lẫn nhau...” Tôi đã được đọc tiếp những trang viết mới của anh, những trang viết vẫn lôi cuốn và đau nhức. Qua “Ðá Mục” tôi đã nhìn thấy những số phận khác, những nhân vật mà thịt da còn đầy thương tích của quá khứ xám xịt màu tro than... Tôi nhớ câu chuyện bộ cung tên của nhân vật ông lão trong “Ðá Mục.” Bộ cung tên của một bà bạn gái mua ở Big 5 tặng ông lão nhân ngày ông thoát khỏi chế độ ngục tù, “Ðể anh kỷ niệm một cuộc chiến đã đi vào dĩ vãng” bà ấy nói thế. Ông gắn “kỷ vật” này trên tường, nhưng bà lão [của ông] nói: “Cuộc chiến dĩ vãng. Người tình dĩ vãng. Nhưng cung tên thì sờ sờ ra đó.” Và sau cùng cung tên cũng có số phận của nó. Trên tường chỉ còn cây cung và túi tên không còn nữa. Ðọc những trang viết mới của Thảo Trường, tôi muốn ghi lại nhận xét của một độc giả người Mỹ, bạn của anh: “Ngày xưa anh sản xuất rượu bia, ngày nay anh nấu rượu mạnh.” Tôi nghĩ nhà văn Thảo Trưởng đang làm loại rượu như thế trên những trang viết mới của anh. (Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, 2008)
Nếu quý vị đã ở tù Cộng Sản, đã thấy những hành động, đã nghe những ngôn ngữ trong nhà tù thì đâylà những trang sách gần gũi nhất. Nếu quý vị ở ngoài vòng cương tỏa, đứng bên lề cuộc chiến, thì lại càng nên đọc. Cũng là loại tù đó chúng ta đã đọc Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên... nhưng chỉ ở Thảo Trường chúng ta mới nhận thấy những nghịch lý, những xót xa, những nét khôi hài của cái gọi là tù “cải tạo.” Phải chăng sự cách biệt giữa “tù trong” và “tù ngoài” dưới chế độ CS không khác nhau cho lắm, nhưng dưới con mắt của một người tù từ miền Nam được áp giải ra Bắc thì đây là một vở bi hài kịch gây những ấn tượng rất khó phai mờ. (Nhà văn Huy Phương, 2008)
Cảm tưởng lớn nhất của tôi khi đọc Thảo Trường là những truyện anh viết đều “sống” và “chân thành.” Chúng nói lên được phần nào, ý nghĩ của chúng ta trong cái nếp sống hàng ngày giao tranh với những vấn đề của hoàn cảnh ở đây hôm nay. (...)Thảo Trường có lối văn y như những câu nói hằng ngày, câu nói đi liền với một cử chỉ, thẳng thắn, gãy gọn, cộc lốc. Lối văn đó, đơn giản mà lại rất khó. (Giáo sư Nguyễn Văn Trung, 1960, trích trong tập truyện “Thử Lửa”)
Thảo Trường không làm dáng văn chương nhưng ngôn ngữ của ông đè nặng lương tri, tố cáo với nhân loại những bạo lực tàn độc, tà đạo và những “chân lý” giả hình. Ông tố cáo rằng con người đang bị vong thân hóa, đang bị biến chất, dù ở bất cứ đâu! Thêm một tiếng chuông báo tử đã được gióng lên, nhưng đã có ai đó nghe thấy chưa? (Nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh, 2006, trích trong tiểu thuyết “Thềm Ðá Xanh Rêu”)
Mười bảy năm tù đày, cái chết cứ rập rình. Hai mươi năm ngưng viết, những dòng văn như bị cát bồi, ngưng chảy. Tuy nhiên, không điều gì có thể cản ngăn một trái tim còn rung động với đất trời, như ông. Vì thế, sẽ không ngạc nhiên, nếu ông còn viết nhiều hơn nữa. Và nếu ông giữ một nhịp độ, một sự chọn lựa hình ảnh kỹ càng và một tấm lòng như ở “Ðá Mục,” thì không những “Tầm Xa Cũ Bắn Hiệu Quả,” mà tầm xa mới còn bắn hiệu quả hơn. (Nhà phê bình Ðoàn Nhã Văn, 2001, trích trong tập truyện “Miểng”)
Lần đọc “Những Ngày Nghỉ Hè Ở Sa Mạc” [sau này in trong tác phẩm “Ðá Mục”] đăng ở một tạp chí tôi thích quá. Tếu nhưng thâm trầm. Rồi “Tầm Xa Cũ Bắn Hiệu Quả”... cứ như con đinh ốc chầm chậm xoáy vào da thịt mình, đau nhưng không đọc hết truyện không được... (Nhà thơ Nguyễn Nam An/An Phú Vang, 2008)
Hoàng Mai Ðạt/Người Việt
Trong 17 năm bị bắt làm tù binh tại các trại giam của cộng sản, nhà văn Thảo Trường “luôn luôn nghiền ngẫm trong lòng một quyển trường thiên tiểu thuyết dự định sẽ viết khi ra khỏi nơi chốn đó.” Ông tâm sự như vậy trong bài tạp ghi “Miểng.”
Nhà văn 70 tuổi này viết tiếp, “Bây giờ nhìn lại tôi có cảm giác 'trường thiên tiểu thuyết' của tôi đã nổ tung ra, giống như tôi đã đánh vỡ pho tượng khổ nạn cưng chiều bấy lâu của tôi thành nhiều mảnh vụn. Những chất liệu dự tính dùng trong truyện dài đã đem sử dụng vào các truyện ngắn gần hết. Ðời của tôi đã gặp nhiều thất bại, đây có lẽ là một thất bại lớn.”
Nếu nhìn như vậy, tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” quả là “một thất bại lớn” của nhà văn Thảo Trường, và cũng nhờ vậy, chúng ta được đọc “nhiều mảng vụn” lấp lánh với những chất liệu tinh sáng của một kiếp người dàn trải trong gần nửa thế kỷ viết lách mà có lúc bị gián đoạn bởi hoàn cảnh tù đày.
“Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” là công lao lượm nhặt những mảnh vụn rơi rớt của nhà văn Thảo Trường để ráp lại thành một pho tiểu thuyết gồm 25 truyện ngắn và truyện vừa, được sáng tác trong thời gian hơn 40 năm từ giai đoạn ông đi lính ở Việt Nam cho đến những ngày sống cuộc đời của kẻ lưu vong ở Hoa Kỳ. Tuyển tập gồm một số truyện được tuyển chọn từ các tác phẩm trước, cộng thêm một số truyện mới viết sau này.
Mặc dù những truyện ngắn và truyện vừa trong “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” mang các tựa đề khác nhau, từ bài viết sớm nhất vào năm 1964 đến bài mới nhất năm 2007, nội dung của từng truyện được nối liền với một sợi chỉ được tác giả luồn xỏ để siết các truyện vào với nhau. Sợi chỉ đó chính là sự suy tư, nỗi niềm khắc khoải ray rứt của nhà văn Thảo Trường trước những biến cố thời cuộc gieo vào đời ông.
Cuộc đời của tác giả là cuộc đời của một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa từng trải qua những năm thảm khốc nhất của cuộc chiến Việt Nam, của một thân phận bị đày đọa tàn nhẫn trong các trại cải tạo của chế độ cộng sản, và của một người lạc lõng trong cuộc sống tha hương ở cuối đời.
Ðọc tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” từ trang đầu đến trang cuối, cho dù lối hành văn có lúc cô đọng, có lúc rườm rà, có khi hừng hực trong cơn uất ức trước cảnh bất công của thời cuộc, có khi nôn nao với một nụ cười hóm hỉnh trước cảnh ái ân của một cặp trẻ, đôi lần nhẹ nhàng bóng bẩy, đôi lúc thô thiển như trong mẫu đối thoại thường ngày, người đọc có cảm tưởng những câu chuyện và các nhân vật đều có liên quan với nhau như trong một bộ tiểu thuyết dài.
Nếu nhìn như vậy, người đọc nhận thấy đó là thành công của nhà văn Thảo Trường trong tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết.” Ông đã cất công đi lượm nhặt những mảnh vụn trong đời sống riêng mà ông cho là bị “nổ tung” để biến nó thành một tác phẩm văn chương.
Tác phẩm của nhà văn Thảo Trường chất đầy những suy tư miên man, nặng trĩu bắt nguồn từ xung đột chiến tranh. Cuộc chiến Việt Nam và hậu quả của nó đã ám ảnh nhà văn Thảo Trường, bám theo ông trên từng trang sách, và bao trùm bầu không khí trong truyện cho dù truyện được dựng lên trong một bối cảnh thanh bình ở hải ngoại thời hậu chiến. Tác giả xem chiến tranh như một phần lớn trong định mệnh của ông.
17 năm lính, 17 năm tù
“Mười bảy năm lính, mười bảy năm tù; thời gian này như được an bài để xóa bỏ thời gian kia,” ông từng viết trong lời mở dành cho tác phẩm đầu tiên ở hải ngoại “Tiếng Thì Thầm Trong Bụi Tre Gai.”
Thời gian tù cải tạo 17 năm được nhà văn Thảo Trường nhắc đến nhiều lần trong tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” dày gần 550 trang. Giai đoạn tù đày là nỗi ám ảnh khắc nghiệt cho tác giả mà cũng là một trong các chi tiết tạo sự liền lạc giữa các truyện do tác giả cố ý hoặc vô tình gợi nhắc.
Trong truyện ngắn “Côn Trùng” viết năm 1993, tức là lúc ông mới qua Mỹ, trên trang 36 của tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết,” nhà văn Thảo Trường viết, “Sau gần mười bảy năm sống lưu đày trong rừng mới về thành phố, em muốn tôi kể chuyện em nghe, thì tôi kể đó. Trong thư em nói rằng mười bảy năm rừng rú và một năm đô thị chắc là có nhiều chuyện hay ho viết cho em đọc.”
Ðến truyện cuối cùng của tuyển tập được viết trong năm 2007, “Những Cánh Hoa Trắng Trên Cây Khô,” trang 541, ông nhắc lại con số định mệnh, “Em áp giải tôi từ Tây sang Ðông, từ Ðông sang Tây, từ Nam ra Bắc, từ nơi này tới chỗ khác, suốt mười bảy năm ròng qua mười tám trại tù.”
Chính ông cũng nói trong một cuộc phỏng vấn do nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh thực hiện được đăng lại trong tuyển tập, “Tôi đã tham dự cuộc chiến tranh Việt Nam suốt 17 năm, làm sĩ quan pháo binh chán rồi chuyển sang làm sĩ quan nghiên cứu... Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, tôi bị bắt làm tù binh. Tôi bị cộng sản giam giữ gần mười bảy năm, trải qua 18 nơi giam giữ từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vô Nam.” (Trang 306)
Truyện ngắn trước 1975
Trước khi phải gồng 17 năm tù bị áp đặt lên cổ, nhà văn Thảo Trường được xem là một trong những cây bút trẻ dấn thân tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Những cây bút này xông xáo, dám viết lên sự thật trước hậu quả của chiến tranh trên đất nước Việt Nam. Mặc dù nội dung của tác phẩm có thể thô bạo, sống sượng, họ viết với tâm niệm nhân bản, đặt tình người bên trên mọi tình huống.
Trong “Người Ðàn Bà Mang Thai Trên Kinh Ðồng Tháp,” truyện ngắn đầu tiên trong tuyển tập và được viết năm 1964, Thảo Trường nói lên thân phận bi thảm của dân làng vô tội, phải trả giá cho sự sống còn giữa hai lằn đạn từ phía Việt Cộng và phía Quốc Gia trong những vùng xôi đậu, hay nói sâu xa hơn là giữa hai ý thức hệ Cộng Sản và Tư Bản. Nhân vật chị Tư có chồng tập kết ra Miền Bắc, sống một mình ở thôn quê tại Miền Nam.
“Thư anh Tư khuyên chị nên hăng hái đi công tác binh vận theo chỉ dẫn của các đồng chí cán bộ. Chị Tư khăn gói lên chợ quận ở cùng với một cán bộ giả dạng làm em trai. Chị mở một quán cháo và từ cái quán cháo đó chị quen với một anh binh sĩ truyền tin trong quận. Chú em trai của chị cũng trở thành một anh dân vệ trong quận. Thời gian này chị Tư quên đi mất hình ảnh anh Tư, vì chị Tư được sống lại những cảm giác khoái lạc đến hỗn độn với anh binh sĩ truyền tin và ‘chú’ em trai cán bộ. (...)Cuối cùng, đến một hôm, cái thai trong bụng chị máy động. Cái máy động thứ nhất làm chị bàng hoàng. Chị tự hỏi ‘nó’ là của ai? Của anh cán bộ hay anh binh sĩ truyền tin.” (Trang 11)
Gần đến ngày sanh, chị Tư suýt bị thiệt mạng trong một cuộc hành quân của quân đội Miền Nam. Nhờ sự săn sóc của một sĩ quan, đứa con trai sanh thiếu tháng của chị Tư được khỏe mạnh. Viên sĩ quan này cũng cho đứa bé mang họ của ông lúc chị Tư mang con đến hội đồng xã để làm giấy khai sinh.
“Hỏi cha nó đâu chị Tư lắc đầu trả lời không có, nên người sĩ quan bèn khai cho nó mang họ của ông ta. Lúc trở về căn nhà chị Tư, người sĩ quan lại sờ trán chị Tư, sờ trán đứa nhỏ và nói với mẹ con chị rằng có lẽ anh ta cũng đã có nhiều con nhưng không biết chúng ở đâu và chưa hề khai sinh cho đứa nào. Bèn khai sinh cho đứa nhỏ này mang dòng họ mình.” (Trang 13)
Trong truyện ngắn kế tiếp, “Khẩu Hiệu” viết năm 1993, tác giả trở lại câu chuyện của “Người Ðàn Bà Mang Thai Trên Kinh Ðồng Tháp,” kể thêm về viên sĩ quan tốt bụng năm xưa và cho biết số phận của ông trong trại cải tạo của cộng sản.
“Nhắn cậu thanh niên ra đời sẩy thai, thiếu tháng, mang họ nhờ... Người đỡ đẻ và khai sinh cho cậu đã chết trong tù. Khi chiến tranh chấm dứt, cũng không thấy có một người đàn ông nào gọi là cha ruột của cậu trở về. Còn mẹ của cậu nghe nói đã có một đời chồng khác. Không còn ai là người có liên hệ gia đình với cậu. Nhưng những người biết chuyện này thì còn nhiều. Tôi nghe rằng cậu nay đã có vợ con và hiện làm ruộng ở đồng bằng sông Cửu Long. Lại cũng nghe rằng cậu đã vô đảng và đang là một anh Việt Cộng ở Sài Gòn. Lại cũng nghe nữa rằng cậu đã vượt biên và hiện đang ở đâu đó trên đất Mỹ...” (trang 27-28)
Những truyện ngắn trước năm 1975 của Thảo Trường chở đầy chất liệu sống lấy từ cuộc chiến tàn khốc ở miền quê và xã hội bất an trong đô thị diễn ra ở chung quanh ông. Tiêu biểu cho những truyện xuất sắc trước khi chiến tranh chấm dứt tại Việt Nam và được đăng lại trong tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết,” ngoài “Người Ðàn Bà Mang Thai Trên Kinh Ðồng Tháp,” là ba truyện “Viên Ðạn Bắn Vào Nhà Thục,” “Tầm Xa Cũ, Bắn Hiệu Quả,” và “Mặt Ðường.”
Trong “Viên Ðạn Bắn Vào Nhà Thục,” Thảo Trường viết một cách thản nhiên, khiến người đọc càng xót xa hơn trước hậu quả hung ác của cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Thục là tên của một bé gái sống trong một khu xóm bị tàn phá trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 mà cộng sản thực hiện tại Miền Nam. Thấy bé Thục đang loay hoay tìm cách lấy ra một viên đạn ghim sâu vào trong tường nhà của em, một người lính bỗng thắc mắc.
“Người lính hỏi:
- Em làm gì thế?
Thục chỉ lỗ đạn:
- Tôi moi cái đầu đạn trong đó để làm kỷ niệm.
Người lính hỏi:
- Làm kỷ niệm, em cũng thích kỷ niệm?
Thục gật đầu:
- Tôi cần một đầu đạn giữ chơi. Mẹ tôi cũng có một đầu đạn như thế. Mẹ tôi cất trong xắc tay.
Người lính nói:
- Tôi có đạn đây, em thích tôi sẽ tháo cái đầu đồng ra cho em một viên.
Thục lắc đầu:
- Tôi muốn moi lấy cái đầu đạn từ trong lỗ kia. Tôi không thích cái đầu đạn chú tháo ra. Ðầu đạn kia đã bắn vào nhà tôi. Chú biết cái đầu đạn của mẹ tôi lấy ở đâu ra không?
Người lính lắc đầu. Thục khoe:
- Cái đầu đạn của mẹ tôi lấy từ ngực ba tôi. [...]Ba tôi đi đánh giặc bị thương nơi ngực đưa về bệnh viện thì ba tôi chết. Nhà thương người ta gửi cho mẹ tôi cái đầu đạn lấy từ ngực ba tôi. Mẹ tôi gói nó cất trong xắc tay và nói 'để làm kỷ niệm.'” (trang 144-145)
Trong truyện “Tầm Xa Cũ, Bắn Hiệu Quả,” thiếu úy Miện rơi vào tâm trạng khủng hoảng tột độ sau khi chứng kiến Thinh tử trận ngay trước mắt anh. Thinh là cấp dưới của Miện trong một toán tiền sát pháo binh. Thiếu úy Miện ân hận vì không để cho Thinh được ở nhà lâu hơn với vợ con trước khi họ thực hiện một sứ mạng ngoài mặt trận.
Giữa lúc bị rối loạn tâm thần và rơi vào một cơn độc thoại trong phòng chứa xác có vợ con của Thinh đứng gần đó, “Miện ngồi ôm đầu nhìn xuống đất. Miện theo dõi một con sâu đang chui xuống nền nhà. Miện quay lại ngước mắt nhìn xác Thinh, nhìn vợ Thinh, nhìn con Thinh, nhìn trở lại con sâu đất, rồi lại nhìn xác Thinh. (...)Miện có thể làm gì được cho Thinh? Chẳng cần! Người bạn đường đã từng chịu chung nỗi gian nguy với Miện đó chẳng cần gì nữa. Thinh ơi! Chỉ còn một cách là tao lấy vợ mày, tao nuôi con mày cho nó khôn lớn, chỉ còn hành động đó là thiết thực. Yêu thương vợ mày, bế ẵm con mày, rửa đít cho con mày, nuôi nấng gia đình mày. Bây giờ chỉ cần bấy nhiêu đó! Có lẽ chỉ còn cái việc mà người đời coi là vô luân, bất nhân, bất nghĩa, đó là thiết thực hữu hiệu. Nhưng liệu tao có thể làm được không? Hay là tao cũng sẽ chết trận? Như mày.” (Trang 170-171)
Truyện ngắn sau 1975
Cuộc chiến tang thương diễn ra trên mảnh đất Miền Nam thời đó đã khiến cho lương tâm của những người trí thức như nhà văn Thảo Trường phải oằn oại trong đớn đau, bứt rứt trong sự bất lực trước những hoàn cảnh mà họ không thể thay đổi. Ðến khi chiến tranh chấm dứt, sự đau khổ đối với những người lính Miền Nam vẫn chưa hết, còn kéo dài dưới những đòn trả thù của chế độ Miền Bắc giáng xuống đầu họ trong những trại tù cải tạo.
Sau năm 1975, nhà văn Thảo Trường phải chứng kiến những đòn thù tàn bạo và dùng chất liệu nghiệt ngã từ các trại tù trong hầu hết những truyện được ông viết từ khi ông đến Mỹ năm 1993. Trước sự đày đọa thể xác và bị hành hạ tâm lý đến tột cùng, các nhân vật trong tù cải tạo của ông phải áp dụng phương pháp “kệ mẹ nó” để sống còn với những cai tù cộng sản. Nó chửi mình, “kệ mẹ nó.” Nó nhốt mình trong nhà biệt giam, “kệ mẹ nó.” Nó đánh đập mình, “kệ mẹ nó.” Nó bắt mình ngủ bên cạnh cầu tiêu hôi hám, cũng “kệ mẹ nó.”
Trong truyện “Khẩu Hiệu,” ông viết, “'Kệ mẹ nó' tôi thường tự nhủ với mình như thế mỗi khi phải chứng kiến những cảnh trái tai gai mắt xung quanh mình. Ðược xếp chỗ nằm ngay sát cầu tiêu, tôi thấy cũng là một cái hay, đó là một chỗ không ai nhòm ngó. Một mảnh đất xấu ít có nguy cơ bị xâm lấn. Mùi hôi khai ngửi miết rồi cũng quen, sẽ không còn cảm thấy hôi khai nữa. (...)thế cho nên lại phải áp dụng sách ‘kệ mẹ nó’ cho qua tất cả.” (Trang 17)
Cũng qua ngòi bút mà nhiều lúc rất lôi cuốn, không buông thả người đọc, nhà văn Thảo Trường để lại ấn tượng sâu đậm qua truyện “Những Ðứa Trẻ Ðầu Thai Giữa Hàng Rào.” Truyện này bắt đầu với sinh hoạt và tiểu sử của “sáu đứa con nít” chào đời trong tù. Ðứa lớn nhất là một bé gái bảy tuổi, đứa nhỏ nhất là bé gái mới có tám tháng tuổi. Thế giới của chúng là thế giới của cai tù, cán bộ và tù nhân.
“Lũ trẻ ở với mẹ trong buồng giam, chúng cũng bị sắp hàng điểm danh cùng với mẹ và các nữ tù khác mỗi sáng tối. Chúng là những tù nhân không có án và không có tên trong danh sách tù của bộ nội vụ (...).Lũ trẻ cũng phải sống theo tiếng kẻng, nghĩa là chúng cũng phải chạy theo nội qui trại giam.” (Trang 54)
“Chơi trò công an thì con Ti nhận vai cán bộ chấp pháp, thằng Bắc làm trật tự, thằng Cọp làm tù... do đó con Ti được quyền chửi thằng Cọp: ‘Tao còng đầu mày.’ Thằng Bắc được quyền trói thằng Cọp. Thằng Cọp thì phải nói với con Ti là ‘Thưa cán bộ.’ Hằng ngày chúng nghe công an nói năng mắng quát tù làm sao thì chúng lại diễn in như thế. Cũng có khi ba đứa lớn diễn tuồng thì con Ti làm hoàng hậu, thằng Bắc làm vua, thằng Cọp làm quân sĩ. (...)Khán giả là ba đứa nhỏ mới biết bò trên nền nhà hoặc nhốt trong cái cũi bằng gỗ gọi là cái nôi.” (Trang 56-57)
Giữa chốn tù đày, độc ác của loài người, sự hồn nhiên của trẻ thơ vẫn tồn tại qua những trò chơi bình thường của các em bé. Cũng trong truyện ngắn “Những Ðứa Trẻ Ðầu Thai Giữa Hàng Rào,” Thảo Trường còn muốn nói những ước vọng căn bản của con người không thể bị hủy diệt trong những tình huống tối tăm nhất. Ông nói lên tình yêu và niềm ao ước được làm mẹ khi ông khi viết về trường hợp chào đời, hay đúng hơn, sự thụ thai của đứa nhỏ tuổi nhất. Cha mẹ của nó bị giam ở hai bên riêng biệt dành cho nam và nữ, ngăn cách bởi một hàng rào kẽm gai.
Hãy nghe Thảo Trường kể:
“Sau lần gặp ấy chị thương anh vô cùng, chị diễn tả ‘không biết thế nào mà nói.’ Thế rồi chị tính toán theo ý chị. Chị sẽ không mặc đồ lót. Chị sẽ mặc một cái quần mỏng mở chỉ hở dưới đáy. Cái quần cũng luồn dây thun nhẹ. Chị thử kéo lên tuột xuống thấp thấy nhẹ thì rất ưng ý. Chị cũng thử khom khom lưng và nghĩ làm sao cho anh được dễ dàng nhanh chóng, phải tạo điều kiện thuận tiện nhất cho anh ta hành sự. Thời gian không có nhiều. Tất cả chỉ trong nhấp nháy. Chớp mắt. Là phải xong. (...)Chị cũng bàn trước với anh để về phần anh cũng phải chuẩn bị không để một cái gì cản trở, như ‘Mỹ họ lắp ráp phi thuyền trên vũ trụ ấy,’ như pháo binh ‘nhanh chóng, chính xác và hiệu quả,’ như cán bộ vẫn leo lẻo ‘tư tưởng thông hành động đúng’ ấy, anh hiểu chưa, khổ quá!” (Trang 59)
Kế hoạch “lắp ráp phi thuyền” của họ được thực hiện và đạt “hiệu quả” trong một buổi chiều trời sắp tối, mưa rơi lất phất lúc mà hai người nhận công tác đi lãnh cơm cho đội.
Ðôi lúc với giọng văn trào phúng, nhà văn Thảo Trường vẫn thường đưa những tình tiết sắc dục vào truyện như muốn đối chiếu giữa khía cạnh tàn phá và hận thù của chiến tranh với tạo sinh và tình thương trong tình yêu của con người. Sau khi trải qua 17 năm sống trong tù, tác giả đã dàn dựng những màn ái ân còn ly kỳ hơn, như trong truyện “Những Ðứa Trẻ Ðầu Thai Giữa Hàng Rào” kể trên, và trong các truyện ngắn được viết sau khi ông đến California.
Trong truyện “Ðá Mục,” ông kể về mối tình xác thịt giữa một anh lính trẻ truyền tin và một cô gái Thượng: “Người rừng không có thói quen hôn hít, sờ mó, nựng nịu. Người ta đi thẳng vào mục tiêu khi cần và rất nhanh chóng.” (Trang 245)
Tình yêu và tình dục cũng là sợi dây nối kết hai nhân vật chính trong truyện “Từ Dưới Ðỉnh Ðồi Nhìn Lên Chân Núi” qua mấy thập niên từ trước cho đến sau cuộc chiến Việt Nam. Một cô ở làm việc trong một vựa bia đã yêu một chàng sinh viên và lớn lên trong bầu không khí sôi động tại Sài Gòn. Hai người thường tìm thân thể của nhau trong kho chứa hàng. Thời cuộc đẩy đưa chàng sinh viên vào quân đội, cô ở lấy chồng Mỹ. Sau năm 1975 nhân vật nữ sống cuộc đời của một bà triệu phú, trong khi nhân vật nam bị khổ sai trong tù cải tạo, sống bên lề của một xã hội mới. Họ gặp lại nhau ở buổi hoàng hôn của cuộc đời tại một nơi không là quê hương của họ.
“Em cũng thế, em không còn nơi nào khác nữa ngoài nơi đây. Và đây cũng chỉ là đất khách. Nhưng đây là chốn chồng em cưu mang đem em đến, đây là chốn đã có hai kẻ tình nghĩa nằm lại, em không thể bỏ nơi đây, em không thể bỏ họ, em cũng không thể để mất cậu một lần nữa vì em đã tìm lại được cậu. Vậy thì cái bộ xương của em, cái bộ hài cốt của cậu, kể ra thì để ở đâu cũng được, đâu cũng là nước Chúa.” (Trang 495)
Không chỉ nặng hơn về sắc dục, những truyện được nhà văn Thảo Trường viết ở hải ngoại cũng đậm nét hơn về tình thương dành cho Thượng Ðế. Thời gian sống trong tù cộng sản đã đẩy những kẻ khốn cùng đến dựa lưng vào niềm tin tôn giáo.
Trong truyện “Hạt Thóc,” Thảo Trường kể về một buổi rước lễ lén lút khá cảm động mà cũng buồn cười:
“Trong trại giam còn cấm truyền đạo vì thế mọi việc lễ lạy cầu kinh đều bị đàn áp. Tù và linh mục lén trao mình thánh trong những lúc gặp nhau ở nhà bếp, máu thịt Chúa được gói trong giấy báo nhét ở đâu đó cho kín. Nhưng chính cái nghi lễ lén lút đó mới là thực lòng. Con sa cơ thất thế nên con cầu xin cứu vớt thực sự. 'Xin Chúa thương xót chúng tôi.'
Một lần con chiên khô đạo đem xoong trả nhà bếp, qua hàng rào nhà giam số 3 thì có ông linh mục tuyên úy tù, bạn cũ, cầm một chồng xoong đưa ra nói:
- Nhân tiện trả giùm với.
Rồi thấp giọng linh mục nói nhanh:
- Bánh lễ trong xoong ấy, sấp mình mà ăn năn rồi rước lấy.
Anh con chiên khô đạo hiểu ngay, đỡ lấy chồng xoong, đồng thời rất nhanh cầm ngay miếng bánh mỏng và nhỏ xíu bằng móng tay út, bỏ lên miệng nuốt và nhẩm 'Amen.' Nhác thấy công an đứng gần đó con chiên bèn truyền đạt ngay cho linh mục một bài học:
- Lười chảy thây ra, có mấy cái xoong cũng không chịu đi trả, quen thói đẩy việc cho người khác.” (Trang 71)
Tiểu sử của Thảo Trường
Tên thật của nhà văn Thảo Trường là Trần Duy Hinh. Ông chào đời tại Nam Ðịnh cuối năm 1938 (nhưng âm lịch ghi là tuổi Bính Tý). Trước năm 1975 ông đã có 14 tác phẩm xuất bản tại Sài Gòn. Sau năm 1975 ông có chín tác phẩm in ở hải ngoại gồm sách mới và sách tái bản, kể cả tuyển tập “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết” in bìa cứng do công ty Người Việt xuất bản trong Tháng Tám 2008.
Mặc dù ông tránh nói tại sao chọn bút hiệu Thảo Trường, người đọc có thể đoán qua truyện ngắn “Những Cánh Hoa Trắng Trên Cây Khô.” Nhân vật “tôi” trong truyện này nhớ lại thời thơ ấu lúc học trường đạo chung với con gái.
“Nhưng có một điều lạ, trong số học trò con gái có hai cô em chơi thân với nhau đều tỏ vẻ thán phục tôi, khoe mẽ: nhiều lần trò chuyện hai người con gái ấy nói là họ rất muốn học giỏi được như tôi. Hai cô đều có tên Tây và tên Việt, nhưng tôi chỉ nhớ tên Việt của họ. Nhớ đến nỗi sau này, mấy chục năm sau này, khi cần chọn cho mình một bút hiệu, phụt nhớ, tôi đã dùng hai chữ tên của hai cô bạn học thời xa xưa ấy.” (Trang 531)
Một nét độc đáo nhất trong các tác phẩm của ông, mà nhất là trong những truyện ngắn sau này, các nhân vật của Thảo Trường tuy sống ở hải ngoại mà vẫn thường liên tưởng về quá khứ, sống lại những kinh nghiệm trong thời gian chinh chiến và những năm tù đày. Chiến tranh và hậu quả của nó đã bám quá chặt vào các nhân vật, không buông thả mặc dù họ muốn quên đi quá khứ đau thương. Những nhân vật của Thảo Trường cũng có lẽ là chính ông, như tác giả có nói trong tuyển tập về nội dung lẫn lộn giữa hư và thật trong các tác phẩm: “Sự thật chiếm 99%, hư cấu cũng chiếm 99%.”
Mấy năm trước nhà văn Thảo Trường từng nói, “Tôi làm tác phẩm là để đời,” và ông cũng nhìn nhận, “Tôi vẫn có tham vọng làm sao ‘nhét’ cả một cuộc chiến tranh vào trong một truyện ngắn.”
Liệu ông có “nhét” được hết những điều mong ước vào trong “Những Miểng Vụn Của Tiểu Thuyết”?
Dù cho tác giả có “nhét” được cả một cuộc chiến vào trong một truyện hay không, người đọc cũng nhận ra hầu như nguyên vẹn mức độ thảm khốc của một cuộc chiến tương tàn từ lúc nó diễn ra cho tận đến sau khi kết thúc. Phải chăng đây cũng là một thành công “để đời” của tác giả Thảo Trường.
Hoàng Mai Ðạt