Cuộc tổng tuyển cử lịch sử 2008
Wednesday, November 05, 2008 Bookmark and Share

Cổ Lũy

Bài vừa qua đã đề cập tới những tiến triển tích cực (về mặt tiền bạc, tổ chức nhân sự, cũng như “thiên thời, địa lợi”) cho mặt trận tranh cử của liên danh Dân Chủ Barak Obama-Joseph Biden hai tuần lễ trước ngày tổng tuyển cử (và kể từ đầu Tháng Mười). Ðồng thời, mặt trận tranh cử của liên danh Cộng Hòa John McCain-Sarah Palin cũng được xem như gập nhiều khó khăn trong những vận động của mình, ngay cả ở những tiểu bang “Ðỏ” đã bầu cho ứng viên Cộng Hòa trong kỳ tổng tuyển cử 2004. Những trình bày đều dựa trên tin tức, con số và phân tích giới truyền thông (giới này lại dựa trên những học giả, giáo sư đại học, chuyên viên) trong nước đưa ra; tuy nhiên, mặt trận McCain và một số giới Cộng Hòa lên tiếng than phiền, chỉ trích là “giới truyền thông dòng chính tự do tiến bộ” (“mainstream liberal media”) không vô tư và như nghiêng về phía ứng viên Dân Chủ. Sự thật có như vậy chăng?

Những theo dõi, thống kê về truyền thông cho thấy tin tức trên báo chí, Internet và truyền hình về ứng viên Barak Obama không phải lúc nào cũng tích cực, nhưng rõ rệt là tiêu cực cho ứng viên McCain: hơn một phần ba tin tức tích cực về ông Obama, so với khoảng gần một phần ba tiêu cực; và gần một phần ba là ở giữa, hoặc lẫn lộn cả hai. Theo Trung Tâm Nghiên Cứu Pew (PRC, Pew Research Center rất độc lập và uy tín) về báo chí (www.journalism.org.), một nửa tin tức về ông McCain là tiêu cực và khoảng hai phần mười tin là tích cực. Nhìn theo con số có thể nói giới truyền thông thiên vị ông Obama hoặc “ghét bỏ” ông McCain; tuy nhiên, dựa theo con số trong kỳ tranh cử này cũng như các tranh cử trước những chênh lệch dựa vào mức thành công của ứng viên hơn là việc họ thuộc đảng nào. Năm 2000, tin tức về ứng viên Dân Chủ Al Gore tiêu cực y hệt như ứng viên McCain năm nay; tin tức về ứng viên Cộng Hòa George W. Bush tích cực hơn, nhưng vẫn tiêu cực hơn ông Obama năm nay (kết quả: ông Bush thắng qua quyết định của Tối Cao Pháp Viện, với tỉ số không rõ rệt). PRC đi đến kết luận: “Ðiều này cho thấy thắng lợi trong chính trị [ngoài thực tế] đưa đến thắng thế về tin tức [từ giới truyền thông]. Tin tức về ông Obama tiêu cực khi ông đi xuống trong thăm dò dư luận, và tích cực khi ông đi lên theo thăm dò dư luận, và trường hợp ông McCain cũng y hệt.” Tin tức về ứng viên phó tổng thống Cộng Hòa Sarah Palin chuyển từ phần lớn tích cực sang phần lớn tiêu cực trong thời gian sáu tuần lễ, sau những phỏng vấn quá yếu kém trên truyền hình và điều tra lạm dụng quyền thế của bà và phu quân ở Alaska. Người ủng hộ bà trách giới truyền thông chú mục vào đời tư và gia đình bà để đi đến tiêu cực; sự thật, chỉ có năm phần trăm tin tức để ý đến việc này. Ứng viên phó tổng thống Dân Chủ Joseph Biden, “người vô hình” vì ông ít xuất đầu lộ diện, lại bị giới truyền thông mô tả tiêu cực hơn cả bà Palin, và đi gần đến mức ngang với ông McCain.

Nghiên cứu cũng cho thấy tin tức tích/tiêu cực về ứng viên thay đổi với thời gian: khi ông Obama bắt đầu xuất hiện đầu năm 2007 tin tức về ông tích cực ba lần hơn tiêu cực. Khi tranh cử sơ bộ với bà Hillary Clinton, mức tin tức tích/tiêu cực ngang nhau; sau hai đại hội đảng đưa đại diện chính thức tranh cử mức này cũng giống y hệt. Cuối Tháng Chín với những náo loạn về kinh tế bị dân chúng xem như trách nhiệm của đảng Cộng Hòa đang cầm quyền, mức tích cực gia tăng cho ông Obama. Khủng hoảng tài chính tiếp theo và phản ứng “nông nổi” của ông McCain khiến tin tức về ông bốn lần tiêu cực hơn tích cực. Giống như các tranh cử trước, nghiên cứu cũng nhận xét giới truyền thông chú ý vào khía cạnh “đua ngựa” giữa đôi bên để lôi cuốn dân chúng: hơn một nửa là về chiến thuật, chiến lược, thăm dò dư luận dân chúng, vân vân; hơn một phần năm tin tức để ý vào chính sách đôi bên, nhưng cũng chú ý nhiều vào phản ứng dân chúng với các chính sách đưa ra. Như thế, khó thể nói giới truyền thông nghiêng về ứng viên đảng nào trừ phần lớn chương trình truyền thanh, hệ thống truyền hình Fox và tờ Wall Street Journal (thuộc “vua” truyền thông bảo thủ Rupert Murdoch), cũng như tờ Washington Times “bảo thủ hơn vua chúa.”

Gần đến ngày tổng tuyển cử, giới truyền thông và mặt trận McCain bắt đầu chú ý đến tranh cử giữa các nghị sĩ và dân biểu (trong Quốc Hội liên bang) đi kèm với tranh cử tổng thống, vì ảnh hưởng lớn lao của Quốc Hội (lập pháp) vào chính quyền mới (hành pháp) đầu năm tới. Phe Dân Chủ nắm lại đa số trong Quốc Hội năm 2006 khi dân chúng bất mãn với Tổng Thống Bush và đảng Cộng Hòa (xin xem loạt bài về nguyên nhân: chiến tranh Iraq và hối mại quyền thế của phe Cộng Hòa, trên nguyệt san Thế Kỷ 21, từ 2003, 2005 và 2006, cùng người viết). Hai năm sau đó mức bất mãn không thuyên giảm, đồng thời những khó khăn kinh tế lại gia tăng: giới dân cử Dân Chủ nay như sẵn sàng đi theo đà ứng viên tổng thống của mình đi lên (“riding the coat tail”) để đẩy mức đa số khiêm nhường đến mức tối đa và theo tờ báo Anh The Economist với uy tín khắp thế giới, “có lẽ sẽ thay đổi hẳn chính trị Mỹ trong nhiều năm sắp đến.” Cũng theo báo này, trong tuyển cử năm nay phe Dân Chủ (đã hơn phe Cộng Hòa 36 ghế) có thể lấy thêm từ 20 đến 25 ghế trong Hạ Viện. Chỉ sáu dân biểu Dân Chủ rút lui khỏi Hạ Viện trong khi 29 dân biểu Cộng Hòa rút lui vì nhiều lý do khác nhau; những lo sợ và bất mãn rộng lớn về kinh tế (dù Quốc Hội bị mất tín nhiệm rất nhiều, người đi bầu thường qui tội cho đảng đang nắm Tòa Nhà Trắng) còn giúp người mới phe Dân Chủ lấy được ghế của dân biểu đối lập đang tại chức.

Thượng Viện gồm 100 nghị sĩ với nhiệm kỳ sáu năm thường quen biết, gần gũi nhau thân mật nay đã thành chiến trường gay cấn sau tám năm chính sách chia rẽ, sát phạt từ Tòa Nhà Trắng. Phe Dân Chủ hiện chỉ nắm 49 ghế ngang hàng với phe Cộng Hòa nhưng được lợi thế hai nghị sĩ độc lập ngả về mình, nay quyết tâm lấy cho được đa số 60-40. Ở hai tiểu bang Oregon và Minnesota, hai nghị sĩ Cộng Hòa ôn hòa Gordon Smith và Norm Coleman có thể mất chức trước ngọn triều Dân Chủ; hai tiểu bang khác có vẻ Xanh (bầu cho ứng viên Dân Chủ) hơn dù trước đây là Ðỏ (từng bầu cho Cộng Hòa năm 2004): Colorado và New Mexico. Những tiểu bang Ðỏ tưởng như không thể mất được nay con số lên đến 13, lung lay ở mức độ khác nhau; đáng chú ý là Alaska (nghị sĩ thâm niên Ted Stevens mới mang tội hối mại quyền thế), Connecticut, North Carolina, Kentucky, Georgia và Mississippi. Ứng viên tổng thống Obama mang nhiều lợi thế cho ứng viên Quốc Hội phe Dân Chủ: (a) trong 21 tháng tranh cử ông đã xây dựng tổ chức hữu hiệu, hệ thống hoạt động chặt chẽ mà các ứng viên cùng đảng có thể dựa vào; (b) mặt trận tranh cử đã ghi danh được cả hàng trăm nghìn người đi bầu mới, và; (c) khả năng gây quỷ “thần sầu” (605 triệu tính tới Tháng Chín) giúp giới lãnh đạo đảng chi tiêu tranh cử rộng rãi. Với đa số 60 nghị sĩ “riding the coat tail” của ông Obama và cảm ơn ông, Thượng Viện sẵn sàng ngăn chặn những “filibuster” (một phe nói huyên thuyên trước nghị trường để không bàn cãi đề nghị, hoặc thông qua dự luật phe đối lập đưa ra) bất lợi cho đảng Dân Chủ, nhất là khi ông Obama đắc cử và muốn làm luật hay thi hành một chính sách, biện pháp nào quan trọng nhất là bổ nhiệm chánh án Tối Cao Pháp Viện hoặc những chức vụ cao khác cần đa số Thượng Viện vững chắc. Nếu ông McCain đắc cử, ông sẽ khó làm việc vì đa số đối lập; đa số này cũng có thể vô hiệu hóa những phủ quyết (veto, tổng thống không chịu ký dự luật Quốc Hội đã thông qua để thành luật) từ Tòa Nhà Trắng không cùng đảng với mình. Ðàng nào phe đa số 60-40 trong Thượng Viện cũng lợi.

Hiển nhiên đây là mối bận tâm lớn cho mặt trận Cộng Hòa, ngay trước mắt cũng như về lâu về dài. Ông McCain công khai đề cập đến nguy cơ một tổng thống Dân Chủ với đa số trong Quốc Hội cùng đảng bắt đầu tuần lễ cuối Tháng Mười để lấy lợi thế tranh cử, và ông cũng có thêm lý do làm chuyện này. Dân chúng Mỹ thường muốn không một đảng nào quá mạnh, và phân quyền rõ rệt giữa hành pháp, tư pháp và lập pháp (“separation of power,” theo triết gia chính trị Pháp Montesquieu, như điều kiện tất yếu để có dân chủ; kinh nghiệm chính trị cận đại còn đòi hỏi thêm “một giới truyền thông độc lập, và dân trí cao” như yếu tố không thể thiếu được). Thí dụ thấy rõ: ông Bill Clinton vừa nắm quyền hai năm với đa số Dân Chủ thì dân chúng bầu cho phe Cộng Hòa chiếm lấy đa số trong Quốc Hội; ông Bush được sáu năm với đa số Cộng Hòa trong Quốc Hội trước khi đảng của ông bị dân chúng “trừng phạt” nặng nề như hai năm gần đây cho thấy. Trong tổng tuyển cử năm nay, người nhất quyết bỏ phiếu cho ông Obama vào Tòa Nhà Trắng có thể muốn chọn người Cộng Hòa vào Quốc Hội để hành pháp Dân Chủ không quá mạnh; người muốn chọn người Dân Chủ vào Quốc Hội cũng có thể muốn ông McCain vào Tòa Nhà Trắng để giữ đa số lập pháp Dân Chủ không quá mạnh.

Dĩ nhiên ông McCain hy vọng phe Dân Chủ sẽ nắm Quốc Hội và dành cho ông Tòa Nhà Trắng, nhưng thực tế chính trị như không phản ánh điều ông muốn. Một tuần lễ trước bầu cử, theo tin của thông tấn xã Associated Press (AP) Ủy Ban Trung Ương đảng Cộng Hòa phải xuất tiền vào quảng cáo tranh cử cho ông McCain ở tiểu bang Ðỏ Montana, và West Virginia gần nửa thế kỷ không ủng hộ đảng Dân Chủ. Mặt trận McCain lại bị vướng chân ở các tiểu bang Ðỏ truyền thống khác, nay đã ngả về phe Dân cCủ ở tỉ số từ 3 đến trên 10 phần trăm. Ðồng thời, ông Obama bỏ qua Pennsylvania hơn tuần lễ (nhưng vẫn giữ ưu thế hơn 10 phần trăm ở tiểu bang Xanh lớn này) để dồn thì giờ vận động tranh cử nhiều hơn nhằm đạt chiến thắng lớn ở các tiểu bang Ðỏ lớn nhỏ khác: Florida, Ohio (hai tiểu bang lớn có thể quyết định kết quả bầu cử ”sinh tử” cho ông McCain, nhưng ông Obama chỉ cần một), Missouri, North Carolina, Virginia, Colorado, Nevada và New Mexico. Ở ngay tiểu bang “nhà” Arizona từng ủng hộ ông hơn một phần tư thế kỷ, ông McCain cũng bị đe dọa.

Cũng một tuần trước bầu cử, thăm dò dư luận dân chúng của nhật báo uy tín toàn quốc và quốc tế Los Angeles Times và thông tấn xã Bloomberg cho thấy ông Obama dẫn đầu đối thủ McCain ở hai tiểu bang Ðỏ Florida (với 27 phiếu cử tri đoàn, electoral vote quyết định bầu cử) và Ohio (20 electoral vote) vì dân chúng tin tưởng khả năng đương đầu với khó khăn kinh tế của ông. Ở Ohio với tỉ số thất nghiệp cao nhất nước, gần một nửa người đi bầu chọn ông Obama so với 40 phần trăm cho ông McCain; Florida, trước đây không lâu là Ðỏ, nay ngả về Obama 50 phần trăm so với 43 phần trăm cho McCain. Ở cả hai tiểu bang ông Obama dẫn đầu ông McCain rõ rệt trong số người đi bầu phái nữ, người trẻ, người đi bầu lần đầu, người da đen và những nhóm thiểu số khác; ông cũng dẫn đầu phiếu da trắng lao động hơn 14 phần trăm ở Ohio. Ông McCain vẫn được xem là sẵn sàng đương đầu với khủng bố và chiến tranh Iraq hơn ông Obama; tuy nhiên, ít người đi bầu ở hai nơi (18%) xem đây là hệ trọng so với những xáo trộn ghê gớm về kinh tế. Ông cũng lấy được phiếu người da trắng khá giả và lớn tuổi hồi hưu ở trung tâm Florida nắng ấm (“snow birds”), nhưng nói chung số phiếu này không đủ cứu vãn ông. Theo khuynh hướng chung, càng gần đến ngày bầu cử mức cách biệt ủng hộ cho hai bên thu hẹp lại; tuy nhiên ông Obama vẫn giữ được khoảng cách thoải mái ở ngay cả các tiểu bang Ðỏ, và số electoral vote gần 300 thừa để đắc cử, và khiến một số giới truyền thông đoán ông sẽ thắng với tỉ số lớn lao (landslide). Nhưng một điều vẫn gây chú ý tuy không hẳn là lạ trong bầu cử Mỹ: sau gần hai năm tranh cử với giới truyền thông ra rả tin tức ngày đêm, từ năm đến bẩy phần trăm người đi bầu Mỹ vẫn “chưa quyết định được” (undecided) sẽ bầu cho ai! Riêng năm nay với một ứng viên da đen nhiều nhà quan sát nghĩ số người loại bình dân, thiếu hiểu biết, hoặc không chịu tìm hiểu (gọi chung là Low Information Voters, LIV) này có thể đã chọn không bầu cho ứng viên da đen nhưng không muốn nói ra. Nếu đúng như vậy, ông McCain có hy vọng “lật ngược thế cờ” ở nhiều tiểu bang Ðỏ bị đe dọa.

Về mặt hiệu quả chiến thuật “bôi bẩn” (“smear tactic”) của giới Cộng Hòa đối với người bình dân ít học và kỳ thị, cũng như người đi bầu loại LIV, hiện 7 phần trăm ở hai tiểu bang trên vẫn tin ông Obama là “người Hồi Giáo” hay A Rập, trong khi 47 phần trăm không chắc ông theo tôn giáo nào (như đại đa số người Mỹ, ông thuộc đạo Tin Lành); một số người lại đặt nghi vấn ông không phải công dân Mỹ so với ông McCain là “người Mỹ thật sự” (“real American”), như tín hiệu mặt trận McCain thường dùng. Ðể “hạ” ông Obama ở ba tiểu bang ông McCain cần thắng, một ủy ban sách động chính trị Cộng Hòa (Republican Trust PAC) đã bỏ tiền cho chạy video trên hệ thống truyền hình CNN ở Ohio, Pennsylvania, Florida và cả Nam California những bài giảng đạo “nẩy lửa” của mục sư tranh đấu da đen Jeremiah Wright (trước đây là mục sư gia đình Obama), sau khi “bôi bẩn” ông Obama liên hệ với “khủng bố nội địa” Willam Ayers (xin xem Từ Nam California kỳ trước, cùng người viết) của mặt trận McCain không mấy hiệu quả. Ðể tranh thủ phiếu người gốc Do Thái, nhất là ở Florida với ba phần tư từng bầu cho ứng viên Bill Clinton và John Kerry, ông McCain và bà Palin lôi chuyện cũ đã nửa năm nay về “liên hệ” giữa ông Obama và học giả người Palestine, Rashid Khalidi, cũng là giáo sư đồng nghiệp tại viện đại học Illinois ở Chicago với ông Obama (xin xem Ảnh Hưởng “Lốp Bi” Do Thái Ở Hoa Kỳ, trên Thế Kỷ 21, bốn tháng cuối năm 2007, cùng người viết). Ngày trước cuối Tháng Mười, cựu Tổng Thống Bill Clinton với nhiều cảm tình và ảnh hưởng quần chúng lần đầu tiên xuất hiện chung và vận động triệt để cho ông Obama ở Florida, tiểu bang hầu như luôn luôn có lem nhem về đầu phiếu (như quyết định thôi ngưng kiểm phiếu lại, cho ông Bush đắc cử năm 2000). Ðồng thời, bà Palin với ủng hộ mạnh của giới bảo thủ tôn giáo và xã hội “chủ lực” Cộng Hòa cũng bị đồn như muốn độc lập với mặt trận tranh cử McCain để củng cố vị thế mình cho tranh cử 2012.

Với thêm khoảng chín triệu người mới ghi danh đầu phiếu toàn quốc năm nay, phần đông thuộc thành phần ngả về Dân Chủ như nhắc đến ở trên, Florida lại thành nơi tiêu biểu với những “trục trặc” với đầu phiếu, cả về mặt kỹ thuật lẫn chính trị. Quốc Hội thông qua luật America Vote Act năm 2002 sau vụ Florida để cung cấp cho tiểu bang dụng cụ, máy móc mới ghi danh cử tri, nhưng số người ghi danh vượt bực năm nay như đã đi quá khả năng nhiều tiểu bang. Florida đưa ra nguyên tắc có vẻ hợp pháp “[ghi danh] không đúng, không được bỏ phiếu” (“no match, no vote”) nhưng đã khiến mười nghìn người ghi danh từ đầu năm bị loại (vì họ đã mất nhà ở, hoặc thuê nhà với địa chỉ mới, vân vân nói chung bất lợi cho người lợi tức thấp, da mầu và bầu Dân Chủ). Florida cũng là một trong năm tiểu bang bị bộ tư pháp liên bang kiện vì bị nghi cố ý hoặc vô tình vi phạm quyền đầu phiếu của người da mầu. Các tổ chức tư nhân không thuộc đảng nào như Advancement Project, luật sư đoàn toàn quốc ABA, League of Women Voters, Lawyers for Civil Rights Under Law, hệ thống truyền hình CNN, Common Cause, Brennan Center for Justice (đại học NYU), ACORN cũng đệ đơn kiện hơn mười tiểu bang Ðỏ lem nhem hoặc kêu gọi, giúp đỡ dân chúng bị vi phạm quyền đầu phiếu khiếu nại. Những tổ chức này cũng kêu gọi thành lập một tòa án đặc biệt để xét xử kết quả tổng tuyển cử thay vì đặt việc này vào tay Tối Cao Pháp Viện bảo thủ thiên Cộng Hòa như năm 2000. Mặt trận Dân Chủ, với tiền bạc dồi dào, tổ chức chặt chẽ và số người tình nguyện hùng hậu hơn hẳn mặt trận Cộng Hòa năm nay, tích cực vận động dân chúng đi bầu đông đảo và nhất là sớm để tránh hoặc có đủ thời gian khiếu nại những “trục trặc.” Trừ Florida, người đi bầu mới, người đi bầu không đều đặn (“sporadic,” có kỳ bầu, có kỳ không), và độc lập ở 34 tiểu bang cho phép đầu phiếu sớm ngả rõ rệt về phía ông Obama một điều mới mẻ vì đảng Cộng Hòa thường chiếm đa số người đi bầu hăng hái đầu phiếu sớm (tại chỗ hay qua bưu điện). Theo mức độ này, tính đến ngày đầu phiếu chính thức hơn một phần ba cử tri toàn quốc đã đi bầu sớm. Ngày cuối trước tổng tuyển cử, ứng viên McCain và Palin vẫn hăng hái đi nhiều tiểu bang quan trọng để tranh cử; ứng viên Obama và Biden chỉ vận động hạn chế, nhất là với tin bà ngoại từng nuôi nấng ông Obama từ bé qua đời ở Hawaii. Mặt trận Obama cũng sử dụng ưu điểm tiền bạc và nhân sự rõ rệt của mình để đánh bạt chiến thuật “72 giờ trước tổng tuyển cử” (từ cố vấn Karl Rove, nhằm bão hòa thông tin lợi cho mình và hại cho đối thủ ba ngày trước bầu cử chính thức bằng mọi phương tiện) của mặt trận McCain.

Ngày tổng tuyển cử đã diễn ra toàn quốc đúng Thứ Ba, 4 Tháng Mười Một, sau gần hai năm tranh cử tưởng như không bao giờ chấm dứt. Kết quả tính đến cuối ngày bầu cử ở California thuộc múi giờ trễ miền Tây cho thấy con số kỷ lục 134 triệu người đã tham dự tổng tuyển cử (chưa từng thấy trong 100 năm) với kết quả rõ rệt: 47 phần trăm chọn ông McCain so với 52 phần trăm chọn ông Obama theo báo Anh The Guardian, “dân chúng Mỹ quay lưng lại với quá khứ nô lệ và kỳ thị để chọn tổng thống da mầu đầu tiên [trong toàn lịch sử chính trị Hoa Kỳ].” Khoảng tám giờ tối California liên danh Obama đã lấy được 297 phiếu cử tri đoàn (electoral vote) vượt quá số 270 để đắc cử, trong khi liên danh McCain chỉ được 139 phiếu. Khoảng nửa giờ sau, liên danh Obama đã đạt được 333 electoral vote, so với 155 cho liên danh McCain; theo đà này, ông Obama có thể lấy được 349 electoral vote và ông McCain chỉ được 163. Ở Hạ Viện, đảng Dân Chủ chiếm 248 ghế so với 162 cho Cộng Hòa, với 25 ghế chưa rõ rệt. Ðảng Dân Chủ cũng chiếm 56 ghế Thượng Viện (thêm hai ghế độc lập ngả về Dân Chủ sẵn) với hai ghế chưa rõ rệt; đảng Cộng Hòa chiếm 40 ghế.

Sau gần một năm liên tục theo dõi và trình bày diễn tiến cuộc tranh cử lịch sử, Từ Nam California sẽ tiếp tục ghi nhận các sự kiện và quan điểm vô tư và khoa học.

Những Bài Liên Quan:
NGUOI VIET Online (www.nguoi-viet.com)
Tìm kiếm bài :
Nguoi-Viet

Promote Your Page Too
Tin Khác