Nguyên Huy/Người Việt
Có lẽ không có một thôn xã nào ở Việt Nam lại không có ít ra là một nơi thờ phượng. Nơi ấy có thể là một mái chùa cong được xây dựng từ nhiều thế kỷ trước. Nơi ấy cũng là một ngôi đình làng như là một trụ sở của các quan viên trong làng vừa làm nơi tế tự Thành Hoàng của làng, vừa là nơi điều hành mọi việc trong làng. Nơi ấy cũng có thể là một ngôi đền khang trang hay một cái miếu nhỏ để tưởng nhớ đến công đức một nhân vật lịch sử hay một người đã có công giúp dân làng bản địa.
Tại những nơi thờ phượng này hình thức tôn giáo chỉ như một cái khung cái nền cho sự sinh hoạt tinh thần của người dân. Cụ thể như những ngôi chùa được xây dựng từ nhiều trăm năm qua, dấu tích kiến trúc hầu như còn được nguyên vẹn đã là những hình ảnh thân thuộc ghi đậm nét trong tâm trí mọi người ngay từ tuổi ấu thơ.
Ở Hà Nội vào những năm trước năm 1954 trước khi đất nước bị chia đôi, mỗi năm người dân Hà Nội lại rộn rã lên vì những ngày kỷ niệm lịch sử oai hùng tại những nơi thờ phượng này. Ngay đầu năm, khi không khí Tết còn quyện đọng trong sinh hoạt của mọi người thì ai nấy đã rủ nhau đi dự lễ giỗ trận Ðống Ða gần Khương Thượng ngoại thành Hà Nội vào ngày Mùng Năm Tết. Trong trí nhớ mờ nhạt của người viết thì giỗ trận Ðống Ða thường được tổ chức tại Gò Ðống Ða khi đó là ngoại thành Hà Nội. Gò Ðống Ða là một cái gò lớn gần Ngã Tư Sở, làng Khương Thượng.
Ngay từ sáng sớm nơi Gò Ðống Ða, chính quyền sở tại đã tập trung các chức sắc địa phương tụ tập trước một cái miễu khá lớn, tục truyền trong đó thờ viên tướng Tầu thua trận đã thắt cổ tự tử nơi đây là Sầm Nghi Ðống. Gò này, theo tục truyền, là mộ của hàng vạn quân nhà Thanh đã bị quân của vua Quang Trung Nguyễn Huệ tiêu diệt.
Ngày giỗ trận Ðống Ða thường được dân chúng Hà Nội kéo về tham dự rất đông. Trên các ngả đường Hàng Lọng, Khâm Thiên, trai thanh gái lịch sóng hàng đi bộ đến nơi hành lễ, chuyện trò râm ran, tíu tít rõ ra là một ngày Hội. Ngày giỗ trận kéo dài suốt từ sáng đến chiều cho dân Hà Nội đi dự lễ cũng là đi trẩy hội Xuân. Nhiều năm chính quyền địa phương đã tổ chức linh đình các cuộc tế lễ tại Gò Ðống Ða và thường cho trai gái quanh vùng diễn lại các trận đánh Hà Hồi, Ngọc Hồi của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, diễn lại cảnh tướng Sầm Nghi Ðống, một danh tướng của nhà Thanh bên tầu thua trận hết đường về Tầu phải thắt cổ tự tử trên một cành cây đa, nay cây đa ấy vẫn còn bên cạnh miếu thờ. Nay thì theo những người đã về thăm quê cho biết thì đầu năm không còn có giỗ Trận Ðống Ða như trước và khu di tích lịch sử này cũng đã bị thâu nhỏ lại.
Sau đó chỉ trong hai tuần lễ, dân Hà Nội lại nô nức đón mừng ngày kỷ niệm Hai Bà tại làng Ðồng Nhân bên bờ sông Hồng. Nơi đây có đền thờ Hai Bà. Tục truyền đền thờ Hai Bà có từ lâu lắm. Theo sách sử để lại, Ðền được dựng từ năm 1142 triều vua Lý Anh Tông. Ðến năm 1819 vì đất bên bờ sông Hồng lở nên dân làng Ðồng Nhân đã dời đền vào phía trong là địa điểm hiện nay là phố Ðồng Nhân, quận Hai Bà thành phố Hà Nội. Theo người dân địa phương thì nơi đây là nơi mà xác Hai Bà đã tấp vào bờ sau khi Hai Bà bị thua trận đã nhẩy xuống sông Hát Giang (còn gọi là Hát Môn) mà tự vẫn. Trong đền thờ có tượng Hai Bà, có bia kể lại công đức của Hai Bà đã có công đánh đuổi quân nhà Ðông Hán giành lại độc lập cho đất nước vào năm 39 sau công nguyên, lên làm vua được ba năm thì bị tướng nhà Hán là Mã Viện sang đánh. Hai Bà vì thế yếu không địch nổi bị quân Mã Viện đuổi đến sông Hát Giang thì Hai Bà đã nhẩy xuống sông tự vận.
Trường nữ trung học Trưng Vương vào thời gian này cũng đã tổ chức ngày lễ Hai Bà nhưng không tại đền Hai Bà ở làng Ðồng Nhân mà thường kỷ niệm như một ngày hội để các nữ sinh của trường diễn lại cảnh Hai Bà cưỡi voi cùng quân lính đánh đuổi Tô Ðịnh. Những nữ sinh được trường tuyển chọn đóng vai Hai Bà và các cận tướng của Hai Bà thường là những nữ sinh xinh đẹp, học giỏi, tính nết đoan trang. Cho đến khi trường Trưng Vương di cư vào Nam thì lễ hội này cũng vẫn được nhà trường tổ chức linh đình. Sau năm 1975, các cựu nữ sinh Trưng Vương dù tản lạc khắp các miền đất tự do nhưng vẫn tổ chức được những đại hội diễn lại cảnh oai hùng của các bực nữ lưu trong lịch sử. Nay thì những người được chọn đóng vai Hai Bà và các tùy tướng là con em của các cựu nữ sinh. Các em được chọn này thường là có thành tích xuất sắc trong học vấn tại địa phương hay là các hoa hậu của trường nơi các em học.
Nhắc lại lịch sử về Hai Bà, thì khi Mã Viện rút quân về đi qua biên giới Việt Trung, đã dựng một cột đồng trụ trên khắc “Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ Diệt” nghĩa là cột đồng trụ này đổ thì người Giao Chỉ sẽ bị diệt để trù yểm cái dân tộc anh hùng này. Vì thế nên người dân Giao Chỉ (Việt Nam) ai đi qua cũng lấy một viên đá đắp vào chân cột đến nỗi sau này đống đá cao lên lấp hẳn cột đồng trụ của Mã Viện. Trong thơ văn cổ của ta cũng có câu “Cột đồng Ðông Hán tìm đâu thấy, chỉ thấy Tây Hồ bóng nước gương” là để chỉ vào chuyện Mã Viện dựng cột trù yểm dân Giao Chỉ thì không thấy mà chỉ còn thấy nước Tây Hồ nơi Hai Bà tự vẫn sáng chói như gương cho ngàn đời soi.
Trong thành phố Hà Nội cũng còn có nhiều phố có những đình miếu cũ như ở phố Hàng Buồm có đền Bạch Mã thờ tượng thần Bạch Mã bằng gỗ Trầm, tục truyền Bạch Mã đã giúp vua Lý thái Tổ xây dựng thành Thăng Long từ thành cổ Ðại La được thành công, ở phố Hàm Long có đền Hàm Long thờ một vị Phụ Ðạo Quốc chính Ngô Long giúp vua Hùng Vương đời thứ 18, ở phố Hòa Mã có đền Hòa Mã thờ vị Thái Giám nhà Lê có công lập ra ngôi làng này v.v... Nhưng nói đến những di tích mà mọi người dân Việt gốc Hà Nội đã in hằn từ tuổi ấu thơ là hai nơi, một là đền Ngọc Sơn ngay giữa hồ Hoàn Kiếm trung tâm Hà Nội và hai là Chùa Một Cột nay thuộc quận Ba Ðình Hà Nội. Ngoài ra cũng còn một số nơi cũng đã in hằn trong tuổi trẻ Hà Nội trước năm 1954 như đường Cổ Ngư có chùa Trấn Quốc và đền Quan Thánh.
Nói về đền Ngọc Sơn cũng có thời gọi là chùa Ngọc Sơn được dựng trên một hòn đảo hình tròn nổi trong hồ Hoàn Kiếm. Theo những tài liệu còn trữ trong đền thì trên đảo từ thời nhà Trần đã có một ngôi chùa nhỏ nhưng đã đổ nát. Vào thời nhà Lê, nơi đây xây lên một cái đài để cho vua ngự đến câu cá. Ðến cuối đời Lê nơi đây dựng lên ngôi đền nhỏ thờ Quan Thánh Ðế Quân sau được một người làng Nhị Khê đến sửa sang lại, xây thêm tam quan, dựng gác chuông mở rộng ra thành một ngôi chùa lớn là Ngọc Sơn. Sau đó chùa được hiến cho hội Hướng Thiện và vào năm 1841, hội này trùng tu, bỏ gác chuông, xây lại các gian điện chính khiến quy mô to đẹp hơn. Vào năm 1865 một chiếc cầu gỗ được bắc lên nối đảo vào bờ. Cầu được gọi là cầu Thê Húc. Từ bờ vào đền, ngay đầu cầu là một tháp bằng đá được dựng lên mà đỉnh là hình ngọn bút lông nên được gọi là Tháp Bút. Trên tháp có tạc ba chữ “Tả Thanh Thiên” là “Viết lên trời xanh”. Cạnh đó là một tảng đá hình cái nghiên.
Phía đầu cầu vào đền thì có cổng đền xây như một cái lầu gọi là “Ðắc Nguyệt Lâu” (Lầu Lấy Trăng). Nay thì đền có ba ngôi nhà chính là Bái Ðường ở ngoài cùng, giữa là hai gian thờ Ðức Văn Xương, gian trong cùng thờ Ðức Trần Hưng Ðạo. Trước mặt Bái Ðường là Trấn Ba Ðình tức là Ðình Chắn Gió. Trong đền la liệt những câu đối của các danh sĩ Bắc Hà.
Còn nhớ vào Tết năm 1953 cầu Thê Húc đã bị sập đổ nơi khúc cầu bắc vào đất liền vì số người đi lễ Giao Thừa tại đền Ngọc Sơn quá đông khiến người trên cầu không thể nhúc nhích được và cứ phải đứng hàng giờ chờ đợi khiến cầu không chịu nổi sức nặng. Giao Thừa năm đó có gần cả trăm người bị rớt xuống hồ nhưng cũng may vì gần bờ, nước không sâu lắm nên không có ai bị chết đuối. Cho mãi đến gần sáng Mùng Một Tết, người đi lễ Giao Thừa đã vào được trong đền trước đó mới lần lượt được thuyền chở vào bờ.
Còn chùa Một Cột là một kiến trúc khá độc đáo thuộc quận Ba Ðình Hà Nội ngày nay. Tương truyền vào năm 1049, vua Lý Thái Tông nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên toà sen và vua được dắt lên đó. Tỉnh dậy vua đem việc ấy hỏi các quan. Có sư ông Thiền Tuệ khuyên vua nên làm chùa theo hình thức như một đóa sen rồi chư tăng sẽ đến tụng kinh cầu đàn cho vua sống lâu kéo dài cõi phúc. Vua thuận nên chùa khi xây xong cũng còn được gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài cõi phúc).
Kiến trúc của chùa Một Cột Diên Hựu độc đáo ở chỗ ngôi chùa nhỏ được dựng trên một trụ đá giữa một hồ sen. Trụ đá có đường kính 1,2 mét và cao 4 mét không kể phần chìm dưới đất. Trụ đỡ một hệ thống kiến trúc là một ngôi chùa vuông vắn mỗi bề 3 mét, cao chừng 1,5mét. Cả hệ thống kiến trúc này trông như một đóa hoa sen nở trên cành sen thẳng đứng. Ðường vào chùa là một cầu thang bằng gạch bắc từ bờ lên thẳng vào Phật Ðài. Trên cửa Phật Ðài có ba đại tự “Liên Hoa Ðài”. Trong điện thờ có đặt Tượng Quan Âm.
Chùa Một Cột thường được xem như một biểu tượng của Hà Nội nên khi quân Pháp rút đi vào tháng 10 năm 1954 đã cho người đặt mìn phá đổ.
Người Hà Nội ở lại trong chế độ mới “Dân Chủ Cộng Hòa” của ông Hồ Chí Minh bỗng thấy Hà Nội cũng đổ vỡ tan hoang trong mọi nếp sống, sinh hoạt chẳng khác gì ngôi chùa Một Cột đã bị phá đổ. Sau đó ít năm thì nhà cầm quyền Hà Nội cũng cho xây cất lại theo kiến trúc cũ.
Tại Việt Nam cũng có nhiều nơi khác dựng chùa Một Cột. Như ở Ninh Bình, thôn Yên Thành cũng có một chùa gọi là chùa Nhất Trụ được xây dựng từ năm 995 dưới triều vua Lê Ðại Hành. Chùa nay chỉ còn lại một trụ đá hình 8 cạnh cao 3,6 mét. Trên đỉnh cột có chạm hình bông sen nở. Nghe nói vào năm 1944 chùa đã được dân chúng trùng tu sửa chữa.
Ngoài ra tại Thủ Ðức cũng có một ngôi chùa được gọi là “Nam Thiên Nhất Trụ” trên đường Nguyễn Du trong thị trấn Thủ Ðức. Chùa này do Hòa Thượng Thích Trí Dũng dựng vào năm 1959 do kiến trúc sư Nguyễn Gia Ðức thiết kế có Ðài Liên Hoa phỏng theo Liên Hoa Ðài của chùa Một Cột Hà Nội. Trong chùa có nhiều pho tượng Phật như Phật Thích Ca ở chính điện, tượng Phật A Di Ðà, tượng Phật Di Lặc. Chùa cũng còn có tháp Nam Thiên với kiến trúc rất đẹp.
Tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại có được hoàn cảnh tốt đẹp cho tương lai sự nghiệp của mình, nhưng cũng có một thiệt thòi là khá xa lạ với quê hương đất nước. Họ sẽ không bao giờ có được những giờ phút tưởng nhớ đến một cánh đồng trơ gốc rạ vào Mùa Ðông mà trên đó ở một vài nơi người ta xúm đông xúm đỏ tụ hợp nhau trong phiên chợ Tết để cảm thấy những cái thiêng liêng vô hình vô ảnh đang trở về. Họ cũng không bao giờ có được những phút lắng lòng khi nghe tiếng chuông chùa vào một buổi chiều yên tĩnh để nhận ra rằng cuộc sống còn có mặt tâm linh. Họ cũng không thể có được những suy nghĩ về cuộc sống tinh thần vững chắc của dân tộc đã dàn trải qua bao đời với những mái đình, cảnh chùa, miếu mạo, đền đài và những di tích lịch sử ngay nơi mình được sanh ra và lớn lên. Những di tích ấy không chỉ là những kiến trúc ghi lại nền nếp văn minh của dân tộc mà ở đó nó còn là cái hồn của chúng ta, nhất là vào lúc chúng ta phải đương đầu với giặc ngoại xâm đang xâm lấn đất nước mà lại được những “Lê Chiêu Thống” thời đại là cộng sản Việt Nam tiếp tay bán đứng. (NH)