XEM NGƯỜI VIỆT TRÊN



CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»

« Trở về trang trước

Người lính nói về ngày 30 tháng 4
Monday, April 30, 2012 2:52:45 PM




 

Huy Phương/Người Việt

 

Nguyễn Phúc (Sông Hương)
Tiểu đoàn trưởng TÐ3, Trung Ðoàn 48, SÐ 18 BB

Sáng 30 tháng 4, qua radio, chúng tôi nghe lệnh buông súng đầu hàng của Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh truyền đi trong khi đơn vị (Tiểu Ðoàn 3/48/SÐ18) đang băng đồng xã Long Thạnh Mỹ, Thủ Ðức về Sài Gòn để cùng lực lượng phòng thủ giữ thủ đô. Tôi cho lệnh đơn vị dừng lại. Các đại đội trưởng tỏ ra ngạc nhiên. Tôi phân vân không biết có nên cho đơn vị biết không vì tôi sợ anh em mất tinh thần. Tuy vậy sau đó vài phút ngần ngại, tôi tập họp anh em, báo tin Tổng Thống Dương Văn Minh đã kêu gọi buông súng đầu hàng. Anh em binh sĩ khi nghe tin đều rất ngỡ ngàng, thất vọng. Họ không tin nổi đây là sự thật. Tạo, Bé là hai người lính Truyền Tin đi cạnh tôi mặt sa sầm buồn khổ, hỏi tôi: “Bây giờ tính sao thiếu tá?” Nhiều anh em sĩ quan, binh sĩ đề nghị tiểu đoàn tìm đường đi về vùng 4 của Tướng Nguyễn Khoa Nam nhưng trong tình thế này, chúng tôi không thể làm gì hơn được. Các đại đội đem được hết anh em thương binh về tiểu đoàn, tôi rất mừng vì không có ai tử thương trong cuộc rút quân này, trừ Trung Sĩ Sơn, hy sinh khi qua sông, hụt chân mà cũng cố nâng chiếc máy truyền tin khỏi mặt nước.

Mất Sài Gòn, mất miền Nam là mất tất cả. Ðây là khởi đầu của một cuộc đày ải, trả thù không riêng người lính mà cả toàn dân miền Nam.

30 tháng 4 là ngày Quốc Hận. Tôi muốn nói đến cả nước Việt Nam:

Sau 30 tháng 4, người dân miền Bắc vào Nam sinh sống mới thấy rõ miền Nam đất lành, tự do dân chủ là những điều mà người miền Bắc không dám nghĩ và mơ ước. Họ càng thấy rõ họ đã bị lừa mị, hy sinh cho một cuộc xâm lăng tàn ác. Họ tiếc cho miền Nam, thương cho người miền Nam, cảm phục người miền Nam.

Sau gần mười năm đi tù về, tôi nghe và thấy những sự việc rất trung thực đó trong một xã hội quá rách nát và tụt hậu tận cùng kể cả luân thường đạo lý. Tôi rất đau khổ, cảm thấy mình đắc tội với dân tộc, có cảm tưởng mình đã không hoàn thành nhiệm vụ của một người lính.

 

Nguyễn Văn Mai
Binh II - Nha Kỹ Thuật

Tôi phục vụ tại Ðại Ðội Công Vụ Nha Kỹ Thuật. Ngày 26 tháng 2, 1975 trong chuyến công tác tại Hốc Môn, bị phục kích, tôi mất một chân trái và một tay trái, được đưa về chữa trị tại TYV Cộng Hòa. Vết thương chưa lành nên chưa ra Hội Ðồng Giám Ðịnh Y Khoa cũng chưa được phân loại.

Ðã 37 năm, nhưng làm sao tôi quên được ngày hôm đó khi nghe tin Saigon sắp mất mà tôi thì đang ở trong tình trạng nằm một chỗ, không đi đứng được.

Chiều ngày 30 tháng 4, Cộng Sản vô TYV Cộng Hòa, ra lệnh tất cả thương binh nặng nhẹ đang nằm điều trị đều phải rời bệnh viện ngay để cho bộ đội tiếp quản cơ sở. Nghe tin chộn rộn, gia đình tôi đã chạy vào, bồng tôi lên xe gắn máy của ông già chạy về cư xá trong trại gia binh Lê Văn Duyệt giữa cảnh hỗn loạn của Saigon trong ngày hôm đó. Gia đình tôi đã săn sóc thuốc men cho đến ngày lành vết thương.

Ít lâu sau gia đình tôi trở về quê quán ở Bà Rịa, Vũng Tàu để nương náu qua ngày.

 

Huỳnh Kỳ Hương
Binh I ÐPQ - Tiểu Khu Kiên Giang

Ngày 30 tháng 4, 1975, tôi đang nằm nhà tại Rạch Sỏi, Kiên Thành để dưỡng thương và chờ ngày ra Hội Ðồng Y khoa, vì cuối năm tôi bị mất một chân trong lúc đi tuần tiễu quanh đồn, vô ý đạp phải mìn. Nghe tin ông Dương Văn Minh đầu hàng, tôi nghĩ cuộc đời của tôi coi như đã chấm dứt và chấp nhận bị dọa đày hay bị giết, nếu không thì với hoàn cảnh một vợ 6 con cũng không biết cách gì để sống. Sau một ngày học tập, mỗi tuần lại phải đi làm công tác vét mương, đào kinh dù phải chống nạng mà đi.

Nhiều lúc buồn quá, tôi cũng muốn chết cho xong, kêu vợ và nói rằng: “Hoàn cảnh anh hiện nay, thân thể thương tật, giò thì què, không có trợ cấp, không biết cách gì làm ăn, nếu có ai thương, thôi thì em đi lấy chồng cho đỡ khổ!” Vợ tôi khóc, nói nếu tôi chết thì bả sẽ chết theo.

 

Tống Văn Thái
Trưởng toán Biệt Kích Hector Bravo

Ngày 30 tháng 4, 1975, tôi và gần 100 anh em Biệt Kích Nhảy Bắc đang bị giam ở trại Cổng Trời, Hà Giang. Sau Hiệp Ðịnh Paris năm 1973, thay vì thả chúng tôi về Nam, cộng sản đưa chúng tôi lên giam ở trại Cổng Trời là một trại khắc nghiệt nhất của miền Bắc. Những ngày cuối tháng 4, anh em chúng tôi rất buồn khi nghe tin dồn dập chúng ta bỏ nhiều tỉnh thành và rút dần về phía Nam. Ngày 30 tháng 4 chúng tôi có được tin cộng sản vào đến Saigon nhưng hồ nghi vì chưa có tin miền Nam thất thủ vì Cổng Trời, Hà Giang ở quá xa. Mãi đến ngày 1 tháng 5, bọn cai tù mới mở cổng nhà giam, cho anh em ra ngoài sân và loan báo chúng đã treo cờ trên nóc dinh Ðộc Lập. Chúng tôi im lặng nhìn nhau, hầu như không có một phản ứng nào ngoài những giọt lệ dâng lên trong khóe mắt, nhưng ai cũng muốn giữ vẻ bình thản bên ngoài.

Chúng tôi biết Saigon mất là không còn chỗ nương tựa và không có ngày về, chúng tôi đang ở trong nhà tù nhỏ nhưng bây giờ cả đất nước đang ở trong nhà tù lớn. Trong nhiều năm từ khi làm người lính biệt kích, chúng tôi nghĩ đất nước sẽ có ngày thống nhất nhưng thống nhất theo chiều hướng là chúng tôi sẽ cắm ngọn cờ VNCH tại Hà Nội. Chúng tôi ra tù sau 20 năm bị giam cầm, nhưng may mắn sau đó lại được định cư tại Mỹ. Mỗi năm, ngày 30 tháng 4 đến, lòng chúng tôi thường nghĩ đến anh em chiến hữu đã mất, và nghĩ đến hoàn cảnh hiện nay của đồng bào miền Bắc, họ mong muốn được chúng ta giải phóng họ chứ không phải nghịch lý như cả nước phải sống trong áp bức và bất công như ngày nay.

 

Dương Nhi
Ðại Ðội Hành Chánh Công Vụ - LÐ 14 BÐQ

Ngày 30 tháng 4, 1975 tôi đang lếch thếch trên đường chạy loạn từ miền Trung về Saigon, thì nghe tin Saigon thất thủ. Ðơn vị tôi gồm có ba đại đội 77, 78, 79 tan hàng tại Ðà Nẵng. Là hạ sĩ quan, tôi tránh được lời kêu gọi trình diện cũng như thoát khỏi các cuộc bắt bớ. Bằng tất cả mọi phương tiện, đi bộ, xe ôm, xe đò... nhưng vì trong túi không tiền nên chuyến đi về Saigon để tìm gia đình rất vất vả và kéo dài nhiều ngày. Ngày 30 tháng 4 tôi mới đến khoảng Tam Quan, Bồng Sơn, nghe bộ đội cộng sản và dân chúng nói chuyện xe tăng địch tiến gần đến Saigon, nhưng lòng tôi vẫn không tin. Qua ngày hôm sau, tôi mới nghe được tin Saigon thất thủ, đang đi bộ trên đường tôi như muốn ngã khuỵu xuống, thế là tất cả hy vọng về đến với gia đình, với Saigon tự do coi như tiêu tan.

Cảm giác phiền muộn, rã rời khiến tôi không còn muốn làm gì nữa, nhưng việc biết gia đình, ba mẹ tôi đang ở Saigon, vẫn ngóng tin con, không biết tôi chết sống ra sao, sau khi mất Ðà Nẵng, nên phải cố gắng mà cất bước đi dần về phương Nam. Ngày đơn vị tan hàng, miền Nam thất thủ, lúc đó tôi còn trẻ, chỉ mới 20 tuổi. Sau hơn 10 năm sống dưới chế độ cộng sản, tôi đã khá trưởng thành qua năm tháng để hiểu thế nào là chế độ cộng sản.

Năm 1988 tôi mới vượt biên đến được đất Mỹ, dù nay đã có mái ấm gia đình hay có cuộc sống ổn định gì đi nữa, tôi vẫn luôn luôn nghĩ mình là một người lính chưa hoàn thành nhiệm vụ. Gần như năm nào gần đến ngày 30 tháng 4, tôi cũng về Little Saigon để dự lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận hoặc tham gia các cuộc biểu tình hay sinh hoạt cộng đồng tại đây.

 

Phạm Văn Thành
TB Ðiều Phối Quân Xa - Liên Ðoàn 5 Vận Tải (BCH 5 TV)

Ngày 2 tháng 4, 1975, đơn vị tôi trú đóng trong bán đảo Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa, đang yên lành thì có lệnh gấp rút dời doanh trại để nhường chỗ cho Sư Ðoàn 23 Bộ Binh từ Ban Mê Thuột về tổ chức lại hàng ngũ. Cam Ranh cũng đang hết sức nhộn nhịp vì ùn ùn các đơn vị từ Vùng 1 Chiến Thuật kéo về. Cảnh lạc vợ, lạc con làm cho các giới chức và binh sĩ mắt đỏ ngầu vì tức giận và sẵn sàng gây hấn với bất cứ ai.

Mấy ngày sau, hai ông trưởng, phó của chúng tôi đi đâu chẳng rõ, duy nhất chỉ một lần nghe lệnh qua vô tuyến VRC-34 bắt mọi người ở tại chỗ chờ lệnh, bỏ đơn vị lại cho tôi mà không hề cho tôi biết quyết định phải xử trí trong tình hình hiện nay ra sao. Trong đêm cuối cùng, thay vì theo đoàn quân xa chạy về hướng Saigon, tôi ở lại với đơn vị và một số lớn anh em binh sĩ trong trại gia binh, buồn lòng và thất thế, tôi đành buông trôi số phận với một lòng tin mơ hồ giao phó số mạng cho may rủi.

Ngày 22 tháng 4, 1975, sau khi bộ đội cộng sản vào Cam Ranh, tôi cũng như các sĩ quan bị gọi trình diện và bị đưa vào tập trung tại Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn cũ, trong khi Saigon tuy không còn yên tĩnh, nhưng vẫn chưa có biến cố gì xảy ra. Ðời binh nghiệp chấm dứt sau 13 năm phục vụ. Ðêm đêm nghe rải rác tiếng súng nổ miệt đèo Phụng Hoàng, sáng ra, nghe tin đêm qua Fulro về tấn công, đánh phá.

Chỉ mấy ngày sau nghe tin Saigon thất thủ, thế là hết hy vọng.

Bây giờ 37 năm sau ngày tang thương, đổi đời 30 tháng 4, tôi vẫn còn rùng mình khi nhớ lại cái ngày nghiệt ngã hôm đó.



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus