Bảy nốt Bê-Môl
Saturday, November 29, 2008 Bookmark and Share
medium_NVT-081129-LE-GIANG-TRAN.jpg

BLOG TÀ TÀ

Kỳ 1

Lê Giang Trần

Vừa từ phi trường LA về tới Little Saigon. Trong lúc vợ con Thắng vào chợ ABC, hai thằng trên tay ly nước mía đứng đợi ngoài hiên nhìn bà-con-ta đi qua đi lại. Chợt Thắng nói “Giống về Việt Nam quá!” Tôi đang bềnh bồng những ý tưởng bắt nhịp lại cái đời sống rời đi cách nay một năm ba tháng. “Cali tới dễ khó về” đã cột chân cột cẳng con-thú-mê-mùi-rau-thơm tôi hai mươi lăm năm. Tôi rời mắt khỏi vị sư cô đang đứng quyên tiền giúp trẻ tàn tật ở Việt Nam, đáp lại “Ờ, tao cũng thấy ngộ thiệt!” rồi trong đầu chợt ví von ngộ nghĩnh “Cali bây giờ sao giống như bảy nốt nhạc đều bê-môl.”

Hai nốt Fa và Do giáng thì hóa sinh thành Mi, Si bình thường, năm nốt kia đều lui về lơ lửng lưng chừng. Kiến thức nhạc lý của tôi tồi quá nên không biết có sáng tác nào năm Thăng sáu Giáng hay không? Mà thắc mắc làm chi! Tưởng tượng cả bảy nốt đều bê-môl hết thì đáng buồn thiệt!

Tôi hợp với âm giai Thứ hơn Trưởng. Cầm guitar lên thường bấm dạo hợp âm Mi-thứ, rồi thì nhạc Trịnh rơi theo. La-thứ bình thường quá, không đủ sức tạo xúc cảm cho tôi nuông chiều nó. Rê-thứ reo rắt buồn nhưng chưa buồn sâu. Do-thứ làm lòng chùng xuống như chán đời thất tình. Si-thứ buồn thanh thoát nhẹ nhàng như gió Thu. Mi-thứ mông mênh rộng, nhiều nốt buông thả, tự nhiên hơn. Có lẽ thế, tôi dễ thả hồn theo “Ướt Mi,” “Biển Nhớ,” “Bài Không Tên Số Hai,” “Tình Nhớ”... Thả lòng theo hơi hám bồng bềnh ấy như thả hồn theo tiếng chèo khua sóng nước trên sông đêm tĩnh mịch.

Có một lúc, tôi đọc thường xuyên truyện ngắn, “nghe nói” thì tìm đọc “truyện dài nghe nói” ấy. Ðọc những nhà văn có cùng cuộc sống xa nhà, xa quê hương xứ sở, chia sẻ một chút tâm trạng mà chữ dao to búa lớn gọi là “lưu vong.” Ðọc giống như tìm chút lửa ấm lòng, cho vui-đời-tị-nạn. Truyện ngắn “Vận Tốc Trung Bình” của Lê Thị Huệ tôi rất thích, truyện ấy có lần nghe nhà văn Mai Thảo khen “tuyệt vời.” Một số truyện giản dị dí dỏm ban đầu của Nguyễn Ngọc Ngạn làm tôi cười thích thú và nhớ khá lâu. Ðọc “Vũ Ðiệu Loài Công” của Trần Diệu Hằng. Tập truyện “Ngựa Nản Chân Bon” của Nguyễn Mộng Giác tôi đọc đôi ba lần và rất lấy làm thú vị. Trần Vũ với “Ngôi Nhà Sau Lưng Văn Miếu” cùng một ít truyện khác, tạo ra nhiều tiếng vỗ tay đầy khâm phục của giới yêu văn chương.

Rồi thì cơn-sóng-một-thời ấy cũng lắng dần. Biển không còn những con thuyền nhỏ bé liều mạng vượt thoát khỏi Việt Nam, mà, biển bắt đầu có những con tàu trên trời bay về tìm đất mẹ. Nhiều đêm một mình lái xe thăm biển vắng, ngồi lặng lẽ, lơ ngơ trong gió lạnh sương chùng, lắng nghe tiếng vỗ rì rào của sóng, dõi mắt nhìn tận xa ngoài mặt biển đen ngòm, thỉnh thoảng thấy vài con chim nhỏ mình bông nâu như chim cút chạy xoèn xoẹt một khoảng xa trên bãi cát trước mặt rồi dừng lại, tôi cảm thấy mình cũng bơ vơ hắt hiu như chúng trong đêm khuya vắng lặng lạnh lùng. Ðến khi thấy lạnh đứng lên về, tiếng sóng còn đuổi theo sau lưng, còn âm rang trong đầu trống rỗng.

Vậy mà hai mươi lăm năm quẩn quanh con Phố Cát. Nhiều con phố mới mọc lên. Người Việt đông ra, bạn bè ít lại. Ai cũng đã xây xong tổ kén và thu mình vào đó. Một số “không may” thì gửi thời gian vào quán rượu tiệm cà phê. Sức của tuổi súng gươm vá trời bây giờ tay cầm gọn chai bia ly cà phê đắng. Nhạc dập dìu như thứ thuốc bôi vào những vết xước sây.

Sau mười sáu năm, tôi trở về thăm Việt Nam. Chuyến đi hai tuần lễ, nhanh chóng, vội vàng, ngẩn ngơ, hụt hẫng. Nhiều điều không dám nói thật, vòng vo tam quốc xa gần. Thằng bạn phát biểu, “Sao tụi mày nói tiếng Việt giỏi vậy?” và “lâu lắm mới nghe lại cái kiểu nói hồi xưa.” Trên đường về Bạc Liêu, thằng bạn thân cùng đi, ghé Mỹ Thuận ăn trưa. Chưa ăn xong, Thử, thằng bạn chạy tìm cầu cá tra. Trở lại vào bàn, mặt nhăn nhó nói “Mười mấy năm cái bụng nào biết tới mấy món cao cấp này nên nó không chịu nổi.” Mặt Thử bí xị đầy tiếc rẻ. Tôi ăn hết ngon con tôm càng xanh hấp nước dừa, buông đũa, thương bạn. Mặt cố điềm nhiên, tôi bảo Thử “Tao mày một xị đi, cho ấm bụng.”

Câu Thử than thở cái bụng nó, ám ảnh tôi suốt trên chuyến bay về Mỹ. Từ đó thôi, không còn “chuyện ngắn chuyện dài chuyện đôi ta” gì nữa.

(tựa nhỏ)

Nốt Bê-Môl hai

Tôi thuộc phần tử “không may,” không tạo được chiếc kén để thu mình vào tháp ngà. Nhưng không phải thành viên nâng niu ly cà phê đắng thả hồn theo lời nhạc ru xưa, tôi rơi vào thành phần vui sống với men cay. Nói vui chứ rất sợ say, mỗi lần “bị say” thì “buồn bỏ mẹ,” lúc ấy “rưng rức khóc ai hồn đáy cốc, mà tay quờ quạng muốn xô trời.” Ðôi lúc “Một đêm khuya bước vào quán rượu, gọi order em cho một nụ cười.” Có khi ngồi ngắm trời ngắm biển “Chiều nay biển chôn Mặt Trời xuống đáy, như tình yêu chôn vào rượu ta say.” Nguyễn Bá Trạc hôm ngồi chung một bọn bày đặt ăn nhậu mừng tập “Sài Gòn ở phố lưu vong,” lướt qua nhiều bài thơ rồi ngôn “Ơ cái anh này, bài nào cũng có rượu ở trong.” Bấy giờ tôi mới để ý.

Cái khoảng sống quẩn quanh xóm chợ ấy, tôi rơi vào “làng báo,” làm nghề lay-out độ nhật. Ðến làm cho tờ Ðồng Nai của Dương Hữu Chương & Diễm Chi thì anh Hoàng Song Vân đang làm ở đó, lo về bài vở. Lúc ấy anh hút pip, ngậm vố trông oai và nghệ sĩ lắm. Gọi “Anh” theo tập-quán-anh-em-văn-nghệ, thực ra anh lớn hơn tôi những hai giáp. Nhớ lần đầu gặp nhà văn Mai Thảo, anh Du Tử Lê giới thiệu, tôi thấy “bậc trưởng thượng” lớn tuổi nên gọi bằng “Bác,” ông liền xụ mặt không vui. Ðã vậy, thêm ngu-ơi-là-ngu nữa, thấy dáng ông cao, khuôn mặt hao hao giống ông nội tôi, buột miệng nói liền. Ðến thế thì ông phải bật cười, thiếu điều mắng “Thằng chó, bộ tao già lắm sao!” nhưng sau khi cười thằng-nhỏ-ngây-ngô, ông từ tốn bảo tôi “gọi bằng anh được rồi.” Anh Lê cười chưa dứt, còn tôi thì le lưỡi “Dạ.” Có thể nhờ cái thằng-ngây-ngô hôm ấy mà về sau ông luôn dành cho tôi sự thương mến. Hôm tình cờ sáng sớm đến thăm ông, ông ký tặng tập thơ “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền” đưa tôi, cười vui nói “Nhất cậu nhé, quyển đầu tiên cậu đấy!”

Trở lại, thỉnh thoảng tôi đến nhà anh Hoàng Song Vân chơi. Ðược biết anh vượt biển đôi chục lần, hết vàng, cuối cùng chỉ đủ đi được ba cha con. Giới thiệu đây Dũng anh, Long em. Vợ anh cùng vài người con nữa còn kẹt lại, vẫn tính đi, chưa biết làm sao. Ðại khái vậy, năm ấy 1986 thì phải.

Một hôm anh mang đến bộ đồ nghề hút pip của anh. “Bà xã mới sang rồi, cả mấy đứa. Bây giờ những cái này tôi phải giao lại cậu, tôi không còn ‘giấy phép’ sử dụng nữa.” Tôi chúc mừng anh gia đình sum họp.

Thay đổi công việc bao lần, nhưng giao tình giữa tôi và anh vẫn đầy. Tôi sống lông bông vô tư, bè bạn nhậu nhẹt tưng bừng, cơm hàng cháo chợ vợ thì không. Anh có lại đời sống với tổ ấm có chim mẹ chim con. Anh cùng tôi chung khung trời Bolsa phố cát nơi mệnh danh “thủ đô tị nạn,” nhưng tôi còn có lúc tìm đến biển ngắm “trời bơ vơ” cho bớt bơ vơ giữa trời; còn đến LUP nghe Lê Uyên Phương hát bài “Trái Tim Kẻ Lạ” để thấy “trái tim kẻ lạ là chính trái tim mình”; còn có một đêm khuya quán đóng, một bọn ngồi nghe Trầm Tử Thiêng ôm đàn hát nhạc phẩm mới sáng tác “Ðêm Nhớ về Sài Gòn” để thấy đàn “chim lạc” chùm nhum nơi “Sài Gòn-Nhỏ”; còn đón giao thừa ở Phở Ngon nghe Duy Khánh “Xuân Này Con Không Về,” vân vân và vân vân.

Riêng anh, từ lúc sống ba cha con đến lúc sum họp cả gia đình, anh luôn sống chừng mực, trách nhiệm, gương mẫu. Chưa nghe anh nói-chuyện-của-ai bao giờ, chưa nghe anh giận ghét ai bao giờ. Anh thương thằng em sống lẻ loi bụi đời, mỗi năm Tết về anh đều ghé qua cho ít quà mừng Xuân đón Tết. Thi thoảng dư chút thì giờ, anh đến tôi chơi hoặc kéo đi ăn tán dóc. Tôi vui mỗi khi gặp anh và vẫn vô tư “một ngày như mọi ngày”...

Một buổi chiều lạnh cuối Ðông, như mọi năm, anh tạt qua biếu tôi quà Tết. Cái mobile home tôi cửa luôn mở, tôi đang bận trước computer, cười mừng lúc anh bước lên bậc tam cấp vào nhà. Nụ cười chợt ngưng khi nhận ra anh bước chậm lên nấc thang. Tôi như người choàng tỉnh giấc cô-ma. Mình già không hay, anh yếu không biết. Tôi đứng bật dậy, vội bước ra đỡ túi quà trên tay anh, trong lòng có chi nhoi nhói.

Tôi vô tư đến quên là anh và tôi đã trên hai mươi năm giao tình nơi cái vườn-cam-tị-nạn này. Tôi đã vô tư đến độ quên bẵng bên cạnh hai mươi năm tình bạn vong niên ấy, hai giáp tuổi hơn tôi đồng thời cũng đè nặng trên vai anh. Nhưng tôi đã không đủ can đảm nói lời muốn nói, rằng năm sau anh đừng cho quà em nữa, anh yếu rồi, ai lại làm thế, tội em chết; vì sợ nói vậy anh nghe, buồn thằng em nhắc mình già; lại nói trớ đi “Anh đừng thương chìu em như vậy nữa, chìu riết em càng hư. Ðúng ra em phải nhớ Tết mà mang quà biếu anh. Em thiệt tệ hết cỡ nói...” Anh cười thông cảm, “Cũng tiện đường thôi, tôi biết cậu không có ai.”

Anh về rồi, tôi bỏ mặc dở dang trên máy, ngồi nhìn gói quà Tết trước mặt, hút thuốc mãi. Ðối diện tôi là bàn thờ Phật, trên thùng loa bên cạnh, ông Phật Ðịa đưa bụng ra đường cười toét miệng. Trên vách bên kia dán mấy tấm hình những người tôi thân, quý. Sống có Ðức Ðạt Lai Lạt Ma 14, có Phạm Công Thiện, Lữ Mộc Sinh, người vợ thôi nhau cùng ba con gái. Chết rồi có Bùi Giáng, Mai Thảo, Cao Ðông Khánh, Lê Uyên Phương, Nguyễn Tất Nhiên, Hoàng Linh Duy; và mất gần đây nhất là Vô Thường mà căn nhà bên kia đường còn hai con gái Diễm, Khanh đang ở.

Bỗng dưng tôi cảm nhận ra mình lạc lõng cô độc vô cùng trong căn mobile home một chiều cuối năm lạnh lẽo. Cái xóm mobile home mà chín năm về trước, khi tôi lần đầu đến vào chạng vạng ban đêm với Vô Thường, tôi chợt ví von chúng giống như những ngôi-mộ-sống giam cầm những con người già héo cô đơn. Ý tưởng rời bỏ khu-cổ-mộ-sống này chợt lóe lên.

(Còn tiếp)

Những Bài Liên Quan:
NGUOI VIET Online (www.nguoi-viet.com)
Tìm kiếm bài :
Nguoi-Viet

Promote Your Page Too
Tin Khác