XEM NGƯỜI VIỆT TRÊN



CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»

« Trở về trang trước

Ðôi điều nhớ về: Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH và Khóa 3 Ấp Chiến Lược Nha Trang
Tuesday, December 20, 2011 2:43:31 PM





Hồ Ðắc Huân

 

Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (THSQ/QLVNCH) mà dân gian thường gọi là trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang, Quân trường Ðồng Ðế hay lò luyện thép Ðồng Ðế là một trong những quân trường nổi danh trong nước, kể cả các nước trong vùng Ðông Nam Á và các nước Ðồng Minh Việt Nam Cộng Hòa lúc bấy giờ (1955-1975).

Bài này đặc biệt ghi sơ lược tiểu sử của quân trường và chính yếu giới thiệu Khóa 3 mang tên Ấp Chiến Lược, một trong bốn khóa chính và một khóa phụ đào tạo Chuẩn Úy Hiện Dịch 1959-1963 tại trường HSQ/QLVNCH.

Ròng rã chín tháng trau luyện võ nghiệp dưới nắng mưa thao trường. Ngày 17/12/1962, Khóa 3 Chuẩn Úy đặc biệt làm lễ mãn khóa dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Tổng thống đã đặt tên Khóa 3 là Khóa Ấp Chiến Lược. Sau đó các tân chuẩn úy được tung đi khắp bốn phương trời để phục vụ tổ quốc.

Ngày 17/12/2011 tới đây, Khóa 3 ra trường tròn 49 năm. Nếu kể thêm thời gian thụ huấn cũng ngót nghét nửa thế kỷ qua đi đâu có ngắn.

 

Những lời ấp ủ trong tâm

 

Rất trân quý nuôi giữ trong lòng những điều hai huynh trưởng từng dặn dò tôi như sau:

- Nhớ lời cố Ðại Tá Ðặng Văn Sơn, nguyên chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan QLVNVCH nhắc tôi lúc sinh thời: “Huân nhớ viết lại những điều Huân biết về trường Hạ Sĩ Quan và các Khóa Sĩ Quan Hiện Dịch Ðặc Biệt Nha Trang”. Rồi ông tiếp: “Hiện nay, tài liệu nói về QLVNCH nói chung, trong đó có trường Hạ Sĩ Quan đã thất thoát sau biến cố tháng 4-1975. Những ai muốn tìm hiểu về trường và lịch sử các khóa này rất ư là khó!” Mỗi lần dặn tôi đại tá không quên ca tụng người học trò cũ là cố Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện, xuất thân Khóa 2 Ðặc Biệt Nha Trang. Ông không đầu hàng địch, chỉ huy quân sĩ đánh tới cùng vào sáng ngày 1-5-1975 tại Tiểu Khu Chương Thiện. Ông bị bắt. Cộng quân đã đem ông ra bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14/8/1975. Ông đã làm rạng danh cho Trường Mẹ. Tôi tiếp lời Ðại Tá Sơn: “Thưa Thầy, tôi sẽ cố gắng chu toàn theo tâm ý của Thầy” (Ðại Tá Sơn gọi tôi bằng tên, tôi thưa ông là Thầy).

- Chiều Chủ Nhật ngày 8/8/2010, qua điện thoại, Dược Sĩ Ðại Tá Cao Thiện Chánh hỏi tôi: “Nè chú Huân. Tôi có xem nhà báo Thanh Phong thực hiện bài phỏng vấn chú nơi báo Viễn Ðông hôm nay. Ðược biết Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn xuất thân Khóa 2 Nha Trang. Như vậy trường Hạ Sĩ Quan có đào tạo sĩ quan hay sao? Lâu quá tôi không nhớ rõ”. Tôi trả lời: “Dạ thưa đại tá, trường Hạ Sĩ Quan ngoài nhiệm vụ chính là đào tạo và ôn tập thành phần Hạ Sĩ Quan. Ngoài ra trường còn được Bộ Tổng Tham Mưu giao thêm nhiệm vụ đào tạo các Khóa Chuẩn Úy Hiện Dịch Ðặc Biệt từ 1959-1963. Sau Tết Mậu Thân 1968, qua lệnh tổng động viên, trường Hạ Sĩ Quan còn nhận thêm trọng trách đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị”. Ðại Tá Chánh nói tiếp: “Tôi đề nghị có dịp chú viết lại thành tích hoạt động của Quân Trường này, một Quân trường đa năng, để những ai chưa rõ như tôi hiểu thêm cũng là điều quý”. Tôi nói: “Xin cám ơn và sẽ làm theo mỹ ý của Ðại Tá”. Qua sự cởi mở, Ðại Tá Chánh nói: “Từ nay chú gọi tôi là anh Tư được rồi để cho có vẻ thân mật giữa anh em mình hơn nghe chú Huân. Huynh Ðệ Chi Binh mà”. Tôi đáp: “Dạ. Xin hết lòng cảm ơn anh Tư”.

Hai tháng gần đây tôi đã tham dự tang lễ của ba chiến hữu cùng đồng ngũ, đồng môn:

- Trung Tá Nguyễn Phú Thọ, Khóa 16 Ðàlạt (cùng đồng ngũ tại Trung Tâm Huấn Luyện Quốc Gia Vạn Kiếp).

- Trung Tá Lê Quý Dậu và Hiền Tài Thiếu Tá Ngô Văn Bảo là cựu SVSQ Khóa 3 Nha Trang (cùng đồng môn với tôi).

Cả ba sĩ quan cấp tá trên đều xuất thân khóa Sĩ Quan mang tên Ấp Chiến Lược.

Trong khi chờ đợi dự lễ tưởng niệm, các chiến hữu trẻ quây quần chờ đợi bên ngoài nhà quàn. Họ trao đổi với nhau về Khóa Sĩ Quan mang tên Ấp Chiến Lược.

Qua lời kể, tôi nghe họ chưa hiểu rõ về danh từ và quốc sách Ấp Chiến Lược thời Ðệ Nhất Cộng Hòa.

Lược ghi ý kiến dông dài trên là động cơ thúc đẩy tôi biên soạn bài này.

 

Nha Trang một thời để nhớ

 

Vào thời Việt Nam Cộng Hòa, Nha Trang là một thành phố với nhiều Quân Trường.

Nha Trang thời tiết tốt, gió mát quanh năm, hệ thống giao thông từ đường bộ, đường hỏa xa, phi cảng, hải cảng đều có, lại ở trung tâm của Miền Nam nên việc đi lại dễ dàng mặc dù trong thời kỳ chiến tranh.

Nơi đây về địa thế rất tốt từ không phận, hải phận đến núi rừng, sông, suối trùng điệp, thuận lợi cho việc thiết lập các bãi, sân tập để huấn luyện quân sự.

Nha Trang đẹp, Nha Trang thơ mộng, có Tháp Bà cổ kính, có Cầu Ðá nên thơ, có Hòn Chồng âu yếm, có Hòn Yến nhấp nhô.

Nha Trang có bãi biển vừa rộng lại vừa dài hình cong như lưỡi liềm, bãi biển đẹp nhất Việt Nam. Vào tháng 6-2003, tổ chức các câu lạc bộ các vịnh đẹp nổi tiếng trên thế giới họp tại Canada đã công nhận Vịnh Nha Trang là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới.

Dân tình Nha Trang lại hiền hòa, mến khách.

Khoảng 1956, hai nhạc sĩ Minh Kỳ và Hồ Ðình Phương sáng tác nhạc phẩm Nha Trang trong lời nhạc: “...Nha Trang là miền khách du muốn tới, cho phai bao nhiêu bụi đời, để tìm nguồn yêu sống vui... Nha Trang người lành thêm duyên biển núi. Ai qua không quên để lại một vài luyến tiếc xa xôi...” Xa rời Nha Trang mà còn luyến tiếc.

Cách Nha Trang 5 cây số về phía Bắc, xa xa những mái nhà tôn ẩn hiện dưới hàng dương liễu như báo hiệu nơi đây có sức sống mãnh liệt. Thì kia... dưới chân Hòn Khô tọa lạc một mái trường: “Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa”.

 

Lược sử trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH

 

- 1951 Trường được thành lập tại Vạt Cháy thuộc tỉnh Quảng Yên (Bắc Việt) với nhiệm vụ huấn luyện Biệt Ðộng Ðội và lấy tên là Trường Biệt Ðồng Ðội.

- 1954 Sau ngày đình chiến, yrường được di chuyển vào Miền Trung và đóng tại Suối Dầu, Nha Trang, hợp nhất với Trung Tâm Huấn Luyện Quân Sự Ðịa Phương Số 4 với nhiệm vụ huấn luyện các khóa sinh lớp CC1 và CC2 Bộ Binh.

- 1955 Trường được di chuyển về xã Phú Xương, quận Vĩnh Xương, thành phố Nha Trang với danh hiệu trường Biệt Ðồng Ðội và Thể Dục Ðinh Tiên Hoàng (địa điểm trước là một đồn binh của Pháp, phía Bắc dựa vào dãy núi Hòn Khô, phía Ðông sát biển cách nhau bởi ngôi làng tên Ba Làng. Ðồng bào Công Giáo từ Bắc di cư vào lập nên. Trường được xây dựng trên một cánh đồng cát mênh mông với nhiều cây đế nên mới có tên là trường Ðồng Ðế).

Từ 1955-1958 Trường đảm nhận huấn luyện các khóa:

+ Biệt Ðộng Ðội.

+ Thám Báo.

+ Phản Du Kích.

+ Thể Dục Quân Sự.

+ Quyền Thuật và Nhu Ðạo.

+ Huấn luyện cán bộ bộ binh cho: Quân Y Dược Sĩ và Liên Ðoàn Ðặc Biệt.

- 1958 Ngày 1-11, Trường đảm nhận nhiệm vụ mới và đổi tên là: Trường Hạ Sĩ Quân Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa.

Nhiệm vụ huấn luyện:

+ Các khóa đào tạo Hạ Sĩ Quan.

+ Tu nghiệp đặc biệt 900 Hạ Sĩ Quan giáo phái sát nhập vào Quân Ðội VNCH.

+ Các Khóa Cán Bộ Biệt Ðộng Quân.

+ Tu nghiệp Sĩ Quan nước bạn Cam-bốt.

+ Các Khóa Ðặc Biệt đào tạo Chuẩn Úy Hiện Dịch (1959-1963).

+ Các Khóa Quân Sự khác do Bộ Tổng Tham Mưu giao phó.

- 1964 Theo Sắc Lệnh số 161/SL/CT ngày 22/5/1965, Chủ Lực Quân, Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân họp thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ đó Trường đổi tên lần sau cùng là Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

- 1968 Ngày Quân Lực VNCH 19/6/1968, hồi 11 giờ 32 phút, Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã long trọng ký sắc lệnh số 003/68 về tổng động viên tại Công Trường Phú Văn Lâu, Huế. Một bộ phận trí thức có bằng Tú Tài trở lên phải nhập ngũ, đào tạo thành sĩ quan Trừ Bị kịp thời cung ứng cho Quân Lực bảo vệ Tổ Quốc.

Số lượng Tân Khóa Sinh nhập ngũ quá đông. Trường Bộ Binh không thể đảm trách huấn luyện hết cùng lúc nên Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Quân Huấn đã quyết định giao một số lượng khóa sinh cho trường Hạ Sĩ Quan đảm trách huấn luyện vào thời điểm đó cho đến những năm về sau. Từ đó trường Hạ Sĩ Quan lại thêm nhiệm vụ đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị.

 

I. Mục đích huấn luyện của trường Hạ Sĩ Quan:

 

* Tinh thần:

- Trách nhiệm.

- Kỷ luật.

- Danh dự.

- Ðức tính gương mẫu của người cán bộ.

- Lòng nhiệt thành đối với đời binh nghiệp.

 

* Thể chất:

- Sức khỏe bền bỉ.

- Chịu đựng khắc khổ.

 

* Quân sự:

- Tác xạ hay.

- Chiến thuật giỏi.

 

* Phương pháp huấn luyện:

- Lý thuyết ít, thực hành nhiều.

 

* Phương châm:

Muốn chiến thắng người cán bộ phải:

- Chỉ huy vững.

- Tác xạ hay.

- Chiến thuật giỏi.

- Trên Quân Kỳ của trường hạ Sĩ Quan QLVNCH có câu phương châm: Luyện tập để thắng.

 

II. Phù hiệu của trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH:

 

Phù hiệu của trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH có: Thanh kiếm bạc với hình mặt trời mọc trên biển cả.

Ý nghĩa đẹp đẽ về màu sắc và những vật tượng trưng trên phù hiệu như sau:

- “Thanh kiếm bạc”: Biểu dương tinh thần thượng võ, dũng cảm, uy quyền của người chỉ huy.

- “Mặt trời mọc từ biển lên”:

Màu đỏ của mặt trời: Biểu dương sức sống mãnh liệt của người trai đang vươn lên mà không có một trở lực nào có thể cản nổi.

Màu xanh biển cả: Biểu dương cho đức tính uy dũng của người quân tử.

Lúc tĩnh: Nước cũng như quân nhân thời bình là sức sống cho muôn vật, bồi đắp đất đai sông núi.

Lúc động: Nước cũng như quân nhân thời chiến là một sức mạnh vô song có thể san phẳng thành trì, đạp đổ đất đai, sông núi.

Phù hiệu của trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH bao hàm một ý nghĩa thiêng liêng cao quý khiến cho người mang nó có một cảm nghĩ rất vinh dự vì đã được trưởng thành trong lò luyện thép tân tiến nhất của Việt Nam.

(Phù hiệu trên đây do Ðại Úy Vũ Phi Hùng vẽ. Nhà trường trình Bộ Tham Mưu duyệt thuận. Ðại Úy Hùng sau là Ðại Tá, đã qua đời tại Canada).

 

III. Nhạc phẩm trường Hạ Sĩ Quan Hành Khúc

 

Do nhạc sĩ Võ Minh Chánh khi còn là Trung Úy thuộc Phòng Chiến Tranh Tâm Lý Trường Hạ Sĩ Quan sáng tác được nhà trường công nhận làm nhạc khúc quân hành truyền thống của Trường Mẹ. Về sau Trung Úy Chánh thăng Trung Tá, phục vụ tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị. Hiện định cư ở San José, California, Hoa Kỳ.

 

IV. Các vị chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH

 

Kể từ ngày thành lập trường Hạ Sĩ Quan, qua hơn 20 năm hoạt động cho đến ngày tàn cuộc chiến 1/4/1975 tại Nha Trang, với 16 vị danh Tá, danh Tướng đã lần lượt chỉ huy theo thời gian như sau (cấp bậc các vị chỉ huy trưởng ghi lúc nhậm chức):

1. Thiếu Tá Lê Cầm, 1955-1956 (tiếp thu Quân Trường từ tay quân đội Pháp).

2. Ðại Tá Trần Vĩnh Ðắc, 1956-1957.

3. Ðại Tá Nguyễn Thế Như, 1957-1958.

4. Trung Tá Ðoàn Văn Quảng, 1958-1959.

5. Trung Tá Ðặng Văn Sơn, 1959-1961.

6. Ðại Tá Ðỗ Cao Trí, 1961-1962.

7. Ðại Tá Nguyễn Văn Kiểm, 1962-1963.

8. Trung Tá Nguyễn Vĩnh Xuân, cuối 1963.

9. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Là, 1964-1965.

10. Ðại Tá Lâm Quang Thơ, 1965-1966.

11. Ðại Tá Phạm Văn Liễu, 1966-1967.

12. Ðại Tá Lê Văn Nhật, 1967-1969.

13. Trung Tướng Linh Quang Viên, 1969-1971.

14. Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh, 1971-1973.

15. Trung Tướng Dư Quốc Ðống, 1973-1974.

16. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, 1974-1/4/1975.

(Các vị chỉ huy trưởng trên, tác giả còn thiếu hình của Thiếu Tá Lê Cầm. Quý vị nào hiện có vui lòng gởi cho xin bản sao để hoàn thành bài viết về trường Hạ Sĩ Quan. Vô cùng càm ơn.)

 

V. Nguyên nhân hình thành các khóa sĩ quan hiện dịch đặc biệt

 

Sau khi ổn định đời sống gần một triệu người di cư từ Miền Bắc, giải quyết quân đội các giáo phái về quy thuận, tổ chức trưng cầu dân ý, tổ chức bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, ban hành Hiến Pháp VNCH 1956, ổn định tổ chức Quân Ðội... Tổng Thống Ngô Ðình Diệm dành thì giờ đi kinh lý các địa phương, thăm quân, dân, chính để biết rõ sự tình của đất nước.

Vào những năm 1957, 1958, trong Quân Ðội VNCH, thành phần Sĩ Quan không nhiều nên có một số Hạ Sĩ Quan lại đảm nhiệm chức vụ của Sĩ Quan. Qua các lần kinh lý, Tổng Thống tiếp xúc các Hạ Sĩ Quan, họ đã trình lên Tổng Thống những việc họ đảm trách trong các lãnh vực: tác chiến, tham mưu, huấn luyện, kỹ thuật đâu đó đều trôi chảy. Tổng Thống ân cần hỏi qua trình độ văn hóa của các hạ Sĩ Quan này. Có người trả lời học xong Trung Học, người khác học hàm thụ vừa đậu Tú Tài... Tổng Thống quay sang Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng và ông Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng rồi chỉ thị là: Chính phủ lo mở ngay lớp đào tạo Sĩ Quan Ðặc Biệt nhằm nâng đỡ thành phần hạ Sĩ Quan có trình độ văn hóa.

Từ đó Bộ Tổng Tham Mưu quyết định mở các Khóa Sĩ Quan Hiện Dịch Ðặc Biệt tại trường Hạ Sĩ Quan Quân Ðội VNCH.

Qua thông báo những người đủ điều kiện nhập học miễn thi, còn lại phải qua một cuộc thi tuyển để chọn lựa với những Hạ Sĩ Quan có trình độ văn hóa xong bậc Trung Học.

Kết quả Khóa 1 khai giảng tháng 6/1959, mãn khóa 23/7/1960. Lần lượt đến Khóa 2, Khóa 3, Khóa 3 Phụ và Khóa 4 mãn khóa ngày 28/12/1963.

Tổng số Sĩ Quan xuất thân của 5 Khóa trên ước chừng 1800 người, trong đó có trên 100 Sĩ Quan nguyên Ðốc Sự xuất thân các Khóa 6, 7 và 8 Quốc Gia Hành Chánh.

Qua cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ là ông cố vấn Ngô Ðình Nhu bị sát hại nên chương trình đào tạo Sĩ Quan Chuẩn Úy Ðặc Biệt không còn thực hiện.

VI. Một số đốc sự quốc gia hành chánh các khóa 6, 7, 8 đào tạo sĩ quan tại trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH (Ðồng Ðế Nha Trang)

 

Trước khi viết bài này tôi muốn ghi rõ về các bạn Quốc Gia Hành Chánh (cùng đồng môn quân sự với tôi về các khóa đào tạo Sĩ Quan Ðặc Biệt tại Ðồng Ðế).

Tôi tiếp xúc các Ðốc Sự: Thái Hà Chung (K.6), Ðỗ Tiến Ðức và Lê Tấn Nhiễu (K.7), Nguyễn Ngọc Liên (K.8) để nghe các bạn kể về các khóa đào tạo Sĩ Quan các bạn đã học, đồng thời còn gởi cả Ðặc San Nửa Thế Kỷ Hội Ngộ của các Khóa 6, 7, 8 Quốc Gia Hành Chánh cho tôi tham khảo.

Thường những người trong cuộc kể lại một thời đã qua, độ chính xác rất cao, dù thời gian qua nửa thế kỷ.

Vào 1960, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đến thăm Trường Hạ Sĩ Quan QLCVNCH. Nhà trường mời Tổng Thống đi xem các lớp học như: Ði dây tử thần, Dây kinh dị, Cầu dây, Tiến dưới hỏa lực, Vượt đoạn đường chiến binh... Xem qua phần biểu diễn, Tổng Thống hết sức hài lòng dựa qua những lời Tổng Thống ngợi khen Cán Bộ và Huấn Luyện Viên của Quân Trường.

Tổng Thống dự định tương lai tình hình chiến sự không còn căng thẳng, các vị Ðốc Sự xuất thân từ Học Viện Quốc Gia Hành Chánh lần hồi đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy hành chánh và quân sự tại địa phương thay thế các Sĩ Quan Chỉ Huy Hành Chánh trở về hoạt động thuần túy trong lãnh vực quân sự.

Tổng Thống quan niệm người lãnh đạo Hành Chánh và Quân Sự văn võ phải song toàn nên Tổng Thống đã chỉ thị Phủ Tổng Thống: Các sinh viên Quốc Gia Hành Chánh tốt nghiệp Ðốc Sự được gởi tới Trường Hạ Sĩ Quan để đào tạo thành Sĩ Quan.

Từ đó:

- Khóa 6 gởi ra Trường Hạ Sĩ Quan 16 Ðốc Sự để cùng theo học Khóa 3 Chính Ðồng Ðế.

- Khóa 7 gởi ra 31 Ðốc Sự theo học Khóa 3 Phụ.

- Khóa 8 gởi 71 Ðốc Sự để cùng học Khóa 4.

Tổng số 3 Khóa 6, 7, 8 Quốc Gia Hành Chánh theo học Sĩ Quan Ðặc Biệt có tới 118 người. Trong đó mỗi Khóa có đôi ba người không theo đến cuối khóa với lý do sức khỏe.

Xin nói thêm, đặc biệt trong số các cựu SVSQ Ðồng Ðế gốc Quốc Gia Hành Chánh có hai Chuẩn Úy Nguyễn Công Khanh (K.3) và Ðỗ Tiến Ðức (K.3 Phụ) được tuyển chọn theo học Khóa 1 Cao Ðẳng Quốc Phòng trong phương vị Hành Chánh là Giám Ðốc Nha hoặc tương đương trở lên. Về phía học viên Khóa 1 Cao Ðẳng Quốc Phòng bên Quân Ðội có cấp bậc Ðại Tá hoặc Tướng.

 

Khóa 3 Ấp Chiến Lược Nha Trang

Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH sau nửa thế kỷ

 

Viết về một khóa học quân sự tương đối đầy đủ phải đi sâu vào chi tiết. Trong 5 Khóa Sĩ Quan Hiện Dịch Nha Trang, việc huấn luyện có khác là thành phần khóa sinh mỗi Khóa, thời gian huấn luyện dài ngắn, có chương trình thực tập tại các đại đơn vị hay theo học Khóa Cán Bộ Biệt Ðộng Quân... không ?

Chương trình huấn luyện tại Trường Mẹ qua các môn học thuộc các khoa: Tổng quát, Vũ khí, Chiến thuật không khác nhau mấy.

Với Khóa 3, tôi chỉ xin ghi lại những điểm đặc biệt.

 

Tên khóa học:

Vài dòng để bạn đọc hiểu qua ngọn ngành của Khóa 3 Ấp Chiến Lược Nha Trang:

- Tên Khóa 3: Trường HSQ/QLVNCH từ năm 1959-1963 mở đào tạo 5 Khóa Chuẩn Úy Hiện Dịch đặc biệt gồm 4 Khóa Chính: 1, 2, 3, 4 và một Khóa Phụ mang tên Khóa 3 Phụ chỉ có một Ðại Ðội mang tên Ðại Ðội 59 quân số hơn 100 người gồm 31 Ðốc Sự Quốc Gia Hành Chánh, còn lại Tân Khóa Sinh là Hạ Sĩ Quan Bảo An. Ðại Ðội này nhập học trễ 3 tháng, việc sinh hoạt nằm trong hệ thống chỉ huy của Tiểu Ðoàn 3 SVSQ.

Khóa 3 là tên Khóa chính được xếp theo thứ tự thời gian thụ huấn một trong 4 Khóa chính.

- Tên Ấp Chiến Lược: Vào những tháng cuối năm 1962 là thời gian chính phủ VNCH phát động Quốc Sách Ấp Chiến Lược mạnh mẽ nhất nhằm tiêu diệt ba vấn nạn lớn của Quốc Gia là: Nạn chậm tiến, nạn chia rẽ và nạn Cộng Sản là một cuộc cách mạng xã hội và chính trị chứ không phải chỉ là một chiến lược để đối phó với sự xâm nhập và khủng bố của Cộng Sản mà thôi. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đặc biệt quan tâm việc thực thi quốc sách này nên Tổng Thống đã đặt tên cho ba Khóa Sĩ Quan ra trường lúc bấy giờ là:

- Khóa 3 Nha Trang mãn khóa ngày 17/12/1962.

- Khóa 16 Ðà Lạt mãn khóa ngày 22/12/1962.

- Khóa 13 Thủ Ðức mãn khóa ngày 28/12/1962.

Cả ba Khóa Sĩ Quan trên đều mang tên Khóa Ấp Chiến Lược.

Ðể hiểu rõ hơn, xin đính kèm theo bài này hai tài liệu được đăng trong Bán Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hòa các ngày 1/10/1962 và 1/12/1962 nói về:

- Danh từ Ấp Chiến Lược.

- Cách mạng quân sự trong khuôn khổ Quốc Sách Ấp Chiến Lược.

Sau ngày đảo chánh 1/11/1963, Quốc Sách Ấp Chiến Lược không được tiếp tục duy trì nên các vấn nạn lớn của Quốc Gia là: Chia rẽ, chậm tiến và Cộng Sản lần hồi có phần tái phát lại.

Tên gọi Nha Trang gắn liền các Khóa học tại Trường Hạ Sĩ Quan:

Trong các cuốn Niên Giám Sĩ Quan của QLVNCH có phần ghi nguyên lai binh nghiệp để chỉ nơi xuất thân của mỗi Sĩ Quan: Thuộc Quân Trường, Ðồng Hóa, từ Giáo Phái chuyển qua...

Tại Nha Trang có ba Quân Trường đào tạo Sĩ Quan Bộ Tổng Tham Mưu (Phòng Tổng Quản Trị) đã quy định:

- Trường Không Quân Việt Nam: Sĩ Quan xuất thân trường Không Quân Việt Nam (Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang).

- Trường Hải Quân Việt Nam: Sĩ Quan xuất thân trường Hải Quân Việt Nam (Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang).

- Trường Nha Trang: Sĩ Quan xuất thân trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH (Hiện Dịch và Trừ Bị).

Xuất xứ như trên nên các Khóa Sĩ Quan Hiện Dịch tốt nghiệp tại Trường Hạ Sĩ Quan mới có danh xưng Khóa 1, 2, 3, 4 kế tên của Khóa sau cùng chữ Nha Trang là vậy (Khóa 3 Ấp Chiến Lược Nha Trang).

Các Sĩ Quan Trừ Bị thụ huấn tại trường Hạ Sĩ Quan trong Niên Giám Sĩ Quan cũng gọi xuất thân trường Nha Trang.

 

1. Ngày vào Quân Trường:

Vào cuối tháng 4/1962, các Hạ Sĩ Quan thuộc Chủ Lực Quân và Bảo An (Ðịa Phương Quân) có cấp bậc từ Trung Sĩ đến Thượng Sĩ I có bằng Trung Học được nhập học và số đông qua kỳ thi trúng tuyển theo học Khóa 3 được tập trung về trình diện tại Trường Hạ Sĩ Quan Quân Ðội VNCH để làm thủ tục nhập học. Tổng số Tân Khóa Sinh khoảng 550 người cộng thêm 16 Ðốc Sự tốt nghiệp Khóa 6 Quốc Gia Hành Chánh. Các Ðốc Sự nhập trường trước ngày khai giảng Khóa 3 hai tháng học căn bản quân sự để khi nhập khóa học cùng các Tân Khóa Sinh nguyên là Hạ Sĩ Quan không bị trắc trở về khả năng quân sự.

 

2. Tổ chức đơn vị:

Trong số 566 Tân Khóa Sinh được thành lập một Tiểu Ðoàn với danh xưng Tiểu Ðoàn 3 SVSQ. Tiểu Ðoàn chia đều quân số thành bốn Ðại Ðội mang tên Ðại Ðội 48, 49, 50 và 51. Mỗi Ðại Ðội được chia thành ba Trung Ðội đánh số thứ tự từ Trung Ðội 1-12. Mỗi Tân Khóa Sinh được mang một danh số trên nắp túi áo trái suốt khóa học để dễ nhận diện.

 

3. Thành phần Sĩ Quan Cán Bộ Khóa 3:

- Ðại Úy Cao Nguyên Kiểu, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 3 SVSQ.

- Trung Úy Lâm Phước Tăng, Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 48.

- Trung Úy Vũ Ngọc Luyện, Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 49.

- Trung Úy Mai Văn Tư, Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 50.

- Trung Úy Trần Phát Minh, Ðại Ðội Trưởng Ðại Ðội 51.

 

4. Lễ khai giảng Khóa 3:

Sau hơn tuần lễ đầu, các Tân Khóa Sinh bổ sung quân trang, lãnh vũ khí, hớt tóc ngắn, may bảng tên, tổ chức đơn vị, ổn định chỗ ở rồi tập dợt cho ngày lễ khai giảng.

Sáng ngày 4/5/1962, Tiểu Ðoàn 3 SVSQ tập họp tại Vũ Ðình Trường cùng với Liên Ðoàn Ðào Tạo Hạ Sĩ Quan và quân nhân các cấp cơ hữu của Trường. Ðúng giờ theo chương trình, Ðại Tá Ðỗ Cao Trí Chỉ Huy Trưởng Trường đến chủ tọa buổi lễ khai giảng. Tiếng kèn chào đón Ðại Tá vang lên với không gian im phăng phắc. Các làn gió biển lùa vào nhè nhẹ làm cho các Tân Khóa Sinh vui mừng chào đón buổi học đầu tiên sắp bắt đầu.

Trong diễn văn khai mạc, đại tá chào mừng các tân khóa sinh. Ðại tá nhắn nhủ các Tân Khóa Sinh cố gắng học tập để sau này trở thành một Sĩ Quan Chỉ Huy xuất thân từ Quân Trường này được đa năng... Buổi lễ khai giảng thật long trọng được kết thúc. Các Ðại Ðội bắt đầu di chuyển với tư thế súng cầm tay, chạy đều đến các địa điểm lớp học. Các bản nhạc hùng tráng được trỗi lên qua các đại đội trong khi di chuyển như: “Ðường về Nha Trang nung chí người trai, một thời thép súng nở hoa tươi cười... Ðường trường xa ta quyết đi cho đến cùng... Ngày bao hùng binh tiến lên, bờ cõi vang lừng ca quyết chiến...” Ðó là giờ phút bắt đầu qua chương trình học của các Tân Khóa Sinh Khóa 3.

 

5. Chinh phục đỉnh núi Hòn Khô, Lễ gắn Alpha cùng những giờ phép đầu đời SVSQ:

Sau 8 tuần lễ huấn nhục, các Tân Khóa Sinh di hành chinh phục đỉnh núi Hòn Khô. Tối đêm ấy cả Tiểu Ðoàn làm lễ gắn Alpha do các Sĩ Quan Cán Bộ và Huấn Luyện Viên đảm trách gắn. Các Tân Khóa Sinh trở thành Sinh Viên Sĩ Quan.

Thứ Bảy và Chủ Nhật cuối tuần đó các SVSQ bắt đầu hưởng những giờ phép đầu tiên để viếng thăm thành phố Nha Trang. Với quân phục dạo phố, SVSQ ngoài Alpha vàng với nền cấp hiệu đỏ còn mang thêm dây biểu chương màu Anh Dũng Bội Tinh nơi tay trái. Riêng các SVSQ gốc Quốc Gia Hành Chánh được mang trên tay trái một dấu hiệu bằng vải hình cánh cung màu đỏ thêu chữ vàng: Học viên quốc gia hành chánh để phân biệt với các SVSQ bên Quân Ðội. Từ đó, các cựu SVSQ gốc Quốc Gia Hành Chánh rất được các em nữ sinh Nha thành quyến luyến, mến mộ không khác các SVSQ mơ mộng hải hồ (Hải Quân) hoặc SVSQ tung hoành vượt trên mây xanh (Không Quân).

 

6. Giờ này anh ở đâu?

Ðây là tên một bản nhạc do nhạc sĩ Khánh Băng sáng tác. Một trong những nhạc phẩm nói về tình lính tôi thích nhất. Trong nhạc phẩm có các câu: “...Giờ này anh ở đâu? Dục Mỹ hay Lam Sơn? Giờ này anh ở đâu? Ðồng Ðế nắng mưa thao trường...” Khóa 3 với bảy tháng trời học tập. Mỗi ngày 8 giờ, nếu học thêm giờ đêm là 12 tiếng. Ngoài giờ học ở giảng đường, SVSQ đội nắng mưa để thực tập biết bao nhiêu đề tài ở các môn học. Nào là vũ khí, tổng quát, chiến thuật. Những đề tài mà SVSQ Ðồng Ðế lo nhất là: Dây tử thần, dây kinh dị, vượt cầu dây, tụt núi, tiến dưới hỏa lực, vượt đoạn đường chiến binh, kỹ thuật vượt sông, di chuyển sình lầy, tấn công đạn thật, mưu sinh thoát hiểm, tấn công trong thành phố, tấn công làng Việt Cộng, kỹ thuật trực thăng vận, di chuyển địa hình cùng với hàng trăm đề tài học khác... Có một điều SVSQ khổ nhất là đi di hành. Theo lời Ðại Tá Ðỗ Cao Trí Chỉ Huy Trưởng, suốt Khóa 3: “Bộ Binh là phải di hành giỏi”. Tôi nhớ những lần di hành của Khóa 2 là đi lần đầu 20 cây số, lần sau mở đường đi trong núi. Về không đúng giờ ấn định, tuần sau bắt đi di hành lại cùng lộ trình trước. Lần cuối cùng phải đi từ Ðồng Ðế đến Ba Ngòi (hơn 50 cây số). Biết qua rồi mới nhớ được lâu. Tôi nghĩ việc thực tập di hành Khóa 3 không khác gì Khóa 2 phải không các bạn đồng môn?

 

7. Khóa 3 tặng Quân Trường một thư viện tráng lệ:

Mỗi Khóa đào tạo Sĩ Quan đều tặng cho nhà trường một công trình để lưu niệm trước khi rời khỏi nhà trường như: Khóa 1 tặng một Chẩn Y Viện và Hộ Sinh, Khóa 2 tặng một Câu Lạc Bộ SVSQ, đến Khóa 3 tặng một thư viện tráng lệ, thơ mộng như một căn biệt thự mùa hè.

Thư viện này được các SVSQ Khóa 3 chung phần đóng góp để hình thành. Công trình này gồm có nhiều phòng, nhiều khu vực.

Do sự vận động khéo léo của Ðại Tá Ðỗ Cao Trí Chỉ Huy Trưởng Trường, Ðại Tá đề cử Thiếu Tá Phùng Ngọc Bang về tận Thủ Ðô Sàigòn liên lạc qua các Bộ Quốc Phòng, Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Thông Tin, Bộ Quốc Gia Giáo Dục, Phòng Thông Tin Hoa Kỳ cùng các nhà sách, nhà xuất bản để xin binh thư, sách báo. Nhiều trăm ngàn cuốn binh thư, sách, báo hữu ích, thiết thực đến đời sống sinh viên được đưa về phân loại, sắp xếp tại thư viện.

Sau lễ mãn khóa 3, Tổng Thống đã đến cắt băng khánh thành thư viện rồi cùng quan khách đã lần lượt thăm các phòng trưng bày đủ loại sách báo. Trước khi ra về, Tổng Thống vui mừng khen ngợi nhà trường và các Tân Sĩ Quan Khóa 3 trong việc thực hiện thư viện để các SVSQ có nơi tham khảo và giải trí khi có giờ rảnh rỗi.

 

8. Tượng đài thao diễn nghỉ:

SVSQ Khóa 3 có sáng kiến thật độc đáo. Ðó là đề nghị Bộ Chỉ Huy nhà trường cho thực hiện một bức tượng chiến binh VNCH với quân phục tác chiến đứng sừng sững với tư thế thao diễn nghỉ trên một đỉnh núi thuộc dãy núi Hòn Khô. Nghe đâu sáng kiến này là đề nghị của cựu SVSQ Thái Hà Chung, Ðốc Sự Quốc Gia Hành Chánh khi anh Chung giữ chức vụ Tiểu Ðoàn Phó Khóa Sinh.

Công trình này thực hiện xong đã tốn biết bao mồ hôi, công sức của các SVSQ Khóa 3, hàng tuần phải mang nước, xi măng, cát, sắt... lên đỉnh núi để xây đắp ngôi tượng. Tượng được hoàn thành, từ thành phố Nha Trang cũng nhìn thấy.

Bức tượng hình thành, dân gian đã có thơ:

Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,

Em nằm xõa tóc đợi chờ ai.

Sau khi xâm chiếm Miền Nam, Cộng Sản đã đập phá bức tượng lịch sử này của trường.

 

9. Tham dự lễ diễn hành ngày Quốc Khánh 26/10/1962 tại thủ đô Sàigòn:

Tiểu Ðoàn 3 SVSQ được đề cử tham dự Lễ Quốc Khánh 26/10/1962 tại thủ đô Sàigòn. Về Sàigòn được tạm trú tại Trường Sĩ Quan Trù Bị Thủ Ðức. So với bộ đại lễ của SVSQ các khóa đàn anh thì bộ đại lễ của SVSQ Tiểu Ðoàn 3 là hoàn bị nhất vì đã có gù vai cùng sọc quần đều là màu xanh nước biển. Tiểu Ðoàn rập bước trong đoàn quân diễn hành thật đẹp mắt. Ðồng bào thủ đô hoan hô vang dậy khi Tiểu Ðoàn 3 SVSQ diễn hành ngang qua. Kết thúc cuộc diễn binh, Ban Tổ Chức ngày lễ chọn SVSQ Ðồng Ðế vào hạng đặc biệt xuất sắc.

 

10. Lễ mãn khóa 3 Nha Trang:

Sau 7 tháng thao luyện nơi quân trường, một buổi lễ mãn khóa được tổ chức rất trọng thể vào ngày 17/12/1962 tại Trường Hạ Sĩ Quan QLVNCH dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng đã trình diện 524 SVSQ tốt nghiệp lên Tổng Thống. Thủ khoa Khóa 3 là SVSQ Lương Phú Hải thuộc Trường Thiếu Sinh Quân.

Lễ mãn khóa 3 được tổ chức tại Nha Trang qua ba ngày với 7 tiết mục. Mời bạn đọc qua phóng sự lễ mãn khóa 3 do Nhà Văn Quân Ðội Văn Quang thực hiện phóng sự buổi lễ này, được đăng vào Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hòa số 97-98 ra ngày 17/1/1963 có trích đăng cùng bài báo này (thật là cơ duyên tôi sưu tầm được phóng sự trên. Kính lời cám ơn và chúc sức khỏe đến Nhà Văn Văn Quang).

 

11. Tung cánh chim tìm về đơn vị mới:

Các Tân Sĩ Quan Khóa 3 được phân phối đến các đơn vị tác chiến, chỉ một ít về ngành chuyên môn. Riêng 13 Ðốc Sự Khóa 6 và 29 Ðốc Sự Khóa 7 Quốc Gia Hành Chánh về trình diện Phủ Tổng Thống để phân bổ đến các đơn vị Hành Chánh từ Trung Ương đến địa phương.

 

12. Công thành, danh toại:

Kể từ ngày ra trường 17/12/1962 đến ngày 30/4/1975, non 12 năm các Sĩ Quan xuất thân từ Khóa 3 Chính và Phụ đã phục vụ Tổ Quốc đắc lực. Một số khá nhiều Sĩ Quan đã hy sinh vì Tổ Quốc. Có người ra trường mới tháng đầu đã đền xong nợ nước.

Trong Khóa 3 Chính và Phụ có 13 Ðốc Sự Khóa 6 và 29 Ðốc Sự Khóa 7 Quốc Gia Hành Chánh. Khóa này phía văn phát nhiều hơn võ, tiêu biểu như: Vũ Khiêm Phó Tổng Thư Ký Bộ Tài Chánh, Trần Ngọc Bình Tổng Thư Ký Bộ Cựu Chiến Binh, Thái Hà Chung Chánh Văn Phòng Thượng Viện, Nguyễn Công Khanh Chánh Văn Phòng Tổng Trưởng Bộ Y Tế, Ðỗ Tiến Ðức Giám Ðốc Nha Ðiện Ảnh Quốc Gia, Trần Văn Tạo Giám Ðốc Nha Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia, Trần Thiện Tích Chánh Thanh Tra Giám Sát Viện Khu 3, Ðặng Huyền Thanh Phó Viện Trưởng Viện Quốc Gia Nông Nghiệp. Các Phó Tỉnh Trưởng của Miền Nam Việt Nam như các Ðốc Sự Nguyễn Trọng Can Cựu Phó Thị Trưởng Ðà Lạt, Nguyễn Ngọc Vỵ Phó Tỉnh Trưởng Ðắc Lắc, Nguyễn Hữu Kế Phó Tỉnh Trưởng Ninh Thuận - Tuyên Ðức và Ba Xuyên, Nguyễn Thế Chu Phó Tỉnh Trưởng Quảng Ðức, Trương Minh Nhuệ Phó Tỉnh Trưởng Long Khánh, Lê Tấn Nhiễu Phó Tỉnh Trưởng Quảng Tín - Ninh Thuận, Ðặng Huy Túc Phó Tỉnh Trưởng An Xuyên, Trần Công Hàm Phó Tỉnh Trưởng Pleiku, Nguyễn Khai Sơn Phó Tỉnh Trưởng Phước Long - Kiến Tường...

Về võ nổi tiếng nhất là Trung Tá Nguyễn Ngành 28 tuổi đã là Tiểu Ðoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân cọp ba đầu rằn. Người lên chức không kịp làm thẻ căn cước quân nhân, đến nỗi đã có một lần bị Quân Cảnh hỏi giấy tờ vì quá trẻ mà đeo lon Trung Tá và đã bị Quân Cảnh đưa về bót.

Còn các Trung Tá như: Lê Quý Dậu Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 21 Biệt Ðộng Quân, Trung Tá Nguyễn Tấn Minh Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 1/21 Ðịa Phương Quân, Trung Tá Nguyễn Văn Diễn Trưởng Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, Trung Tá Nguyễn Bá Căn Phòng Nhân Viên Bộ Quốc Phòng, Trung Tá Hồ Cẩm Trưởng Phòng Nhân Viên Bộ Tư Lệnh Không Quân, Trung Tá Trần Vĩnh Ðạt Quân Chủng Không Quân, Trung Tá Nguyễn Văn Kỉnh Liên Ðoàn Trưởng Ðịa Phương Quân Thừa Thiên... (còn một số Trung Tá không nhớ hết). Ða số đã thăng Thiếu Tá giữ các chức vụ quan trọng trong Quân Lực như Tiểu Ðoàn Trưởng, Quận Trưởng kiêm Chi Khu Trưởng, các Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm yểm trợ tiếp vận Tiểu Khu và các chức vụ tương đương. Khóa 3 rất ít người còn ở cấp Ðại Úy.

 

13. Bị tù khổ sai tập thể:

Vận nước đổi thay vào ngày 30/4/1975. Các cựu SVSQ Khóa 3 nằm chung trong số phận những người phục vụ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Do trách nhiệm đơn vị hoặc nhiều lý do không vượt thoát được đã vào vòng lao lý khổ sai của Cộng Sản với mỹ từ cải tạo. Người 5 năm, kẻ 7 năm, người lâu 10 năm hay hơn nữa. Một số qua đời trong tù, còn lại ra khỏi tù để rồi có dịp sang định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn. Một số ít đến các nước tự do khác.

 

14. Ðời cha, ông khổ nạn. Ðời con cháu thoát nạn Cộng Sản:

Các cựu SVSQ Khóa 3 đau khổ trong lao tù Cộng Sản, đánh đổi lại may có chương trình tị nạn nên một số con cháu được theo cùng cha, ông để có môi trường tiến thân, có danh phận, lại được sống trên một đất nước đầy đủ tự do, nhân quyền.

 

15. Ai còn, ai mất?

Qua tổng số Sĩ Quan ra trường của hai Khóa 3 Chính và Phụ, có đến 624 người. Ðến nay qua danh sách chỉ còn hơn 100 người ở hải ngoại. Chưa kể những người mới đây đã xa gia đình, lìa bỏ bạn bè, đồng khóa. Danh sách mỗi ngày càng ngắn lại. Mỗi lần họp mặt về sau càng ít bạn bè tham dự.

Tuổi đời các SVSQ Khóa 3 có phần chênh lệch. Ðến nay trẻ nhất cũng đã thất thập, người cao tuổi đến số 85.

Kính chúc các bạn Ðồng Môn Khóa 3 nhiều sức khỏe, luôn an vui, hạnh phúc bên con cháu.

 

Thay lời kết

 

Bài này được viết trong thời gian ngắn để kịp phổ biến tặng các bạn Ðồng Môn Khóa 3 cùng các chiến hữu QLVNCH nhân kỷ niệm 49 năm ngày ra trường của Khóa 3, các bạn đồng Khóa 2 và đồng môn của Trường Mẹ (17/12/2011).

Nội dung trong bài được tham khảo một ít tài liệu cũ Quân Ðội trong năm 1962, 1963 và về sau, qua hồi tưởng lại của vài bạn Ðồng Môn Khóa 3, thêm phần trí nhớ của tác giả qua các sự kiện liên quan đến Khóa 3 xảy ra 50 năm về trước nên không tránh khỏi khiếm khuyết. Hy vọng nhận thêm ý kiến xây dựng và đề nghị bổ khuyết để lần phổ biến sau được tương đối đầy đủ và chính xác hơn. Xin cám ơn.

Ðịa chỉ tác giả: Huan Ho, P.O. Box 1711, Westminster, CA 92684

Quận Cam, tháng 12/2011

Hồ Ðắc Huân

Cựu SVSQ K.2 Nhân Vị Nha Trang

 

* Tài liệu tham khảo:

- Sách Lược Sử QLVNCH của Trần Ngọc Thống, Hồ Ðắc Huân và Lê Ðình Thụy (2011).

- Tập Tiểu Sử và hình ảnh Trưởng Hạ Sĩ Quan Quân Ðội VNCH 1962.

- Nguyệt San Chiến Sĩ Cộng Hòa 1962-1963.

- Niên Giám Sĩ Quan 1966.

- Ðặc San Ðồng Ðế 2000, 2001.

- Quốc Gia Hành Chánh 6, 7, 8 Ðốc Sự: Nửa thế kỷ hội ngộ.



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus