BLOG TÀ TÀ
L.T.S.- Nhà văn Nguyễn Bá Trạc sinh tại Huế, tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, du học tại Hoa Kỳ năm 1974, từng sống tại California và cộng tác với các tờ báo Việt ngữ như Nhật Báo Người Việt ở Quận Cam và Việt Mercury ở San Jose. Ông hiện sống tại Phần Lan. Trong các tác phẩm nổi tiếng của ông có “Ngọn Cỏ Bồng” và “Chuyện Một Người Di Cư Nhức Ðầu Vừa Phải.” Ông cũng chuyển ngữ cuốn “Tears Before The Rain” (Nước Mắt Trước Cơn Mưa) của Larry Engelmann.
Trong một thư e-mail mới đây, ông viết: “Vài ngày nữa là năm mới, xin gửi lời thăm và chúc Tết Tây. Nhân có viết lá thư cuối năm để gửi những người bạn học cũ ở Phan Châu Trinh, Ðà Nẵng, tôi xin kèm đây để các bạn đọc cho vui.”
“Lá thư cuối năm” của ông nhắc đến bài hát “Auld Lang Syne” mà trước đây trẻ em tại Việt Nam thường hát nhại là “Tò te cây me đánh đu, tặc-giăng nhảy dù, rô-be bắn súng,...”
Mời độc giả đọc bài này như một lời chia tay dành cho năm 2008.
Nguyễn Bá Trạc
Thành phố Turku, Phần Lan, ngày 27 tháng 12, 2008
Thân gửi quý ông bà bạn học cũ,
Chỉ năm ngày nữa, 2008 trôi qua, 2009 bước tới. Trong giờ giao-thừa ở Mỹ và nhiều nước nói tiếng Anh, đúng giây phút khởi đầu năm mới, theo truyền thống người ta sẽ cất tiếng hát bài “Auld Lang Syne.”
“Auld Lang Syne” là gì?
Ngay nhiều người Mỹ hát bài này mỗi năm cũng có người không hiểu hết lời nhạc. Còn bọn mình, với ảnh hưởng Pháp, nhất là các hướng đạo sinh, trước thường chỉ hát bài này bằng lời Việt để biểu lộ lòng quyến-luyến lúc chia tay, nội dung gần như lời bản nhạc Pháp “Ce n'est qu'un au revoir...” Ðây chỉ là tạm biệt, thế nào thì mình cũng sẽ còn gặp lại nhau (Giờ đây anh em chúng ta cầm tay ra về lòng còn lưu luyến...)
Nhưng “Auld Lang Syne” chính là một bài thơ Tô Cách Lan, do Robert Burns viết và phổ nhạc dân ca vào năm 1788. Robert Burns là một nhà thơ được đông đảo dân chúng nước Tô Cách Lan yêu mến và ngưỡng mộ, như Nguyễn Du đối với dân Việt Nam.
Dịch từng chữ sang tiếng Anh, “Auld Lang Syne” là “Old Long Since,” nhưng nhóm chữ này vẫn thường được sử dụng giống các thành-ngữ “Long long ago,” “Days gone by,” “Times gone by,” “Once upon a time”... (Ngày xửa ngày xưa... một thời xa xưa ấy), hoặc giản dị hơn nữa, nó được sử dụng như thành-ngữ “the good old days” (những ngày tươi đẹp xa xưa).
Người Tô Cách Lan phát-âm chữ “syne” như chữ “sign” của Anh-ngữ, nhưng lúc hát nhiều người Mỹ vẫn quen phát-âm là “zine”.
Mà tôi cũng thấy chữ “zine” nghe lại hay hơn!
Nguyên văn bài này như sau:
Should auld acquaintance be forgot,
And never brought to mind?
Should auld acquaintance be forgot,
And auld lang syne?
Ðiệp khúc:
For auld lang syne, my dear,
For auld lang syne.
We'll take a cup o' kindness yet,
For auld lang syne.
And surely ye'll be your pint-stowp! And surely I'll be mine! And we'll take a cup o' kindness yet,
for auld lang syne.
We twa hae run about the braes
And pou'd the gowans fine.
We've wandered mony a weary foot,
Sin' auld lang syne.
We twa hae sported i' the burn,
From morning sun till dine,
But seas between us braid hae roared
Sin' auld lang syne.
And ther's a hand, my trusty fiere,
And gie's a hand o' thine;
We'll tak' a right good willie-waught,,
For auld lang syne.
Ghi chú những chữ Tô Cách Lan chuyển sang Anh ngữ: be - pay for; braes - hills; braid - broad; burn - stream; dine - dinner time; fiere - friend; fit - foot; gowans - daisies; guild-willie waught - goodwill drink (ly rượu thiện-chí, uống cạn chén tình để biểu-lộ thiện-chí); monie - many; morning sun - noon; paidl't - paddled; pint-stowp - pint tankard; pou'd - pulled; twa - two...
Thưa quý ông bà,
Cách đây vài hôm, ngồi buồn ở xứ Phần-Lan tuyết băng lạnh lẽo, tôi có thu nhặt ít hình ảnh chụp các cảnh xưa, trường cũ, một số thầy xưa, bạn cũ - trong dịp về thăm Ðà Nẵng năm 2006. Tôi gộp lại một slide show, đã gửi các bạn, trong đó có để bản nhạc “Auld Lang Syne”, nhưng ban nhạc này chỉ hát có 2 đoạn.
Hôm nay, năm cũ sắp qua, ở nơi im vắng không bạn bè quen biết, lại nghĩ đến những âm thanh của bản nhạc ấy, những chữ “Auld Land Syne”... “acquaintance”... (sự quen biết, mối quen biết - old acquaintance: những mối thân tình của ngày xưa cũ..), tôi thử chuyển ngữ cho sát nghĩa hai đoạn nhạc đã cài trong slide show gửi các bạn, dịch vội vàng như sau:
Should old acquaintance be forgot
and never brought to mind?...
Liệu những mối thân tình xa xưa ấy,
cứ quên đi, nào phải bận tâm
và tháng ngày xanh trong đoạn đời xưa cũ
cũng chôn vào dĩ vãng xa xăm?
Hay vì thủa thiếu niên tươi đẹp ấy
Lũ bạn vàng, vì mối thân thương
Vẫn nâng chén mặn nồng tình-nghĩa
cho một thời hoa bướm vẫn thơm hương
Một lũ bạn lòng thơ từng tin cậy
Này bàn tay nắm lấy những bàn tay
Chỉ vì mối thân tình xưa cũ ấy
mà ngày xưa đẹp mãi đến ngày mai
Quý ông, quý bà thời trước từng ngồi dưới gốc phượng, hoặc ngồi trong lớp lén lút làm thơ tiếp sức với chúng tôi, vị nào còn minh-mẫn, xin vui lòng làm tiếp, hoặc giúp tôi sửa lại bài thơ cho trơn tru.
Cùng lứa tuổi quý vị, tôi cũng đã tròm trèm 70 (Giai nhân dục vấn lang niên kỷ? ngũ thập niên tiền... nhất thập thất), mỗi ngày đều uống thuốc trị bệnh thyroid, cao mỡ, cao máu, arthritis, hôm về Ðà Nẵng đi khệnh khạng vì đau đầu gối, chưa kể bệnh ngạt thở (sleep apnea), tối ngủ phải đeo mặt nạ Cpap (mỗi đêm ngưng thở khoảng 150 lần, mỗi lần 1, 2 phút). Lũ chúng ta đều đã ở tuổi già.
Nhân đây, xin gửi thêm tấm hình chụp hôm đến chúc Tết thầy cô Nguyễn Ðăng Ngọc tại nhà thầy ở San Diego, California, cùng với Phan Nhật Nam, Phan Bái, Lê Thị Như Hảo... hình như đã ba năm.
Nguyễn Bá Trạc
(Bắc Kỳ Di Cư)
Lúc nhập học Ðệ Thất Phan Châu Trinh năm 1955, bọn Bắc Kỳ Di Cư gồm có: Thanh-Thảo (đã quá cố), Vũ Ngự Chiêu, Bùi Ngọc Tô và NBT. Không nhớ còn thiếu ai?