CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»
« Trở về trang trước

Tân Sơn Nhứt, Giáng Sinh 1954
Wednesday, December 26, 2012 6:58:54 PM




 

 

Viên Linh

 

Không phải là một tín đồ Thiên Chúa Giáo, song ngày Giáng Sinh luôn luôn và mãi mãi thiêng liêng đối với người viết bài này, đó là ngày đầu tiên - đúng ra là đêm đầu tiên trong đời, tôi đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhứt. Vâng, lúc ấy năm 1954, gọi là Nhứt, sau này nhiều người gọi quen, mới thành Nhất. Và Tân Sơn Nhất là mặt đất đầu tiên của Sài Gòn, của Miền Nam, mà cậu thiếu niên bước xuống, ở lại, lớn lên, và tất cả khiến lòng yêu Tân Sơn Nhất ấy là vô cùng và lòng yêu Giáng Sinh ấy cũng là vô cùng. Nhưng cũng vô cùng đau đớn, Tân Sơn Nhất cũng là phi trường mà tôi lìa bỏ vào một ngày Tháng Tư 1975, từ đó ra đi mãi mãi khi chiếc máy bay DC 3 cất cánh, bay lên cao, nghiêng lượn một vòng cho những kẻ khứ quốc được nhìn thấy thủ đô đất nước tự do một lần nữa, cho tới giờ phút những dòng này được viết ra, hắn chưa trở lại Sài Gòn, Miền Nam, và Ðất Nước, từ ngày ra đi Tháng Tư ấy.

Nhà thờ Ðức Bà Sài Gòn, ảnh Manhhai, Internet.

Hiệp Ðịnh Geneve chia đôi Việt Nam bắt đầu được thực thi vào Tháng Bảy, 1954, là sau 300 ngày từ ngày ký kết, đất nước sẽ chia hai, ngăn cách bởi dòng Bến Hải ở vỹ tuyến 17, không ai còn có thể ra hay vào, đi hay ở. Hà Nội, trong trí nhớ đã phai mờ, lúc ấy tan hoang, xô bồ với bàn ghế vật dụng bày bán ngoài đường, với con người tất tả ngược xuôi, ôm đồm, với những khuôn mặt đăm chiêu, với những bóng dáng lầm lũi, cho dù đó là bóng một người đàn ông mặc bộ âu phục khéo cắt, hay dáng một phụ nữ trong chiếc áo dài nhung màu đen hay màu huyết dụ mịn màng... “Ði Nam!” “Vô Nam!” “Ði!” Những câu quyết định nói trực diện, những tiếng ngắn ngủi nói với theo sau lưng. “Ở với Vẹm thế nào được. Răng đen mã tấu mồ hôi dầu. Chết với chúng liền. Mõm vẩu, chân đất, túi dết, bỏ mẹ cả đám.” Tôi vừa 16 tuổi, bộ vó ngây thơ, chân đi Bata (một loại giầy vải), đầu đội mũ liège trắng (cái mũ bằng bấc thông thường nhiều người đội, không phải nón cối; nón cối vành nhỏ hơn, màu xanh lá cây và bọc nhựa để che mưa). Cảnh vật như thế, còn âm thanh màu sắc hẳn cũng đổi thay. Tôi có nghe một vài lời nhạc mới, nay thì không nhớ hết. Dường như lời tiếng Việt chuyển dịch từ một bài thơ của thi sĩ Nga Simonov: Ðợi Anh Về. Với chiếc xe đạp Peugeot Dura, cậu học trò đệ ngũ vèo vèo khắp đường phố Hà Nội, cho tới một hôm, gia đình bắt trở về quê, “lỡ Hà Nội lại nổ súng,” “lỡ chiến tranh tái phát bất ngờ...”

Virginia, Giáng Sinh 2012 trong ngày tuyết đầu mùa.

Quê tôi là thị trấn Ðồng Văn, cách Hà Nội 48 cây số ở phía Bắc, cách Phủ Lý 11 cây số ở phía Nam, lúc ấy đã nằm dưới sự kiểm soát của Việt Minh. Một nửa Ðồng Văn bên kia quốc lộ số 1, từ con sông đào trở vào, gọi là làng; một nửa bên này với Con Ðường Cái Quan hay quốc lộ số 1 có đường xe lửa Xuyên Việt (Hà Nội Sài Gòn...) chạy qua, gọi là phố. Như thế tôi đã sống hơn hai tháng với cơ chế của Việt Minh ở quê nhà. Cứ buổi sáng đạp xe tới học ở Trung học Phủ Lý, xế trưa đạp xe về, có hôm biết mẹ thuê xe vận tải xuống bãi biển Văn Lý ở tỉnh Nam Ðịnh buôn muối cho đại lý muối của bà ở quê mình, tôi trốn nhà đạp thẳng lên Hà Nội chơi, tối mới về. Thời gian ngắn ngủi này đã khiến nhiều thiến niên, nam cũng như nữ, say mê nếp sinh hoạt đoàn thể, ca hát, đóng kịch, làm bích báo, tập trận giả... Còn nhớ, tôi đã làm một bài thơ đăng trên tạp chí Vấn Ðề của thầy Vũ Khắc Khoan, ghi lại một trong những kỷ niệm của thời gian ấy, một trong những đêm trăng không thể quên:

 

Y biết chơi trận giả

Làm Việt Minh một tối, tối khác làm Tây

Ðánh vùi ven dốc chùa nhà

Ðôi khi sưng đầu tét trán.

 

Nhưng một đêm trăng nọ

Nhảy tòm xuống hố cá nhân

Lỡ ôm nhằm cô nàng đeo băng hồng thập tự

 

Y biết thế nào là chuyện yêu đương

Vào năm mười hai tuổi rưỡi

Với người thôn nữ mười lăm.

 

Có gặp lại em cách đây một độ

Em nuôi cút lời, làm patin lỗ

Nhìn nhau than thở liên hồi

Háy nhau lúc chia tay

Mấy vợ mà sao ốm dữ.

(Viên Linh, Lời Nôm)

 

Vì thế, tôi nôn nóng trở về trường cũ Chu Văn An ở Hà Nội, cùng ngày 26 tháng 10, 1954, là ngày bộ đội Việt Minh “nhập đô thành,” tiếp thu thủ đô từ tay quân Pháp. Thầy Hiệu Trưởng B. (ngồi trên ghế ở văn phòng hiệu trưởng cũ của thầy Vũ Ngô Xán), mở cuộc thi bích báo (báo dán tường) toàn trường, chủ đề tự do, lớp nào cũng phải nộp một tờ. May mắn tôi được giải ba, chiếm một trong ba giải cao nhất cùng các anh các lớp đệ tam, đệ nhị. Nhờ tờ báo ấy, “chủ nhiệm” được thầy hiệu trưởng gọi lên làm việc tại văn phòng, trước và sau giờ học. Thầy B. nói từ nay gọi thầy bằng anh. Những đam mê thiếu thời này khiến cậu thiếu niên nhẹ dạ không muốn vào Nam, không những thế, càng muốn ở lại tham gia các sinh hoạt nhộn nhịp, quyến rũ. Nhưng trước Noel một hai ngày, bà mẹ rời họ hàng đang chờ tàu ở Hải Phòng để di cư vào Nam, lộn trở về Hà Nội. Bà nhờ người chở thẳng tới trường Chu Văn An, vào thẳng phòng hiệu trưởng xin phép cho gặp con. Chuyện đi Nam giữa hai mẹ con kéo dài cả tiếng đồng hồ ở một góc sân trường, cuối cùng bà mẹ bảo con phải vào nói sự thật với thầy B., và xin thầy một cái giấy phép.

Lúc ấy, lằn ranh Quốc Cộng đã lùi tới ga xe lửa Ðỗ Xá (nếu người viết nhớ đúng tên), trên đường Hà Nội-Hải Phòng. Trong không thể ra, ngoài không thể vào, vì ở quãng giữa một bên là bộ đội Việt Minh, bên kia là quân Pháp và quân đội quốc gia Việt Nam, kiểm soát giấy tờ ngặt nghèo. Bà mẹ biết trước như thế, nên sau khi dặn dò con trai, bà hóa trang thành một phụ nữ làm ruộng, đầu đội nón lá, mặc quần thâm lấm bùn, áo vải nâu cũ sờn, lội ruộng đi vòng ra xa khu nhà ga, để lên con tầu ở phía bên kia ga, trở lại trại tạm cư ở Hải Phòng. Còn cậu con trai, sau khi vào gặp thầy Hiệu Trưởng B., cậu đã là một người khác. (Thật ra Chu Văn An Hà Nội sau khi được Việt Minh tiếp thu, chưa có chức hiệu trưởng. Giáo Sư B. ngồi ở ghế điều hành, nhưng chức vị của ông là đặc trách trung học và đại học. Sau 1954, ông là bộ trưởng Giáo Dục Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.)

Chỉ đâu ba ngày sau, tôi được đưa lên một chiếc DC 4, và chiếc máy bay vận tải nặng nề đã rời phi trường Cát Bì, đổ mẹ góa con côi chúng tôi xuống phi trường Tân Sơn Nhứt chỉ khoảng ba tiếng đồng hồ sau. Trên đường rời phi trường, tới một trại lều tạm cư, xung quanh phần lớn là đồng bào Thiên Chúa Giáo, tôi nghe được những lời đối thoại về ngày Chúa ra đời, cùng tiếng nhạc bài ca Silent Night (Ðêm Thánh Vô Cùng): “Ðêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời...” Ðó là một đêm không ngủ, hầu như không ai ngủ, tiếng chuyện trò râm ran, tiếng cười nói đều đều, và tiếng hát nho nhỏ êm đềm mà với tôi, Tân Sơn Nhất là phi trường đưa đến Tự Do, dù 1954 hay 1975. Nếu có một ngày nào kẻ ra đi xưa kia đặt chân xuống Tân Sơn Nhất một lần nữa, bốn mươi năm sau ngày rời bỏ chẳng hạn, thì Tân Sơn Nhất cũng vẫn lại là một phi trường tự do. Tôi tin chắc chắn ngày ấy đã rất gần.

(Viên Linh, Giáng Sinh trong tuyết 2012, Virginia. Tặng Ðinh Cường, Thế Toàn Phở Xe Lửa.)



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus