* Ðằng Minh
Một câu nói của ông Charles Rock, nhà giáo dục Mỹ: “Wrong edcuation system equalled to un-educated” (Tạm dịch: “Hệ thống giáo dục sai lầm, tương đương với sự thất giáo”). Từ ngữ 'thất giáo' là nói theo văn chương bác học, còn nói theo lối văn bình dân là“vô giáo dục”; mà ở VN ngày nay thì nên dùng từ bình dân thích hợp hơn, vì đó là “công lao hạn mã” của CSVN đã đào tạo ra lớp người trẻ “thất học” (xin lỗi những gia đình còn giữ được truyền thống văn hóa dân tộc).
Trước đây 5, 10 năm, khi nghe cán bộ CS và người Việt trong nước dùng những từ ngữ ngộ nghĩnh thì chúng ta cười rồi nhại theo cho vui, vì nghĩ rằng họ dùng các danh từ rất xa vời với thực tế là bị “quê mùa”, như họ “lật ngược” các từ ngữ như “giản đơn” từ đơn giản, trường Quốc Gia Hành Chánh họ đổi lại thành “Hành Chánh Quốc Gia” v... và họ đâu có biết chữ mà “lật ngược” như vậy, ý nghĩa của nó đâu còn đúng nữa.
Sau hơn 30 năm, bây giờ còn tệ hại hơn nhiều: Tất cả các từ có chữ i, y đều được đổi lại thành “i”, và có một số người hải ngoại vì vô tình hay muốn “lập dị” cũng đã dùng những loại chữ viết “y chang” như CSVN hiện nay.
Theo thiển ý của người viết, Việt Nam chúng ta chưa có Hàn Lâm Viện, thì căn cứ vào đâu để nói rằng người nầy viết đúng, người kia viết sai, nhưng khi đã sống chung nhau trong một xã hội, nhiều khi mình phải có những loại luật “bất thành văn” làm tiêu chuẩn chung. Vì vậy mà chương trình tiểu học trước năm 1975 có môn Chánh Tả, phải có qui định rõ ràng, chớ nếu viết loạn lên thì thầy, cô giáo làm sao chấm bài! Ðặc biệt là ý nghĩa của từ ngữ, phải theo truyền thống văn hóa dân tộc, và phong tục, tập quán từng vùng, miền, chúng ta phải dùng theo các loại chữ nghĩa mà đa số đã dùng. Chẳng hạn như khi người miền Nam ra Bắc mà chỉ con cá Quả và nói đó là cá Lóc thì dân miền Bắc cho là mình không biết, người miền Trung gọi đó là cá Trào (u), miền Bắc thì gọi là cá Quả. Miền Bắc gọi cha bằng Bố, người Nam gọi là Ba. Người Nam thường hay nói: “Ông già tôi” ý nói là Ba tôi, nhưng người miền Bắc nghe qua lại tưởng là gọi người làm công v.v...
Báo đăng tin tức là để cho mọi người dân trong một nước hiểu biết thông tin cần thiết. Nhưng đọc báo của XHCNVN ít ai hiểu hết ý nghĩa của bài, vì họ chêm vào những danh từ mà người viết vốn tự hào mình đã từng học kỹ chữ Việt nhưng đọc hoài không hiểu!
Ðể phân biệt người trong nước và “Việt kiều” theo ý muốn của Cộng Sản VN, dù người Việt kiều đó có cố gắng cách nào để hòa đồng với người dân địa phương cũng không tránh khỏi. Có một lần người viết đi chơi ở ngoại thành với vài người bạn VN, khi vào quán uống nước, vừa mở miệng ra nói vài câu là người chủ quán hỏi:
- Ông ở nước nào về vậy?
Người viết hỏi lại: Tại sao bà biết được là tôi ở nước ngoài về?
Ðược trả lời là: Qua cách nói chuyện của ông!
Người Việt Nam ở nước ngoài về, coi chừng người trong nước, nhất là tuổi cỡ 30, 40 họ không hiểu là mình nói gì và ngược lại! Chẳng hạn 3 người vào quán, hai người gọi 2 tô bún, người thứ 3 nói, để khoan, tôi chưa gọi ngay bây giờ. Nhưng một lát sau, người bồi bàn sẽ cứ thế mà bưng ra 3 tô bún!
Họ chỉ làm theo suy nghĩ của họ, không cần nghe, biết người ta cần gì và nói gì. Hình như ‘cả nước’ bây giờ cùng mang một tâm lý giống nhau. Ðó là yếu tố tập thể xã hội chi phối.
Trong Nam quảng cáo là “Hải Sản Tươi Sống”, ý nói tôm cá biển còn tươi. Ngoài Bắc “thực tế” hơn, họ gọi là “Hải Sản Bơi Lội”, mới nghe thấy lần đầu tưởng đâu mình “nghe và nhìn lầm”.
Ngày xưa, không xa lắm, chỉ trước năm 1975, đi học ngoại ngữ thì gọi là học Sinh ngữ Anh hay Pháp văn. Bây giờ dùng danh từ Sinh ngữ, sinh viên không hiểu là “cái gì”. Chuyện nầy còn nhỏ, về lối viết văn của các “đỉnh cao trí tuệ” là dùng danh từ “liên thông” để nói lên sự liên kết giữa một trường đại học nước ngoài với trường đại học Việt Nam để giảng dạy!
Trước 1975, Bộ Giáo Dục VNCH đã chọn Giáo trình (ở đây tác giả ý muốn nói sách giáo khoa, text books) Anh ngữ nguyên bản từ các bộ sách Let's Learn English, Practice Your English part I và II trong thập niên 1960, và sau đó đổi lại toàn bộ English for Today từ lớp Ðệ Thất (lớp 6) đến lớp 12 (người viết không nhớ rõ năm nào, hình như là năm 1972). Hiện nay, “nhà giáo dục đỉnh cao trí tuệ” của XHCN tự viết giáo trình Anh ngữ từ lớp 6 cho tới lớp 12 áp dụng cho toàn nước (và trong tương lai cho cả Tiểu học) hỏi ra thì được trả lời là “chê” các tổ chức giáo dục như Barron's, R.E.A (Research of Education for America) MacGraw-Hill, Oxford của Anh, Mỹ không hiểu văn hóa Việt Nam nên viết bài khó hiểu! Họ đã ngồi viết cả bộ ‘giáo trình’ nầy tới bộ sách khác, để rồi sinh viên-học sinh học xong mà vẫn “không hiểu gì hết” và cũng chẳng sử dụng được.
Năm 2006 có một giáo sư Mỹ tới Sài gòn, sau khi tiếp xúc với nhiều trường, trong đó đa số là Giáo sư và sinh viên, trong một thời gian ngắn ông ta phán: “Sinh viên Việt Nam, nói tiếng Anh nửa câm, nửa điếc”. Ông giải thích tiếp: Câm là chỉ nghe mà không hiểu để trả lời, còn điếc là cứ nói mà không nghe được câu hỏi của người đối diện.
Chẳng hạn như câu hỏi: “How are you?” thì họ trả lời “như khuôn” là “I am fine thank you. And you” mặc dù họ đang ho sù xụ! Còn như dùng văn nói (Everyday English) hỏi How it's going, hay How are you doing? họ sẽ trả lời là: “ I am doing...” và khi họ hỏi, nếu mình trả lời là: “Very well, thank you”, họ có thể không hiểu vì họ chỉ học “I am fine thank you” mà thôi! Sự thể như vậy cũng dễ hiểu. Nhưng theo người viết tìm hiểu thêm thì họ đã được thầy cô hướng dẫn học thuộc lòng từng câu. Người viết có hỏi: “Nếu có người ngoại quốc nào dùng ‘từ’ khác hỏi câu có cùng một nghĩa thì làm sao hiểu?” Học sinh chỉ nhìn người viết mà không trả lời! Ðây là vấn đề ngoại ngữ, cũng chưa quan trọng cho lắm.
Nhưng về Việt ngữ, những tờ báo ở Việt Nam người viết có đọc, đôi khi phải ngừng lại để hỏi một vài sinh viên (học trò của mình) có mặt, vì suy nghĩ mãi mà không hiểu “chữ Việt” của tờ báo viết nói về vấn đề gì!
Phần quan trọng là 'giáo trình'( học trình) giảng dạy Tiểu, Trung và Ðại học thì khỏi phải bàn, người viết có dạy thế cho một vài giáo sư về các môn “Thống Kê” (Statistics): Khi dạy thế, cần phải hỏi GS chánh là đã dạy tới đâu để mình tiếp tục, và yêu cầu cho xem 'Giáo Trình' (Text book) để soạn bài. Sau khi đọc 'Giáo trình Việt Ngữ’, người viết “chẳng biết trời đâu, đất đâu”, lý do họ dịch cuốn Text book từ đâu ra mà người viết không biết, và những “đề cương” của bài, người viết đọc không hiểu, nhưng khi xem nội dung để soạn bài thì người viết mới hiểu họ dịch cuốn GT toàn là những danh từ chữ Việt thời Bàn Cổ. Người viết có hỏi sinh viên:
- Anh chị em học đã gần mãn khóa của môn Thống Kê, vậy có hiểu bài để chuẩn bị thi chưa?
Hầu như tất cả đồng thanh trả lời: Thưa thầy, tụi em mà hiểu “chết liền” đó thầy!
Ngày xưa, lúc còn bậc Trung học, khi học đến môn Việt Văn và lúc phải học Chinh Phụ Ngâm, các danh từ Hán-Việt đã đủ “giết người”; nhưng may thay, những vị Giáo sư ngày xưa giảng dạy xong là hiểu ngay; còn bây giờ, có đem cả kiến thức của ngày xưa ra cũng không hiểu họ dùng loại “Cổ Ngữ” nào nữa!
Từ Marketing, họ dịch là “Chiêu Thị” (chúng ta thường gọi là Tiếp Thị), nếu ngồi đây mà viết ra hết những cái “lộng ngôn” của Bộ Giáo Dục nước CH XHCN VN thì một ngàn trang sách cũng chưa đủ.
Trên tờ Tuổi trẻ, có đăng bài viết của Tiến Sĩ Nguyễn Hữu Dũng, người viết không biết ông ta nói thiệt hay mỉa mai, xin trích lại như sau: “Sinh viên, học sinh Việt Nam học dở là tại vì gọi thầy-cô và xưng con. Ở Mỹ, Pháp, Ðức, Nhựt, họ đâu có gọi như vậy mà chỉ xưng tôi (ông còn mở ngoặc “you and me”). Ông viết tiếp, phải chi bây giờ, sinh viên học sinh của mình (Việt Nam) bây giờ mà xưng tôi với thầy, có lẽ học giỏi hơn nhiều” (hết trích).
Người viết đọc tới đây cảm thấy hết giận, vì biết rằng những tên “Tiến sĩ” như thế nầy còn chưa phân biệt được giữa Văn Hóa và Giáo dục thì giận để làm gì với một tên “khờ” như vậy. Hay nói theo cách khác là một “thằng” Tiến sĩ (người viết cũng là loại tôn sư trọng đạo, nhưng phải gọi bằng “thằng” vì tên nầy không xứng đáng được gọi là “ông”).
Vào lớp, tôi có hỏi sinh viên về ý tưởng câu đó các em nghĩ sao?
Thì có một em trả lời: Thưa thầy! Nếu như ông Tiến sĩ đó nói là gọi thầy bằng thầy mà xưng tôi thì học giỏi. Vậy gọi thầy bằng “mầy”, xưng “tao” còn học giỏi hơn nữa. Phải không thầy!?
Cả lớp cùng cười!
Có một anh sinh viên kể lại tôi nghe một câu chuyện rất là buồn nôn, buồn bực, hay buồn cười là tùy ở người đọc:
Lúc anh học ở Ðại học Bách Khoa SG (trước 1975 thường được gọi là Phú Thọ) năm tốt nghiệp, có một ông thầy nói với một nhóm sinh viên 10 em, là mỗi đứa phải “đóng” 300,000 đồng thì đủ điểm đậu. Có một sinh viên đại diện mang tới cho ông thầy nầy 2.500.000. Ông giáo sư không nói chi, sau khi thi, anh mang tiền tới bị đánh rớt, anh ta hỏi thì thầy trả lời: Mầy ăn chận tiền của tao thì rớt là đúng rồi!
Loại thầy như thế nay thì đất nước sẽ đi về đâu?
Tờ Tuổi Trẻ ra ngày 3-3-2008 có đề tựa một bài như sau: “Quang Lý- 30 năm ca hát”. Nhập đề: “Giọng hát đẹp vào loại hàng đầu của nam ca sĩ VN lần đầu tiên làm live show”. Ðọc tới đây, tôi ngừng đọc, vì giọng hát mà “đẹp” thì hai con mắt của mình dùng để làm “cá Thòi Lòi” đọc báo làm gì!
Người viết dám xác định, không dám dùng từ “khẳng định” vì nó đang bị lạm phát tại Việt Nam, từ lãnh tụ tới lãnh đạo đều dùng từ ngữ nầy hàng ngày mà chẳng có cái gì ra cái gì cả, cùng với chữ “vô tư”: Anh cứ nhậu “vô tư” đi, ý nói là nhậu thả giàn!
Về Giáo dục, người viết dám “khẳng định” một câu là: Nếu bất cứ ai làm giáo dục ở Việt Nam mà chưa chửi thề thì người đó “chưa hề làm giáo dục”, từ việc xin giấy phép tới giáo trình, sách giáo khoa, đi dạy v.v...
Ðọc trong mục Quán Văn của nhựt báo Người Việt, có một bài của tác giả Ngô Hoàng với tựa đề là “Sau Bảy Tháng 4 Ngày”, có người sẽ không tin những lời ông Hoàng kể lại, nhưng thật ra Ngô Hoàng chỉ “đụng” có 80% sự thật, còn hơn cái đó nhiều lắm anh Hoàng ơi! Anh may mắn là gặp giảng viên ở trường đó còn “liêm sỉ” nên không ganh tỵ với anh mà còn “chia xẻ sự thật”. Còn những trường khác, như nơi người viết được “thỉnh giảng” trong khoa Quản Trị Kinh Doanh, còn “thê thảm” hơn nhiều. Tại trường này, điểm thi của sinh viên nầy trở thành của sinh viên khác, vì họ chỉ biết thâu tiền học phí, còn quyền lợi của sinh viên thì hàng thứ yếu, giảng viên dạy xong khóa, lãnh lương như đi ăn mày, trong trường giảng viên vào lớp nói xấu giảng viên khác v.v...
Có một cô giảng viên nói trong lớp của một trường Ðại học có tiếng tại SG ngày nay, mà người viết đã được mời dạy qua 4 khóa (International Business, Human Resources, Organizational Structure & Management, và Project Management). Nghe phong thanh là khoa muốn mời người viết dạy môn Marketing (môn nầy người viết đã làm việc trên 22 năm cho một công ty bên Mỹ), thì bỗng nhiên anh trưởng lớp tới kể cho người viết nghe một câu chuyện vui:
- Thầy biết cô không. Tôi trả lời:
- À, cô đó ở cùng quê với thầy, và là con gái của người thầy ngày xưa đã dạy hồi thầy còn học lớp Nhứt. Có gì không em?
Tôi hỏi. Em trưởng lớp trả lời:
- Hôm qua, cô ấy vô lớp và có nói với cả lớp là không biết ở bên Mỹ thầy học hành ra sao mà coi có vẻ “nổ” quá!
Ða số anh chị em sinh viên phản đối, có một em đứng lên phát biểu:
- Thưa cô, Thầy T. dạy tụi em 4 khóa trong 2 năm qua, trong lớp thầy T. thường nhắc nhở tụi em là không nên đem thầy cô nầy so sánh với thầy cô khác. Hơn nữa, từ ngày học Cử Nhân cho tới nay (Th.S), thầy T. là một giảng viên mà tụi em học hiểu nhiều nhứt!
Và có những em khác chỉ biểu lộ bằng thái độ mà không nói gì.
Với tư cách của một giảng viên mà chê bai giảng viên khác trước mặt sinh viên cả lớp thì người giảng viên đó chưa đủ tư cách làm thầy! Sau đó tìm hiểu thêm, người viết mới khám phá ra là cô ấy muốn dạy khóa Marketing. Người viết liền xin rút lui, và cô ta đã vô dạy môn “bán hàng rong” (Marketing kiểu “Việt-ma-ni”) bằng quyển giáo trình in năm 1994 của MacGraw-Hill. Học trò tới thăm người viết, hỏi ra mới biết là “cô giáo viên” đó đi dạy được 12 năm, sau khi tốt nghiệp Thạc sĩ. Thạc sĩ dạy Thạc sĩ!
Khi tôi biết cô giảng viên chỉ trích tôi đã đi dạy “được 12 năm”, tôi liền nhớ tới lời thầy Harold mà buồn cho tương lai của đất nước và cho tuổi trẻ Việt Nam. Với bằng Thạc sĩ, vừa tốt nghiệp (ở Việt Nam) mà đã đi dạy, thì với kinh nghiệm của người giảng dạy, giảng viên đó chỉ học “thuộc lòng” giáo trình rồi đem vô lớp trả bài cho sinh viên, bởi vậy, bây giờ tôi mới hiểu thêm là tại sao sinh viên, học sinh Việt Nam thụ động, là thầy cô đâu có “giờ” để cho sinh viên hỏi, lỡ “bí” thì còn mặt mũi nào nữa!
Bỗng người viết nhớ lại, lúc học ở Ðại Học Pepperdine (Malibu, California) năm 1985, có một giáo sư thỉnh giảng từ đại học Stanford, thầy Harold Leawit, ông có nói với cả lớp chúng tôi như sau:
- Năm 33 tuổi, tôi tốt nghiệp Tiến sĩ và được trường mời ở lại dạy. Sau một năm dạy, mắc cỡ quá tôi xin nghỉ và xin vào làm việc cho kỹ nghệ. Chúng tôi hỏi:
- Thưa thầy, tại sao thầy mắc cỡ? Ông trả lời:
- Mặc dù tôi có tiến sĩ nhưng kinh nghiệm thực tế tôi chưa có gì. Tôi phải đi làm để có những kiến thức cần thiết khi giảng dạy. Lúc nói với chúng tôi, ông đã 63 tuổi và đã làm việc trong kỹ nghệ Mỹ trên 20 năm. Thầy Harold đã qua đời ngày 9 December, 2007 tại Passedena, California.
Hiền triết Socrate có nói: “mình phải biết mình là ai”. Cô giảng viên vừa kể trên, không biết cô ta “là ai”. Người viết lại nhớ tới quyển sách “In the valley of the Blind” của tác giả H.G. Well: Trong một thung lũng mù, anh chột mắt làm vua!
Năm 2006, ngành Giáo dục Việt Nam tại thành phố SG bị một vố đau điếng (dân đau chớ nhà nước không đau). Cấp giấy phép cho một anh người Singapore, (Trường nằm trên đường Sư Vạn Hạnh nối dài, giữa Tô Hiến Thành và Trần Quốc Toản cũ) Sau khi dạy được 1/2 khóa, trường đóng cửa nghỉ Tết. Mùng 7 mở cửa dạy lại, thầy cô tới nhưng trường chưa mở cửa, vài hôm sau mới biết là “ông chủ trường” đã về Singapore và một đi không trở lại. Học sinh đã đóng tiền nguyên khóa, mỗi khóa học hơn cả ngàn USD (tùy theo trình độ), tổng cộng gần một triệu USD, tiền lương của thầy cô cũng chưa trả!
Phần trên là những chuyện xem như “lặt vặt” nhưng chính những cái vặt vạnh nầy mang đến hậu quả trầm trọng cho văn hóa Việt Nam, nói chung và nói riêng cho dân tộc trong tương lai. “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau” mà như với hệ thống giáo dục của CSVN hiện tại thì nước Việt chúng ta sẽ trở về với nền văn hóa thời Kinh Dương Vương mới lập quốc!
Vấn đề nầy, mà người viết sau nhiều năm va chạm, muốn kêu lên một tiếng “thất thanh” để báo cho tất cả người Việt dù ở nơi đâu biết rằng phải làm “một cái gì đó” để bảo vệ nền Văn hóa nước nhà vì đây là một vấn nạn cho dân tộc Việt Nam, nói chung, cho tuổi trẻ Việt Nam nói riêng, vì tuổi trẻ là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp qua một hệ thống giáo dục man rợ của CSVN.
Theo người viết tìm hiểu, CSVN muốn “chế” ra loại ngôn ngữ đặc biệt cho “người Cộng Sản” để phân biệt “ta hay địch”. Theo người viết, ngôn ngữ là tiếng nói chung của dân tộc, chớ không của riêng “đảng phái” nào. Nhưng có lẽ Cộng Sản họ không nghĩ như vậy, vì họ không phải là người Việt Nam. Thoạt đầu khi chiếm trọn miền Nam, họ đã ngồi lại với nhau để viết lên lịch sử đảng CSVN, lấy thời điểm từ khu Pắc Bó, vì vậy mà họ đã không cho làm Giỗ Tổ Hùng Vương, mãi hơn 30 năm sau (2006) vì áp lực của toàn dân trong cũng như ngoài nước, họ đành phải cho phép làm ngày giỗ Tổ và là ngày Quốc Lễ.
Ðảng CS còn tồn tại ngày nào, là dân tộc Việt Nam còn nhiều tai ương ngày đó. Dù thay đổi 80 ông bộ trưởng giáo dục, 100 ông thủ tướng, các ông cũng không thể làm gì sửa đổi được hệ thống cai trị “dã man” và hệ thống giáo dục “man rợ” của Việt Nam CS. Ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Nguyễn Thiện Nhân, sau khi “hồ hởi” tuyên bố sau ngày nhậm chức, sau đó người viết được tin là “không làm được gì cả” (ai cho làm, mà làm!).
Còn ông Nhân (có bằng Master ở Ðại Học Harvard, Mỹ), hơn hai năm làm bộ trưởng, kết quả chỉ được 1/3 của lời “Bác” đã tuyên bố trong ngày “độc lập 2 tháng 9, năm 1945” là “không có gì”! Hàng tháng chỉ đi thanh tra các tỉnh, đó là nhiệm vụ chánh thức của ông ta hiện nay!
Hiện nay, người viết được biết đã có một sự tranh chấp nội bộ “ngấm ngầm” nhưng “gay gắt” và sẽ có một thay đổi lớn, có thể là quân đội sẽ ra tay! Chúng ta hãy chờ xem màn hát sắp diễn ra, trên sân khấu “nhà hát Lao Ðộng” Việt Nam trong năm tới 2009 này.
* Ðằng Minh
Tháng 12 năm 2008