Nguyễn Hà Sơn (tổng hợp)
University of Iowa được sách hướng dẫn đại học Insider's Guide to the Colleges, ấn bản năm 2007, phê bình: “Có khuôn viên ngoạn mục, một khung cảnh xã hội sống động, và có những toán thể thao xuất sắc trong nhóm Big Ten.”
Bệnh viện University of Iowa Hospitals & Clinics, do University of Iowa điều hành, đã được tuần báo U.S. News & World Report xếp vào danh sách “America's Best Hospitals” (Những bệnh viện tốt nhất của Hoa Kỳ) trong suốt 18 năm liên tục (kể từ khi tuần báo này mở đầu danh sách xếp hạng trong năm 1990).
Khuôn viên rộng 1,700 mẫu Anh (7km2) của University of Iowa tọa lạc tại một trong những thành phố có đời sống thoải mái nhất trên toàn quốc và là khu thành thị đứng hạng ba toàn quốc về tỉ lệ những cư dân có trình độ giáo dục cao - theo chỉ số “2006 Better Living Index” của nhật báo USA Today.
Thư viện ngành luật khoa Law Library của University of Iowa được đặc san luật khoa The National Jurist xếp hạng số 1 toàn quốc.
Trường điều dưỡng College of Nursing của University of Iowa được tuần báo U.S. News & World Report liệt vào danh sách 15 trường thượng thặng của ngành này trên toàn quốc.
Trường kinh doanh Tippie College of Business của University of Iowa được tuần báo Business Week liệt vào danh sách 50 trường kinh doanh thượng đẳng trên toàn quốc.
Iowa Writer's Workshop
Trung tâm hội thảo nhà văn The Writer's Workshop, với trình độ hậu cử nhân, của University of Iowa được thành lập trong năm 1936. Kể từ năm 1947 trung tâm này đã đào tạo 13 người được tặng giải Pulitzer. Tính tổng cộng, 25 người từng có liên hệ với workshop này đã được tặng giải Pulitzer về viết văn.
Trong số những cựu sinh viên và giáo sư nổi tiếng của trung tâm này có nhà văn Robert Penn Warren, tác gỉa của kiệt tác All the King's Men (giải Pulitzer năm 1947), Michael Cunningham, tác giả của tiểu thuyết The Hours (giải Pulitzer năm 1999), và Kurt Vonnegut, tác giả của những tác phẩm Cat's Craddle, Breakfast of Champions, và Slaughterhouse-Five.
Một cựu sinh viên nổi tiếng gần đây của trung tâm này là nhà văn trẻ tuổi Nam Lê, người Úc gốc Việt, tác giả của tuyển tập truyện ngắn The Boat đã được nhiều nhà phê bình khen ngợi nồng nhiệt. Nam Lê đã viết truyện ngắn thuộc loại tự thuật “Love and Honor and Pity and Pride and Compassion and Sacrifice” - được coi là tác phẩm chính yếu của tập truyện The Boat - trong thời gian vừa học hỏi vừa sáng tác tại Iowa Writer's Workshop.
Các sơ sở truyền thông trực thuộc University of Iowa
Trường đại học này điều hai đài phát thanh WSUI-AM và KSUI-AM.
Sinh viên của University of Iowa điều hành đài phát thanh KRUI-FM.
Nhật báo The Daily Iowan và đài truyền hình DITV trực thuộc University of Iowa.
Hệ thống truyền hình dây cable UITV của University of Iowa cung cấp dịch vụ cho cư dân ở Iowa City, Cedar Rapids, và những cộng đồng lân cận.
Hệ thống thư viện
Hệ thống này gồm có thư viện chính Main Library, 9 thư viện chi nhánh, và thư viện luật khoa Law Library do phân khoa luật College of Law điều hành.
Thư viện chính gồm có hơn 4 triệu cuốn sách và là thư viện lớn nhất của tiểu bang Iowa.
Hệ thống thư viện của University of Iowa được liệt vào danh sách 25 thư viện nghiên cứu công cộng thượng đẳng trên toàn quốc.
Trong hệ thống này có hơn 200,000 cuốn sách hiếm và 500 bộ sưu tập gồm những bản thảo có tính cách lịch sử, trong số đó có những bản thảo của thi hào Walt Whitman.
Hơn 11,000 đặc san và báo chí điện tử để độc giả tham khảo.
Viện bảo tàng
Trong khuôn viên của University of Iowa có tới sáu viện bảo tàng:
Museum of Art
Museum of Natural History
Old Capitol Museum
Medical Museum
Athletic Hall of Fame and Museum
Project Art.
Thành phố Iowa City
Vùng cộng đồng của thành phố Iowa City bao gồm cả các thị xã Coralville, North Liberty, Solon, và những thị trấn nhỏ hơn, với dân số tổng cộng khoảng 100,000 người. University of Iowa vừa cung cấp vừa thu hút hàng loạt những dịp vui văn hóa đa dạng, những dịp giao đấu thể thao của sinh viên.
Một số những cơ sở kinh doanh đã phát xuất từ những công trình nghiên cứu khoa học và giáo dục tại trường University of Iowa. Trong những tháng mùa Hè, Iowa City bảo trợ cho những buổi hòa tấu nhạc jazz và nhạc pop trong thành phố. Vào những thời gian khác trong suốt năm thường có những thi sĩ, văn sĩ, khoa học gia, sử gia đến diễn thuyết tại University of Iowa, hoặc đến đọc thơ văn tại những tiệm bán sách trong thành phố.
Với sự hiện hữu của những cơ sở giáo dục công lập thượng thặng, với những khu phố an toàn và khang trang, và với các thành phần dân chúng địa phương có trình độ giáo dục cao, Iowa City thường được báo chí toàn quốc liệt kê vào danh sách của “những nơi tốt nhất để sinh sống.”
Những vùng đồng quê xung quanh, những công viên lớn và ngoạn mục của tiểu bang và con sông Iowa River cung cấp nhiều phương tiện để đi ngoạn cảnh bằng chân, bằng xe đạp, và chèo thuyền trên những hồ và sông. Cách Iowa City 20 miles về phía Bắc là Cedar Rapids, thành phố lớn thứ nhì của tiểu bang Iowa, với dân số khoảng 120,000, và có phi cảng Eastern Iowa Airport.
Hai cựu sinh viên nổi tiếng nhất của University of Iowa
George Horace Gallup người khai sinh phương pháp thăm dò dư luận.
George Horace Gallup (1901-1984) là người đi tiên phong trong lãnh thăm dò dư luận và đã phát minh kỹ thuật thăm dò “Gallup poll,” một phương pháp thống kê rất hữu hiệu để thu thập những mẫu khảo sát nhằm đo lường dư luận công chúng.
Gallup sinh trưởng trong một gia đình chủ trại nuôi bò sữa ở Jefferson, Iowa. Ông nhập học University of Iowa trong năm 1918, đậu bằng cử nhân năm 1923, bằng cao học năm 1925 và bằng tiến sĩ môn chính trị năm 1928. Trong thời gian theo học tại đây, Gallup đã giữ chức vụ chủ bút của tờ báo sinh viên The Daily Iowan. Luận án tiến sĩ của ông nhan đề là “A New Technique for Objective Methods for Measuring Reader Interest in Newspapers.” (Một kỹ thuật mới cho những phương pháp khách quan để đo lường thị hiếu độc giả trong báo chí).
Sau khi dạy học vài tháng tại University of Iowa, trong năm 1929 Gallup rời khỏi trường này để đảm nhiệm chức hiệu trưởng của trường báo chí tại đại học Drake University. Tới năm 1931 ông rời khỏi Drake University để khởi sự nghiên cứu tại đại học Northwestern University. Một năm sau đó ông gia nhập hãng quảng cáo Young & Rubicam (Y&R) để phụ trách những cuộc thăm dò dư luận công chúng cho các cơ sở kinh doanh thân chủ của Y&R, và trở thành vị giám đốc nghiên cứu thị trường đầu tiên của ngành thăm dò dư luận. Gallup đã hợp tác với Y&R suốt 16 năm. Trong thời gian làm việc tại đây ông đã thành lập American Institute of Public Opinion (Viện Dư Luận Công Chúng Mỹ) năm 1935.
Trong năm 1936, cơ quan mới thành lập của Gallup đã trở thành nổi tiếng toàn quốc sau khi tiên đoán đúng kết quả cuộc bầu cử tổng thống trong năm đó, bằng cách căn cứ vào những câu trả lời của 5,000 người được hỏi ý kiến; trong khi đó, tạp chí có nhiều uy tín Literary Digest đã mở một cuộc thăm dò sâu rộng gồm hơn 2 triệu người trả lời những câu hỏi của họ, nhưng đã tiên đoán sai kết quả.
Tuy nhiên, 12 năm sau đó American Institute of Public Opinion đã vướng mắc vào vụ sai lầm lớn nhất của họ, khi tiên đoán ứng cử viên Thomas Dewey sẽ đánh bại ứng cử viên Harry S. Truman trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1948, với tỉ lệ cách biệt rất cao. Gallup tin rằng nguyên nhân chính của sự sai lầm đó là vì cuộc thăm dò đã kết thúc ba tuần lễ trước ngày bầu cử.
Năm 1948, cùng với Claude E. Robinson, ông thành lập Gallup and Robinson, Inc., một công ty chuyên nghiên cứu về quảng cáo.
Trong năm 1958 ông qui tụ tất cả những hoạt động thăm dò của mình để thành lập The Gallup Organization. Ngày nay tổ chức này có 40 văn phòng đặt tại 27 quốc gia trên thế giới.
Cựu sinh viên Tennessee Williams
Tennessee Williams (1911-1983), kịch tác gia Mỹ đã được tặng giải Pulitzer Prize hai lần, với phần lớn những tác phẩm mô tả đời sống trong vùng miền Nam Hoa Kỳ.
Williams ra đời tại Columbus, Mississippi, ngày 26 Tháng Ba năm 1911, và được đặt tên là Thomas Lanier Williams III. Ông đã trải qua phần lớn thời niên thiếu ở St. Louis, Missouri. Sau những thời kỳ học tạm tại hai trường đại học University of Missouri và Washington University, ông đến học ở University of Iowa và tốt nghiệp cử nhân trong năm 1938.
Sau đó, Williams làm những công việc khác nhau cho tới năm 1945, khi vở kịch The Glass Menagerie của ông được trình diễn trên sân khấu Broadway. Vở kịch gây nhiều chú ý này đã được tặng giải thưởng “New York Drama Critics' Circle” như là kịch bản hay nhất trong năm 1945, và đã được thực hiện thành phim trong năm 1950.
Tác phẩm A Streetcar Named Desire (1947) đã được coi là vở kịch hay nhất của một tác giả Mỹ từ trước tới nay. Nó đã được thực hiện thành phim trong năm 1951 và đã giúp cho tác giả được tặng giải Pulitzer năm 1948.
Williamsđược tặng thêm một giải Pulitzer năm 1955 cho vở kịch Cat on a Hot Tin Roof (trình diễn trên sân khấu năm 1954 và thực hiện thành phim năm 1958).
Ngoài ba tác phẩm lừng lẫy nhất trên đây, Williams còn là tác giả của những vở kịch nổi tiếng khác, gồm Summer and Smoke (1948), The Rose Tattoo (1950); Suddenly Last Summer (1958); Sweet Bird of Youth (1959); và Night of the Iguana (1961).
Một trong những tác phẩm cuối cùng trong đời ông là vở kịch Clothes for a Summer Hotel (1980), phỏng theo tiểu sử của nhà văn Mỹ F. Scott Fitzgerald và bà vợ Zelda.