Nghĩ về chữ Hiếu trong truyền thống tôn giáo và văn hóa Việt Nam
Sunday, September 21, 2008 Bookmark and Share

Nguyễn Ðức Cung

Dân tộc Việt Nam tuy vốn là một quốc gia thấm nhuần giáo lý Khổng Mạnh và tư tưởng các tôn giáo khác từ thời kỳ lập quốc cho tới ngày nay, nhưng chúng ta có một bản sắc riêng, bản sắc Việt Nam. Nền văn minh nông nghiệp và hệ tư tưởng, triết lý đến từ Phương Bắc là Trung Quốc đã cố kết và nhào nặn dân tộc Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước mà trong đó gia đình là một cơ cấu căn bản rất cần thiết cho sự sống còn của dân tộc qua trường kỳ lịch sử. Các mối liên hệ tương quan giữa các thành viên trong gia đình Việt Nam đã được biểu thị qua hệ thống tam cương, ngũ thường mà sách vở kinh điển của Nho Gia như Luận Ngữ, Mạnh Tưu, Ðại Học, Trung Dung hay các kinh Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu tuy vốn là những sách thánh của Trung Quốc tự ngàn xưa nhưng vẫn còn hay nhắc đến, trong đó chữ hiếu có ảnh hưởng rất đậm nét trong phong cách hành xử của người Việt Nam. Những tiếp nhận về văn hóa và triết lý tuy mang nặng tính chất Trung Hoa đó khi đến Việt Nam đã được tiền nhân chúng ta điều chỉnh lại phần nào để phù hợp với tâm thức của người Việt. Tinh thần hiếu đễ đã hun đúc nên tâm tính hiền hòa, nhẫn nhục của người Việt Nam chính là yếu tố cốt cán giúp cho xã hội bền vững và gia đình phát triển qua nhiều thế hệ. Bởi thế, tìm hiểu ý nghĩa của chữ hiếu qua truyền thống tôn giáo và văn hóa Việt Nam cũng là thiết thực đóng góp chút ít suy tư với độc giả nhất là tầng lớp thanh niên Việt Nam đang ngày càng đạt được nhiều thành công trong việc ổn định cuộc sống tại hải ngoại.

I. Tìm hiểu từ nguyên chữ hiếu

Từ nguyên (étymologie) là nguồn gốc, lịch sử hình thành và phát triển của một từ hay một chữ trong thời gian về trước và hiện tại, chính là yếu tố giúp cho người đọc hiểu rõ ràng ý nghĩa của nó. Căn cứ theo lục thư (sáu cách viết chữ Hán của người Trung hoa gồm có chỉ sự, tượng hình, hài thanh hay hình thanh, hội ý, giả tá, chuyển chú) chữ hiếu được cấu tạo theo lối hội ý nghĩa là kết hợp nhiều ý nghĩa của nhiều chữ.

Theo linh mục L. Wieger, ý nghĩa và kết cấu hình thành của chữ hiếu (Hsiao, Filial piety) đã được biện giải là điều mà các con em mắc nợ đối với bậc trưởng thượng nói chung và đối với bậc cha mẹ nói riêng, là kẻ phụng sự cha mẹ rất chí tình, viết một phần gồm chữ lão (già cả) bỏ bớt nét và gồm với chữ tử (con) (1)

Linh mục L. Wieger thuộc Dòng Tên là một nhà Trung Hoa học nổi tiếng trên thế giới trong nhiều thập niên trước đây với rất nhiều công trình biên tập giới thiệu cùng độc giả Tây Phương các tác phẩm kinh điển của nền văn hóa cổ Trung Hoa. Sách vở biên tập của ông đã được nhiều thế hệ sử dụng trong đó có rất nhiều tầng lớp độc giả, trí thức và giáo sư đại học Việt Nam. Ý nghĩa nhà bác học này muốn nhấn mạnh tới qua chữ hiếu đó là mối liên hệ mật thiết giữa lớp người trưởng thượng và con cháu của họ, một mối quan hệ hỗ tương rất chặt chẽ trong ý nghĩa của chính ngôn từ và trong đời sống thực tế ngoài xã hội.

Một kiến giải khác được hình thành trong một cuốn sách viết về nền văn hóa tâm linh xuất bản mới đây đã có trình bày rằng theo hình tượng chữ hiếu trên phần đầu chữ khảo là cha, dưới chữ tử là người con, giữa có cái gậy vắt ngang, hiếu là con mũ gậy cha mẹ. (2) Ý kiến giải thích như vậy cũng có tính cách khả tín. Tuy vậy xem lại hai cách giải nghĩa chữ hiếu thì trong đó các tác giả có phần nào gượng ép.

Theo Linh mục Sảng Ðình Nguyễn Văn Thích (1891-1979), giáo sư Hán văn của Trường Ðại Học Văn Khoa Huế, Sài Gòn và Viện Hán Học Huế (mà tôi là một môn sinh của ngài) trước năm 1975, một bậc túc nho cuối cùng của nền Hán học cổ truyền Việt Nam, thì chữ hiếu được kết hợp bởi chữ thổ là đất, nét sổ xiên từ phải sang trái có hình tượng như một cây roi và chữ tử là con, nghĩa chung là đứa con chịu nằm xuống đất và để cây roi trên mình cho cha mẹ đánh thì đó là đứa con có hiếu. Lối giải thích từ nguyên của vị giáo sư thâm nho này cũng có những nét đặc sắc và gần gũi với nền giáo dục trẻ con của Việt Nam ngày trước (Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi), một lối giáo dục nặng hình thức thương yêu mà trấn áp, răn đe.

Theo học giả Thiều Chữ, chữ hiếu có hai nghĩa: 1.- Thảo, con thờ cha mẹ hết lòng gọi là hiếu. 2.- Tục gọi đồ tang phục là hiếu. Như xuyên hiếu - mặc đồ tang (để tang). Thoát hiếu - chút đồ tang (đoạn tang) v.v... Sách Hán Việt Từ Ðiển của Ðào Duy Anh cũng có những giải thích tương tự. (3)

II.- Một số ý niệm về chữ Hiếu trong các tôn giáo phổ cập ở Việt Nam

Ðất nước Việt Nam là nơi gặp gỡ của nhiều tôn giáo như Nho, Phật, Lão (tam giáo đồng quy) và về sau với sự góp mặt của Thiên Chúa Giáo cùng với một số tôn giáo có tính cách địa phương như Cao Ðài, Hòa Hảo nên có thể nói được rằng ảnh hưởng của các tôn giáo đã đặt những dấu ấn rõ rệt trong nền văn hóa của dân tộc mà điển hình là một số ý niệm của các tôn giáo về vấn đề chữ hiếu nói chung. Có thể nói hầu hết mọi tôn giáo và triết thuyết Á Ðông đều khuyến khích con cái sống hiếu thảo đối với cha mẹ, các bậc trưởng thượng và tinh thần hiếu đễ có khi được coi là một tập tụt sâu sắc, một tín ngưỡng (hiếu đạo).

2.1. Thiên Chúa Giáo và vấn đề chữ hiếu:

Giáo lý của Thiên Chúa Giáo có điều răn thứ bốn dạy là thảo kính cha mẹ. Trong sách Huấn Ca của Cựu Ước người ta đã đọc thấy những lời dạy như sau:

Hỡi các con, hãy nghe cha đây,

Và làm thế nào để các con được cứu độ

Ðức Chúa làm cho người cha được vẻ vang vì con cái

Cho người mẹ thêm uy quyền đối với các con.

Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm

Ai kính mẹ thì tích trữ kho báu

Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái

Khi cầu nguyện họ sẽ được lắng nghe.

Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ,

Ai vâng lệnh Ðức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng. (4)

Trong sách Tin Mừng Thánh Mát-thêu (15, 1- 6) có một đoạn liên hệ tới đạo hiếu, nói về thái độ của Ðức Kitô đã cảnh cáo lớp người giả đạo đức thời đại của Ngài: Bấy giờ có mấy người Pha-ri-sêu và mấy kinh sư từ Giê-ru-sa-lem đến gặp Ðức Giê-su và nói rằng Sao môn đệ ông vi phạm truyền thống của tiền nhân, không chịu rửa tay khi dùng bữa? Người trả lời: Còn các ông, tại sao các ông dựa vào truyền thống của các ông mà vi phạm điều răn của Thiên Chúa? Quả thế, Thiên Chúa dạy: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ, kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Còn các ông, các ông lại bảo: Ai nói với cha với mẹ rằng những gì con có để giúp cha mẹ, đều là lễ phẩm dâng cho Chúa rồi, thì người ấy không phải thờ cha kính mẹ nữa. Như thế, các ông dựa vào truyền thống của các ông mà hủy bỏ lời Thiên Chúa... (5).

Ý nghĩa hiếu thảo và thương yêu giữa cha mẹ với con cái cũng được Thánh Phao-lồ nhắc đến trong Thư gửi tín hữu Cô-lô-xê: Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng (6).

Căn cứ theo các tài liệu lịch sử hiện nay thì Thiên Chúa Giáo xuất hiện ở đất nước Việt Nam vào quãng đầu thế kỷ XVI. Theo sách Dã lục thì tháng 3 năm Nguyên-hòa thứ nhất (1533) đời Lê-Trang-Tôn, có người Tây-Dương tên là I-nê-Xu lén lút đến xã Ninh-Cường, xã Quần Anh, huyện Nam-Châu, và xã Trà-Lũ huyện Giao-thủy, ngấm ngầm truyền bá tả đạo Gia-Tô. Thế là, ít ra, từ đó, đạo Công-giáo đã được biết ở Nam-Ðịnh. (7)

Ðạo Công Giáo khi được truyền bá vào Việt Nam cũng đề cao tinh thần chữ hiếu trong bất cứ mọi trường hợp của cuộc sống, ngay cả đến khi cận kề cái chết, nên hoàn toàn có khả năng để thích ứng với cá tính đạo đức của dân Việt Nam và tình huống xã hội của đất nước chúng ta.

Trong một bài báo đăng trên Tạp chí Thế Kỷ 21 số 161 Tháng Chín 2002, tác giả Ngô Nhân Dụng đã đề cập tới quyển sách của nhà truyền giáo De La Bissachère xuất bản hồi đầu thế kỷ 19 (sách in ở Paris năm 1812, tuy nhiên đã được in ở Luân Ðôn từ năm trước) nhan đề État Actuel du Tunkin, de la Cochinchine, et des Royaumes de Cambogde, Laos, et Lac Tho (Tình trạng đương thời ở xứ Ðàng ngoài, Ðàng trong, và các vương quốc Cam Bốt, Lào, Lạc Thổ). Giáo sĩ De La Bissachère đã sống ở các xứ trên trong 18 năm dưới thời vua Gia Long. Bài báo của tác giả Ngô Nhân Dụng có đoạn viết :

Một nền tảng của nền đạo lý dân tộc ở Việt Nam là đạo hiếu, thể hiện qua tục thờ cúng tổ tiên. De La Bissachère ghi nhận người Việt Nam thờ cúng tổ tiên và coi họ như những người ở trên trời, những thần linh bậc nhì còn săn sóc và bảo vệ gia đình họ, và tin rằng tổ tiên lúc sống càng thánh thiện bao nhiêu thì lúc chết càng có sức mạnh linh thiêng bấy nhiêu. Có lẽ đây là một cách diễn tả niềm tin về phúc đức ông bà của người Việt. De La Bissachère viết, Người già cả được tôn kính với thái độ giống như trong tôn giáo. Ông nhận xét rằng ngoài chính sách cấm đạo của vua chúa thì đây là một trở ngại cho việc truyền đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, tục thờ cúng tổ tiên, việc thờ cúng có vẻ ngoài như một tín ngưỡng. Các vị thừa sai thuộc dòng Tên đã chấp nhận phong tục này, mà họ thấy không thể cắt lìa phong tục đó khỏi các dân tộc này được;... mà trong các bổn phận đối với tổ tiên đó, tất cả chỉ là để tỏ tình thương và lòng tôn kính, nhưng Rome không thể chấp nhận ý tưởng khoan dung đó. (8). Lập trường của Giáo hội Roma về sau cũng tỏ ra rất uyển chuyển không còn cứng ngắc như trước đây, nhất là sau thời Cộng Ðồng Vatican II, đối với một số các phong tục Á đông như việc thờ cúng tổ tiên, vấn đề hôn phối với người khác tín ngưỡng v.v...

Trước đây trong thời kỳ đạo Công Giáo bị các chế độ phong kiến bách hại, người ta đưa ra lý luận rằng theo Công Giáo là bỏ ông bà, bỏ bàn thờ gia tiên, bỏ đạo hiếu. Lý luận đó đã bị thực tế chứng minh trái ngược lại. Linh mục Nguyễn Văn Thích đã bày tỏ quan niệm về trung và hiếu của ngài trong bài viết ngắn và bài thơ sau đây:

Trung và Hiếu

Có kẻ không hiểu nói rằng theo đạo Chúa, bỏ cha mẹ, nên làm lời giải hoặc.

Trung hiếu bổn vô nhị tri - Trung ư quân, tức hiếu ư thân. Trung hiếu không phải hai đàng nghịch nhau. Trung với Chúa ấy là hiếu với cha mẹ. Ðây chưa nói chữ hiếu theo nghĩa Evang (Phúc âm)

Hết trung thờ Chúa đạo làm trai,

Chữ hiếu làm con dễ dám sai.

Vẫn hiếu với trung là vốn một,

Mà trung cùng hiếu chẳng toàn hai.

Thà rằng mất hiếu trung cùng Chúa,

Hễ đã không trung, hiếu với ai ?

Chữ hiếu ấy tình, trung ấy nghĩa,

Bên trung bên hiếu nặng hai vai.

An Ninh chủng viện 1917

J.M.T

(Trích trong Sảng Ðình Thi Tập , tr.9) (9).

Ngày 19-6-1988, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã hân hoan mầng 117 vị chân phúc của Việt Nam đã được phong bậc hiển thánh (canonization) trong đó có rất nhiều tấm gương hiếu đễ trung tín đã được chứng minh trong cuộc đời của các Ngài kể cả những lúc trước giờ bị rơi đầu vì đức tin. Người Công Giáo cũng có truyền thống tưởng nhớ đến cha mẹ và thân nhân đã khuất bằng cách dành tháng 11 (Novembre) để cầu nguyện, xin lễ, viếng mộ cách đặc biệt cho người chết gọi là Tháng Các Ðẳng Linh Hồn, và ngày 2 tháng 11 là Ngày Lễ Các Ðẳng (Fête Des Défunts), tất cả những việc đó đều có ý nghĩa khuyến khích tinh thần hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ. Theo quan niệm của một số người Công Giáo Việt Nam, chết vào ngày 2 tháng 11 cũng là một ân sủng, trong một khía cạnh ý nghĩa đặc thù nào đó.

Trong Thư Mục Vụ của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đưa ra tại Hà Nội ngày 11-10-2002, phần mở đầu đã có đề cập đến chữ hiếu trong gia đình người Công Giáo Việt Nam: Nói đến gia đình Việt Nam, người ta nghĩ ngay tới một nề nếp gia phong rất gần gũi với giáo lý đức tin. Gia đình ấy coi chữ Hiếu làm đầu nên rất sẵn sàng đón nhận ánh sáng Phúc Âm, trong đó điều răn phải thảo kính cha mẹ được xếp ngay sau ba điều răn quy định việc thờ phượng Thiên Chúa

2.2. Phật giáo và chữ hiếu:

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn tại Việt Nam mà ảnh hưởng đã thấy rõ trong các lãnh vực chính trị, văn hóa, tư tưởng, xã hội trong suốt quá trình lịch sử của đất nước. Có nhiều ý kiến khác nhau nói về thời điểm Phật giáo du nhập vào Việt Nam.

Theo Dương Quảng Hàm trong Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Phật giáo du nhập vào nước ta do hai cách: a) Nhờ các vị sư Tàu sang tránh nạn ở Bắc kỳ, sau khi vua Hán Linh-Ðế mất (189), trong khi nước Tàu có nội loạn (cuối thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III); b) Nhờ các vị sư người Thiên-trúc Inde ), Khang-cư (Sogdiane ), Nguyệt-thị (Indoscythe ) sang ở nước ta, hoặc đi qua nước ta để sang Tàu trong thế kỷ thứ III (10)

Giáo sư Nguyễn Ðăng Thục cho rằng: Bước đầu lịch sử Phật học ở An nam chỉ bắt đầu từ thế kỷ III sau Công nguyên nhất là nếu chúng ta không kể sách Mâu Tử như là một tác phẩm chân thật của thời kỳ 190-200. (11)

Trong Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, tác giả Nguyễn Lang (tức Thiền Sư Nhất Hạnh) cho rằng đạo Phật đầu tiên do các thương gia Ấn Ðộ đem đến. Những người này không phải là những nhà truyền giáo; họ chỉ sống đời sống tín ngưỡng của họ trong lúc lưu lại Giao Châu, và chính vì vậy mà người Giao Châu biết đến đạo Phật. (12) Qua những ghi nhận tổng quát này, Thích Nhất Hạnh, tiếc thay, không cho biết rõ ràng hơn về thời điểm có mặt của Phật Giáo trên đất nước ta.

Nhưng, có lẽ công trình nghiên cứu thấu đáo về Phật Giáo hơn cả phải kể đến bộ sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát trong đó tác giả này cho biết Phật Giáo có thể đã xuất hiện khoảng thế kỷ thứ II-III trước dương lịch. Tác giả viết: ... Vùng miền nam nước ta từ phía Nam cửa Sót trở vào đã mang nặng những vết tích của nền văn hóa Ấn Ðộ. Chiếc bia Võ Cảnh tìm thấy ở làng Võ Cảnh ở Nha Trang, thường được các nhà nghiên cứu xác định là xuất hiện vào thế kỷ thứ II sdl, viết bằng Phạn văn. Ðể cho Phạn văn trở thành một ngôn ngữ được khắc trên đá vào thế kỷ ấy, nền văn minh Ấn Ðộ vào thời điểm đó chủ đạo là Phật giáo, phải truyền bá tại vùng đất này qua một thời gian tương đối dài, tối thiểu cũng phải mất một vài trăm năm. Nói thẳng ra, văn minh Ấn Ðộ phải tồn tại ở phía nam nước ta vào những thế kỷ trước và sau dương lịch. Cho nên vị Hùng Vương của thời Chữ Ðồng Tử ta cũng có thể xác định vào những thế kỷ tdl, có khả năng là Hùng Nghị vương thứ nhất hoặc thứ hai, tức khoảng thế kỷ II -III tdl. (13)

Luận cứ của Lê Mạnh Thát cũng không có gì vững chắc nếu tác giả này nhớ rằng nền văn minh của Ấn Ðộ hay nền văn minh Angkor của Campuchia là nền văn minh của đá (14) nghĩa là tất cả các hình thái nghệ thuật của họ đều thể hiện bằng chất liệu đá thì cần gì phải đợi đến mấy trăm năm về sau nghệ nhân xứ đó mới sử dụng đá để làm tấm bia Võ Cảnh? Họ có thể sử dụng đá ngay khi mới đến định cư tại vùng đất phía nam cổ Việt khoảng thiên niên kỷ thứ hai trước Tây Lịch nếu kiến giải của Stephen Oppenheimer trong Eden in the East là đúng. (15)

Trải qua quá trình lịch sử, Phật Giáo đã có những giai đoạn thăng trầm nhưng tinh thần từ bi hỉ xả của Phật Giáo vẫn là những nét trỗi bật trong nỗ lực hòa đồng với các tôn giáo khác và nhất là thể hiện truyền thống đạo hiếu trong các lễ nghi và bản sắc văn hóa của mình. Mùa Vu lan của Phật giáo là mùa báo hiếu và trong thời kỳ quân chủ trước đây có khi công cuộc tổ chức các lễ lạt được tiến hành từ trong chốn triều đình ra ngoài dân gian Mùa Hạ năm 1434 vua Lê Thái Tông sai các quan rước Phật từ chùa Pháp Vân về kinh đô để làm lễ cầu mưa. Lại cho phóng thích một số tù nhân, và dựng trai đàn chẩn tế ngay ở điện Cần Chánh để tu tạo công đức, cầu cho có mưa. Rằm tháng bảy năm ấy, vua lại cho tổ chức đại hội Vu Lan, mời chư tăng đến cầu nguyện, rồi cúng dường chư tăng và phóng thích thêm năm mươi tù nhân nữa. (16)

Với Phật giáo, Vu-Lan-Bồn là một phương pháp báo hiếu có hiệu quả nhất. Theo Hòa thượng Thích Thiện Hoa, Vu -Lan-Bồn là phiên âm theo tiếng Phạn. Người Trung Hoa dịch là: Ôgiải đảo huyền, nghĩa đen là cổi trói người bị treo ngược; nghĩa bóng là cứu vớt những kẻ đau khổ nặng nề như đang bị treo ngược... Ngài Ðại-hiếu Mục-Kiền-Liên, sau khi tu hành chứng được 6 phép thần-thông, ngậm ngùi nhớ đến công ơn cha mẹ, Ngài bèn tìm cách báo đáp. Dùng đạo-nhãn xem trong thế gian, Ngài nhận thấy mẹ mình sanh làm loài ngạ-quỷ, thân thể ốm gầy, da bọc xương, thân hình tiều tụy, bụng lớn, đầu to, cổ nhỏ như ống chỉ, đói khát suốt năm không được ăn uống. Thương xót quá, Ngài liền đem bát cơm đang ăn để dâng mẹ. Ngài vận thần-thông, bưng bát cơm đi đến chỗ mẹ ở. Bà mẹ vì quá khao-khát, nên khi được cơm, lòng tham nổi lên, sợ người cướp giựt, lấy tay trái che giấu bát cơm, tay mặt bốc ăn. Bởi lòng tham lam độc ác trong tiền kiếp nổi bừng lên, nên cơm mới đưa vào miệng, thì hóa thành ra lửa, bà chẳng ăn được.

Ngài Mục-Kiền-Liên thấy thế, hết sức đau buồn kêu khóc thảm thiết. Ngài liền trở về bạch Phật, thuật lại như trên và cầu Phật chỉ dạy cho phương pháp cứu độ thân mẫu... Ngài Mục-Kiền-Liên vâng lời Phật dạy, đến ngày rằm tháng 7 làm lễ Vu-Lan, sắm đủ các vật liệu, rước chư Tăng trong mười phương thành tâm kính lễ trai-Tăng cúng-dường, nên vong mẫu của Ngài thoát khỏi kiếp ngạ-quỷ, sanh về cảnh giới lành. (17)

Cũng theo Hòa Thượng Thích Thiện Hoa việc báo hiếu có nhiều cách nhưng không ngoài hai phương diện: vật chất và tinh thần tức là lo cho cha mẹ miếng ăn thức uống, áo quần, chỗ ở và làm cho tinh thần cha mẹ được nhẹ nhàng cao thượng và đi dần đến chỗ giải thoát.

Trong cuốn Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc, Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm cho biết về nguồn gốc của một số lễ nghi của Phật giáo như sau: “Về lễ nghi của Phật giáo thông thường gọi là ‘Pháp hội’. Pháp hội có từ đời Ðông Tấn, nhưng tới đời Nam Bắc Triều thì rất được thịnh hành. Trước hết có Pháp hội về Ðản sinh Ðức Phật, ngày 8 tháng tư, gọi là “Quán Phật hội”, hay “Lễ Tắm Phật”, phổ cập khắp các chùa, và hội rước Phật để mọi người được dâng hương tán hoa, rồi đến hội “Vu Lan Bồn” ngày 15 tháng 7, hội Phật Thành đạo vào ngày 8 tháng 12, hội Phật Niết bàn vào ngày 15 tháng 2. Ngoài ra, còn có các hội như “Bát quan trai”, “Vô Giá Ðại hội” và “Diên Thọ hội”, kết hạ an cư v.v...” 18 Như vậy lễ Vu Lan cũng có gốc tích từ những lễ nghi Phật Giáo ở Trung Quốc.

Câu chuyện Quan Âm Thị Kính nói việc Thị Kính bị mang tiếng oan có âm mưu giết chồng (Thiện Sĩ), chịu sỉ nhục tàn tệ phải cải dạng nam nhi mà đi tu, lại bị Thị Mầu quyến rũ không được, phải nhận nuôi con rơi của Thị Mầu, rồi sau đó chết vì sức khỏe mỏi mòn, cuối cùng nàng được Phật tổ truyền cho thành Phật Quan Âm và được sư cụ chùa Vân (nơi nàng đi tu) bày tỏ công đức:

Nay bà Thị Kính hóa duyên

Nam mô Phật, độ vô biên hằng hà

hóa thân được cả mẹ cha,

kìa là bạn cũ, nọ là con thơ

thế gian trông thấy sờ sờ

Ý của sư cụ là khi Thị Kính chứng quả, nàng có thể độ luôn được cả mẹ cha, Thiện Sĩ, đứa con thơ và vô biên hằng hà sa số người khác. Như vậy nghĩa là tu theo đạo Phật cũng có thể đền đáp công ơn cha mẹ và giúp đời cứu người, chữ hiếu, chữ nhân trọn vẹn, và đạo Phật không trái chống với nguyên tắc của Nho giáo. (19)

Theo tác giả Nguyễn Lang, sự tích Quan Âm Nam Hải đã được Việt hóa một cách hoàn toàn. Ðức Quan Âm này, tuy là công chúa thứ ba con vua Diệu Trang ở nước Hưng Lâm (?)nhưng đã đi tu tại núi Hươ ng Tích ở Việt Nam và thành Phật tại đây. Truyện do một vị tăng đời Nguyên sáng tác. Công chúa thứ ba tên Diệu Thiện không muốn lấy chồng mà quyết chí đi tu. Nàng bị vua cha tìm mọi cách cản trở, hành hạ, ra lịnh xử chém, nhưng được một mãnh hổ cứu thoát. Nàng có dịp xuống địa ngục chứng kiến mọi cảnh khổ, vâng lời Phật dạy về tu tại núi Hương Tích, dùng một tay và một mắt của mình trị bệnh nan y cho vua cha, thuyết phục được cha mẹ bỏ ác làm lành rồi cả nhà cùng tu hành tại chùa Hương Tích. Hai nàng công chúa (chị của nàng) Diệu Thanh và Diệu Âm trở thành Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát.

Chân như đạo Phật rất mầu

Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân

Hiếu là độ được đấng thân

Nhân là cứu vớt trầm luân mọi loài.

Cũng như truyện Quan Âm Thị Kính, truyện Nam Hải Quan Âm chủ trương rằng tu theo đạo Phật vẫn có thể làm tròn chữ hiếu và thực hiện chữ nhân. (20)

Ngoài ra, một tôn giáo khác ở Việt Nam, Phật Giáo Tứ Ân cũng gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương hay đạo Lành do Ðoàn Minh Huyên (1807-1856) cũng gọi là Phật thầy Tây-An, thành lập tại xã Long Kiến, quận Chợ Mới, tỉnh An Giang, chủ trương bài trừ mê tín dị đoan, đơn giản hóa các lễ nghi Phật Giáo cho phù hợp với dân tình và khung cảnh đất đai Nam Bộ, nhất là chủ trương đáp đền bốn ơn lớn gọi là tứ đại trọng ân đó là ơn tổ tiên cha mẹ (hiếu), ơn đất nước (trung), ơn tam bảo (phật, pháp, tăng), ơn đồng bào và nhân loại (con người). Phật Giáo Tứ Ân do Ðức Phật Thầy Tây An thành lập truyền được ảnh hưởng lớn với các chi phái về sau như Phật Trùm, Ðức Bổn Sư Ngô Văn Lợi, Sư Vải Bán Khoai, Nguyễn Ða v.v... về sau có được 12 vị đại đệ tử như các ông Trần Văn Thành, Nguyễn Văn Thới, và sau này là Phật Giáo Hòa Hảo của Ðức Huỳnh Phú Sổ (1920-1947). Chữ hiếu cũng luôn được chú trọng đề cao trong các tôn giáo trên đây.

2.3. Khổng Giáo bàn về chữ hiếu

Lịch sử văn hóa Trung Quốc đã để lại những trang phong phú nói về đạo hiếu tự ngàn xưa trong đó có Kinh Thi được coi như ca dao, tục ngữ của Việt Nam, là một bộ môn văn chương bình dân tối cổ, có những câu nói về công ơn cha mẹ rất cảm động

Phụ hề sinh ngã, mẫu hề cúc ngã,

Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao,

Dục báo thâm ân, hiệu thiên võng cực.

Nghĩa là: cha sinh ta, mẹ nuôi ta. Hỡi ôi, cha mẹ sinh ta cực nhọc. Muốn đền đáp âm đức của cha mẹ, như vói lên trời cao chẳng cùng.

Khổng tử quan niệm chữ hiếu ở một mức độ rất cao. Trong sách Trung dung, Khổng tử có nói rằngá: Kính kỳ sở tôn, ái kỳ sở thân, sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn, hiếu chi chí giả: (nghĩa là: kính những người cha mẹ đã tôn trọng, yêu những người cha mẹ đã yêu mến, thờ cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc hãy còn, ấy là hiếu đến rất mực vậy). Là một bậc thầy uyên bác, Khổng tử có nhiều lối trả lời khác nhau khi được hỏi về chữ hiếu với các đệ tử. Mạnh Ý-tử (quan đại phu nước Lỗ, họ Trọng tôn, tên là Hà-Kỵ) hỏi thờ đấng thân thế nào gọi là hiếu. Ðức Khổng nói rằng: Thờ đấng thân mà không ngang trái là hiếu. Thầy Phàn trì ngự xe cho đức Khổng, đức Khổng bảo cho rằng: Họ Mạnh-tôn hỏi ta điều hiếu, ta thưa rằng: Không ngang trái. Thầy Phàn trì hỏi rằng: Lời ấy là ý bảo thế nào? Ðức Khổng nói rằng: nói không ngang trái là không ngang trái với lẽ phải. Người con thờ đấng thân, khi đấng thân còn thì phụng dưỡng cho phải lễ; khi đấng thân mất thì tống táng cho phải lễ; khi tế đấng thân thì tế cho phải lễ.

Mạnh Vũ-Bá (con Mạnh Ý-tử, tên là Trệ) hỏi điều hiếu. Ðức Khổng nói rằng: Cha mẹ chỉ chăm lo về tật bệnh người con.

Thầy Tử-Du (học trò Ðức Khổng, họ Ngôn, tên Yểm ) hỏi điều hiếu. Ðức Khổng nói rằng: Ðời nay chỉ bảo rằng nuôi được cha mẹ là hiếu. Nhưng suy đến loài hèn như khuyển mã, cũng còn nuôi nó cả. Nếu nuôi cha mẹ mà chẳng kính, thì có khác gì đâu.

Tử-Hạ (học trò của đức Khổng, họ là Bốc, tên là Thương) hỏi điều hiếu. Ðức Khổng nói rằng: Khi thờ cha mẹ, khó nhất là nét mặt hòa vui. Nếu kẻ đệ tử chỉ biết phục dịch làm thay việc khó nhọc cho phụ huynh, và có rượu cơm mời ngài xơi, những điều ấy có kể là hiếu đâu (21).

Trong lần khác, Khổng tử nói quan hệ của con cái đối với cha mẹ cũng thể hiện trong cuộc sống, cách sống. Khi cha mẹ còn, không bao giờ làm điều gì đề cho cha mẹ lo buồn, bởi vậy không nên đi đâu xa, có đi xa thì phải nói cho cha mẹ biết chỗ đi để cha mẹ khỏi lo, và nhỡ có việc gì, có thể tìm gọi được: “Phụ mẫu tại, bất viễn du, du tất hữu phương” (Luận ngữ: Lý nhân, IV). Những điều mà cụ Trần Trọng Kim vừa diễn đạt đó cũng còn có ít nhiều giá trị cho đến bây giờ. Trong Nho giáo, học giả họ Trần nói thêm: “Lấy lễ mà thờ cha mẹ không phải là cha mẹ làm điều gì trái đạo cũng theo. Khổng-tử nói: “Sự phụ mẫu cơ gián, kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi, lao nhi bất oán. (thờ cha mẹ thì khi cha mẹ có làm điều gì lầm lỗi, con phải tìm cách êm-đềm dịu-dàng mà can-ngăn, thấy cha mẹ không nghe, thì lại kính mà không trái lễ, dẫu có phải điều đau đớn khó nhọc cũng không oán giận”. (Luận ngữ, Lý nhân, IV). (22)

Ảnh hưởng của việc làm, tâm tính của bậc cha mẹ cũng tác động nhiều trên con cái. Khổng tử có dạy: “Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hành, tam niên vô cải ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hỷ”: cha còn thì phải xem cái chí của cha, cha mất rồi phải xem việc làm của cha, ba năm không đổi cái đạo của cha, khả gọi là hiếu vậy. (Luận ngữ, Học nhi, I) (23). Nhưng đối với Ðức Khổng, tinh thần trung dung luôn luôn được sử dụng như là một thái độ cần thiết trong cuộc sống con người. Một hôm Diệp-công bảo Khổng tử rằng: “Ngô đảng hữu trực cung giả, kỳ phụ nhương dương, nhi tử chứng chi” (xóm chúng tôi có người cứ lấy cái thẳng mà khiến mình: cha đi ăn trộm dê, mà con đi làm chứng). Ngài nói rằng: “Ngô đảng chi trực giả dị ư thị, phụ vi tử ẩn, tử vi phụ ẩn, trực tại kỳ trung hỷ” (người thẳng xóm chúng tôi thì khác thế: cha che chở cho con, con che chở cho cha, cái trực ở trong đó vậy.- Luận ngữ, Tử Lộ, XIII ) (24).

Ðức Khổng rất đề cao chữ hiếu vì đó là căn bản ứng xử của con người, từ đó mà việc thảo kính của con cái đối với cha mẹ đã được xem như là một đạo hiếu (hiếu đạo) và những tư duy về nguyên tắc căn bản trong sự đối đãi giữa con cái đối với cha mẹ có thể tìm thấy trong Hiếu kinh của họ Khổng. Mạnh tử cũng có nói: “Bất hiếu hữu tam vô hậu vi đại.” nghĩa là trong ba điều bất hiếu thì việc không có con nối dõi là điều bất hiếu to nhất.

Thầy Tử Lộ là một tấm gương chí hiếu đối với cha mẹ. Thuở mẹ ông còn sinh tiền, ông phải đi đội gạo thuê đàng xa để lấy tiền nuôi mẹ. Ðến khi ông thành công ở đời, xe ngựa rập rình, áo mũ xênh xang làm quan cao chức trọng thì cha mẹ ông đã qua đời hết. Ông buồn bã than rằng: “Mộc dục tịnh nhi phong bất đình! Tử dục dưỡng nhi thân bất tại”. Nghĩa là cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng! Con muốn nuôi báo hiếu mà cha mẹ chẳng còn sống. Thương thay nỗi lòng của thầy Tử Lộ cũng là nỗi đau khổ chung của những người con có hiếu!

Trong tác phẩm Trung Quốc Triết Học Sử, Bác Sĩ Hồ Thích cho rằng Khổng tử nói về hiếu đạo chưa đầy đủ bằng Tăng tử. Tăng tử nói: “Hiếu hữu tam: đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ thứ năng dưỡng”, nghĩa là: Hiếu có ba điều: đại hiếu phải tôn thân, sau nữa không làm điếm nhục, sau nữa mới nuôi dưỡng. Theo Hồ Thích, tôn thân là tôn cao cái nhân cách của mình, tôn cao cái nhân cách của cha mẹ mình, không hủy hoại thân thể mình; không làm điếm nhục đến cái nhân cách mà cha mẹ đã truyền cho ta và sau hết là nuôi dưỡng cha mẹ. (25)

Nói chung học thuyết Khổng Mạnh chú trọng đến chữ hiếu, đề cao chữ hiếu cho nên những lời Khổng tử nói với Tăng tử về chữ hiếu gồm thành một quyển sách gọi là Hiếu kinh, các nguyên tắc ứng dụng cho tròn chữ hiếu, các nghi thức thực hành hiếu đễ gọi là hiếu đạo đã ảnh hưởng rất sâu xa trong một số xã hội Á đông trong đó có Việt Nam từ xưa cho đến nay.

(Còn tiếp)

Những Bài Liên Quan:
LTS: Ý kiến bày tỏ trên trang Diễn Ðàn là của các tác giả, không nhất thiết phản ảnh quan điểm của nhật báo Người Việt và Người Việt Online.
Tìm kiếm bài :
Tin Khác