Quỳnh Giao
Truyện cổ tích thì Việt Nam mình có rất nhiều, nhưng hình như lại không nhiều truyện cho thiếu nhi, nếu ta so sánh với kho tàng cổ tích của các nước Âu Châu. Ðiều này thì các nhà nghiên cứu có thể tìm ra và giải thích cho chúng ta và có khi nói đến một thế giới của trẻ thơ rất già của dân mình. Mà hình như, cũng chỉ hình như thôi, truyện cổ tích Việt Nam có nhiều truyện buồn hơn vui. Trong một cột tạp ghi thì cũng chỉ dám lạm bàn đến thế mà thôi!
Buồn nhất có lẽ chính là truyện tiên rồng của chúng ta trong kho truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc. Nếu đã biết rằng tiên chẳng thể sống với rồng thì vì sao lại lấy nhau, khi có trăm con rồi mới chia tay, đứa lên núi, đứa xuống biển? Ðâm ra, ngay từ khởi thủy, dân ta đã có mầm chia ly, hèn chi toàn những chuyện buồn!
Buồn nhất, chính là chuyện Trương Chi.
Ðây là câu chuyện éo le của hai mối tình, một thật một giả, bị tan trong nước mắt khi một người đã chết. Ban đầu, nàng Mỵ Nương đã mê tiếng hát mà mơ đến người. Khi gặp anh thuyền chài có tiếng hát cực hay thì mới thấy rằng chàng là người cực xấu trai. Nàng bèn tỉnh giấc mộng mị. Khốn nỗi, khi được gặp nàng, Trương Chi lại say mê Mỵ Nương, yêu đến phát bệnh, đến chết. Mối tình của chàng uất kết thành một khối, một trái cầu trong vắt như pha lê.
Sau này, khối ngọc ấy được tạc thành chén, khi Mỵ Nương rót trà vào chén thì nghe thấy tiếng hát xưa cùng với hình bóng của người thuyền chài cô quạnh. Giọt lệ thương cảm của nàng rơi vào lòng chén mới làm tan chiếc chén ngọc. Chắc là khi đó Trương Chi mới được siêu thoát và để lại cho chúng ta một chuyện tình thật đẹp.
Tính ra thì đã có nhiều ca khúc được viết về chuyện Trương Chi và nàng Mỵ Nương. Nổi tiếng nhất là “Trương Chi” của Văn Cao sáng tác năm 1943, và “Khối tình Trương Chi” của Phạm Duy viết năm 1945. Ngoài ra, Hùng Lân có bài “Hận Trương Chi”, và Anh Bằng có ca khúc “Chuyện Tình Mỵ Nương, Trương Chi”. Ðấy là chưa kể tới kịch thơ của Vũ Hoàng Chương và nhiều truyện ngắn khác cũng được dựng lên từ Trương Chi. Mối tình của Trương Chi cũng gợi hứng cho người viết, nên 10 năm về trước đã viết “Tình khúc của Trương” cho số Xuân Văn Học năm Mậu Dần, nhưng đặt câu chuyện tại miền Ðông Hoa Kỳ, giữa hai người Mỹ trong thế giới ca nhạc ở New York...
Nói riêng về Trương Chi của Văn Cao và Phạm Duy, thì bài “Khối tình Trương Chi” của Phạm Duy là loại “truyện kể”, dùng nhạc để kể lại cuộc tình của Trương Chi, trong khi bài “Trương Chi” của Văn Cao là một thứ tự truyện, mượn tích Trương Chi để giãi bày nỗi cô đơn của mình.
Tương tự một truyện ngắn của nhà văn Vũ Khắc Khoan trong tập truyện Thần Tháp Rùa.
Phạm Duy viết Khối Tình Trương Chi trên cung Fa Trưởng, theo nhịp ba bốn của một bài luân vũ trầm buồn. Nét đặc biệt của bài này là dẫn vào sự trong sáng, dìu dặt và uyển chuyển. Qua đoạn giữa, đoạn modulation, ông đổi sang âm giai Thứ, man mác u buồn, cũng là lúc truyện kể đến khúc Mỵ Nương nâng chén trà và thấy hình ảnh Trương Chi trong lòng chén...
Phạm Duy bắt vào truyện kể với lời ca “Ðêm năm xưa...” tương tự như cách ta kể chuyện cổ tích, “ngày xửa ngày xưa”... “once upon a time...” hay “il était une fois...” Cứ như thế, ông kể tiếp về cái đẹp của một đêm trăng và nàng con gái lãng mạn trên lầu vàng đã thấy lòng đê mê vì những cung Nam Thương, Nam Ai văng vẳng nổi lên từ bờ sông... Nàng đã tương tư người hò khoan, nước mắt hoen màu, tóc chảy ngàn hàng... Nhưng tới khi gặp chàng... thì đành tan vỡ câu chờ mong. Lời ca và nét nhạc thật óng chuốt, mỹ miều...
Qua đoạn hai, Phạm Duy kể tiếp về mối tình của chàng Trương trên con thuyền lẻ loi. Khi trót yêu người rồi thì tủi hờn duyên kiếp bao giờ nguôi. Chữ “trót” như một sự lỡ dại, như chuyện không cố ý, một éo le của định mệnh, khiến chàng phải ôm mối tình dở dang chôn xuống đáy sông. Câu hát “duyên kiếp trong cuộc đời - đem xuống nơi tuyền đài - để thành ngọc đá mong chờ ai” là một chuyện kể rất đẹp. Năm đó, Phạm Duy mới chỉ 24 tuổi! Và cuối cùng, nước mắt Mỵ Nương đã “cho chén tan thành lời, để thành bài hát ru lòng tôi”.
Người nhạc sĩ chỉ xuất hiện ở chữ cuối của bài hát, như để giải thích về truyện ca của mình...
Ca khúc “Trương Chi” của Văn Cao thì hoàn toàn trái ngược.
Về nhạc thuật, ông mở đầu với lời ta thán và nét nhạc u uẩn nhờ cung Ðô Thứ. Mỵ Nương trong ca khúc không là nhân vật chính. Tiếng hát và tâm sự của chàng Trương mới là chủ điểm trong lời từ. Văn Cao tả một đêm trăng sáng và tiếng hát Trương Chi nhả tơ vào đêm trăng khiến nàng con gái nơi đài các thấy rạo rực vì trăng sáng lả lơi. Trăng không lả lơi, chính là giai nhân mới thấy lả lơi, và lả lơi vì nghe được tiếng hát Trương Chi. Văn Cao dẫn từ khách đến chủ, từ hậu quả trong lòng Mỵ Nương đến nguyên nhân là sự kỳ diệu của tiếng hát Trương Chi!
Sau đó là một câu rất ngắn, gần như đột ngột, về cái chết câm nín, tức tưởi của Trương Chi: Nhìn xuống đáy nước sông sâu - thuyền anh đã chìm đâu. Ðấy là lúc ta trở về thực tại của Trương Chi - Văn Cao, về nỗi cô đơn của người nghệ sĩ.
Ðoạn modulation được Văn Cao đổi sang cung Fa Trưởng, như nỗi tấm tức, dồn dập và cả sự gào thét. Ðó là tiếng mưa trên con đò trăng hay tiếng khóc của người nghe? Ðoạn này, khi trình bày, các ca sĩ phải hát rất khô, ngắt câu rất rõ theo lối “staccato”, nếu không thì nghe như đang kéo xe bò! Sau đấy, mới kết thúc tiếng thở than tức tưởi đó bằng một câu như ngâm thơ.
Nếu nghe lại cho kỹ, ta thấy tâm sự chàng Trương là sự u uẩn của chính Văn Cao. “Ngồi đây, ta gõ ván thuyền, ta ca trái đất chỉ còn riêng ta...” Ðây là câu hát thuộc loại đẹp nhất và buồn nhất trong kho tàng tân nhạc của chúng ta.
Câu cuối, ông chuyển nét nhạc trở về cung Ðo Thứ và nhấn mạnh đến thân phận nghèo hèn của Trương Chi mà ai cũng hiểu là tâm sự bi đát của chính ông.