CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»
« Trở về trang trước

Cuối năm cùng ôn lại lịch sử thời Tây Sơn
Monday, December 31, 2012 8:12:47 PM





Du Long Chuyển Phượng

 

Võ Thành Văn

 

Nghĩa đen của kế này là lấy cắp con rồng thế vào chỗ con phượng, tức là tráo người này vào chỗ người khác, vật này thế cho vật khác, hay minh danh một điều này nhưng lại thi hành một điều khác, v.v... để đánh lừa đối phương.

Về hình thức, kế này có vẻ tương tự như kế Kim Thiền Thoát Xác (Ve Sầu Vàng Lột Xác), thay hình đổi dạng để đánh lừa địch, nhưng có tính cách chủ động tích cực hơn, trong khi kế ve sầu thoát xác ứng dụng cho việc thay đổi hình dạng trong hoàn cảnh nguy cấp để thoát hiểm.

Ðiển hình của kế ve sầu thoát xác là việc Lê Lai mặc áo hoàng bào xuất trận hy sinh thay cho Lê Lợi để đánh lừa giặc Minh khi quân ta bị vây khốn tại Chí Linh. Lê Lợi thoát xác thành một nghĩa quân trốn khỏi vòng vây của địch và tiếp tục lãnh đạo công cuộc kháng chiến chống giặc Minh. Trong khi đó, kế “lấy rồng thay phượng” có nội dung chủ động, và đòi hỏi những chuẩn bị dầy công hơn để đánh lừa đối phương.

Trong chính trị, thí dụ điển hình thông dụng của kế này là chuyện đánh tráo di chiếu của một ông vua vừa băng hà để thay người kế nghiệp được chỉ định trong di chiếu bằng một người khác.

Trong thời Tây Sơn, kế này được Quang Trung Hoàng Ðế và Ngô Thì Nhậm thi hành để đánh lừa Vua Càn Long của nhà Mãn Thanh.

*

Tháng Giêng năm Kỷ Dậu 1789, Quang Trung Hoàng Ðế đại phá quân Thanh và giải phóng toàn cõi Bắc Hà khỏi sự thống trị của đoàn quân Mãn Thanh. Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sĩ Nghị phải bỏ cả ấn tín và mật chỉ lẫn binh giáp chạy thoát thân. Trên vùng biên giới Hoa Việt, dân Trung Hoa thấy tàn binh Mãn Thanh chạy túa về cũng hoảng sợ chạy theo, làm biên thùy vắng tanh đến mấy trăm dậm. Tin về tới Yên Kinh, Càn Long căm giận sai gọi Tôn Sĩ Nghị về trình diện và cho Phúc Khang An làm tổng đốc hai tỉnh Quảng Ðông và Quảng Tây, đốc xuất binh mã chín tỉnh định đem nửa triệu quân qua cửa Nam Quan rửa hận.

Phúc Khang An tên tự là Giao Lâm, họ Phú Xát (dường như là cùng họ với Hoàng hậu Mãn Thanh) là hàng tông thất Mãn tộc và cũng là một tay văn võ mưu trí hơn đời trong triều Mãn Thanh. Ông được phong tước Công (Gia Dũng Công đệ nhất đẳng), từng đánh Ðông dẹp Bắc dưới triều Càn Long, là Ngự tiền đại thần, Kinh duyên Giảng quan (chức quan giảng sách nơi chiếu vua ngồi), Thái tử Thái bảo Nội đại thần, Nghị chính đại thần, Hiệp biện Ðại học sĩ, Thượng thư bộ Lại kiêm bộ Binh (Bộ trưởng Nội vụ kiêm Quốc phòng), Ðô sát viện Hữu Ðô ngự sử. Ðược cử làm Tổng đốc Lưỡng Quảng, Phúc Khang An kiêm lý toàn bộ các việc kinh tế và thuế vụ để điều động quân binh qua đánh nước ta.

Triều đình Mãn Thanh còn đang chuẩn bị kế hoạch phục thù thì Phúc Khang An đã thấy Tôn Sĩ Nghị lếch thếch chạy về, gần 30 vạn binh bị tan tành manh giáp nên chính Phúc Khang An, “đệ nhất dũng sĩ Mãn Châu” văn võ toàn tài, lại là người chột dạ trước nhất và trở thành... chủ hòa.

Thắng xong giặc Mãn Thanh, Quang Trung Hoàng Ðế lại lui về Phú Xuân giữ căn cứ địa, từ Thăng, Ðiện trở ra Bắc. Từ Quảng Ngãi trở vào Nam là đất của Thái Ðức Nguyễn Nhạc, nhưng Nhạc hết ý chí phấn đấu nên chỉ giữ được Quy Nhơn, Quảng Ngãi và Phú Yên thôi, mặc cho Nguyễn Ánh trở về Gia Ðịnh phát triển lại lực lượng ở trong Nam.

Trước khi về Phú Xuân, Quang Trung dặn bảo các tướng văn võ: “Việc binh giao cho Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân, việc từ lệnh với nhà Thanh thì ủy cho Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích. Phàm việc, ta cho tùy tiện mà quyết định, ta về Nam rồi, những việc không quan trọng khẩn yếu thì khỏi cần bẩm báo”.

Ngô Văn Sở là Tổng thống Quân quốc cơ vụ, và Ngô Thì Nhậm lo mọi việc bình định chính sự và soạn thảo các văn thư giao thiệp với Mãn Thanh. Vì vậy, các văn thư trao đổi với vua quan nhà Thanh đều do Ngô Thì Nhậm viết, trừ tài liệu của phái bộ ngoại giao viết trên đất Thanh sau này là do Phan Huy Ích soạn.

Theo kế hoạch được Quang Trung vạch ra từ trước khi động binh, Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích tiến hành đường lối ngoại giao ôn hòa để Càn Long nguôi hận nhưng cũng không kém phần quyết liệt để làm nhụt chí phục thù của triều đình Mãn Thanh.

Việc bang giao giữa hai nước sau này đều do Ngô Thì Nhậm bên ta và Phúc Khang An bên Mãn Thanh quyết định cả. Trong triều Mãn Thanh, có Hòa Khôn (có sách viết là Hòa Thân) là người Mãn, do chân ấm sinh lên làm quan trong Nội các, thuộc doanh Hoàng kỳ (cờ vàng), là người lắm uy quyền và ưa nhũng lạm, nên cả Ngô Thì Nhậm và Phúc Khang An đều khéo léo khai thác (tham nhũng và quà cáp) làm tay trong để vận động cho giải pháp chủ hòa.

Sau khi Quang Trung lui về Phú Xuân, tháng Năm năm Kỷ Dậu, Ngô Thì Nhậm đưa cháu của Quang Trung là Nguyễn Quang Hiển sang đất Thanh mở chiến dịch tấn công ngoại giao với chính Phúc Khang An, nhắm vào mục đích hóa giải mộng báo thù của Càn Long và đề nghị triều Mãn Thanh công nhận Quang Trung Hoàng Ðế là vua nước Nam, chấm dứt việc yểm trợ cho Lê Chiêu Thống.

Trong triều Mãn Thanh, Hòa Khôn tâu với Càn Long:

“Từ xưa đến giờ, Trung Quốc chưa bao giờ đắc chí ở cõi Nam cả. Chính các đời Tống, Nguyên, Minh cũng đều thất bại, gương ấy hãy còn sờ sờ”, vì vậy nhà Thanh cũng đành vuốt giận, nhưng nêu ra hai điều kiện gỡ thể diện là:

1. Nước Nam phải lập đền thờ Ðề đốc Hứa Thế Hanh (triều Mãn gọi là Ðề trấn), và

2. Vua Quang Trung phải thân sang triều cận để được phong vương, vào năm tới, nhân dịp bát tuần khánh thọ của Càn Long (mừng Càn Long 80 tuổi).

Bên ta, Ngô Thì Nhậm lờ đi yêu sách lập đền thờ Hứa Thế Hanh và nhân việc Càn Long muốn mời Vua Quang Trung thân chinh tới Yên Kinh đưa ra lý luận là “Quốc Trưởng -Quang Trung- chưa được nhận phong mà sang năm cùng với Quốc Trưởng các nước khác nhất tề vào chúc mừng Ðại Hoàng Ðế (Càn Long) thì không khỏi bất tiện” để đòi nhà Thanh phong vương trước đã!

Triều Mãn Thanh phải chịu lép, Càn Long ban chỉ dụ phong vương cho Quang Trung, tự tay viết một bài thơ tặng và đặc phái hai quan đại thần mang tờ sắc đến nước Nam tuyên phong.

Nhưng Mãn Thanh cố gỡ thể diện bằng cách thuyết phục là dù nước Nam chỉ là phiên thuộc mà Quang Trung vẫn được phong làm Thân Vương. So với các Thân Vương dù là tông thất hay ngoại phiên cũng chẳng thua kém gì, lại còn trên thứ bậc của những người tông thất hay ngoại phiên giữ tước Quận Vương. Chỉ cần Quang Trung tới Thăng Long nhận sắc và hứa năm sau sẽ sang chúc thọ Càn Long.

Ngô Thì Nhậm ậm ừ nhận lời nhưng đòi sứ nhà Thanh phải vào tận Phú Xuân phong vương!

Từ tháng Sáu đến tháng Chín năm Kỷ Dậu đó, ông viết thay cho Quang Trung Hoàng Ðế một loạt văn thư nêu hết lý do này đến lý do khác để trì hoãn việc Quang Trung phải ra tới Thăng Long tiếp đón sắc thư phong vương của Thanh Càn Long:

Khi thì gặp lụt lội khó khăn cho việc di chuyển, lúc thì phải trông coi việc tu sửa Nghệ An, rồi lại bị cảm hàn, hẹn cuối tháng Chín (âm lịch) sẽ ra Thăng Long, rồi viện cớ là tới Nghệ An rồi vua ta lại phải quay về Phú Xuân coi việc ứng phó với một đám chiến thuyền lạ mặt trưng cờ nhà Thanh đe dọa vùng duyên hải từ Nghệ An đến Thuận Hóa.

Hãy đọc lại đoạn văn này: “Ngoài bể Ðông nước tôi có chừng hơn 100 chiến thuyền đến thẳng núi Biện Sơn, ở ngoài mặt bể tỉnh Nghệ An tiến dần vào cửa bể Nhật Lệ, Tư Dung, thuộc tỉnh Thuận Hóa, quân kỳ và khí giới đều là hình dáng ở nội địa -tức là đất Trung Hoa, theo cách nói của ta- cướp bóc dân cư ở dọc bờ biển khổ không kể xiết... Nếu tôi -chỉ Quang Trung- sai gia tướng ra đánh nã, lỡ lại là quan quân Thiên triều thời tôi... phạm lỗi với Thiên triều.”

Văn thư không nói gì đến việc Quang Trung ra Thăng Long nữa, mà đề nghị cho Quang Thùy ra đại diện, và hỏi Phúc Khang An muốn ta xử trí thế nào về đám chiến thuyền ngụy trang hải tặc ấy! Cực anh hùng, khác hẳn Hà Nội đời nay khi ngư phủ của ta bị “hải tặc” Trung Quốc sát hại mà lãnh đạo đảng cứ ngậm hột thị như bị đau răng. Chả dám nói một câu.

Sau đó, hai bên đều giằng dai về việc chuẩn bị lễ tiếp đón hai sứ giả đem sắc phong và bài thơ tặng của Càn Long.

Bên nhà Thanh, Phúc Khang An muốn ta chuẩn bị đường sá người ngựa thật chu tất. Bên ta, Ngô Thì Nhậm khi thì thay mặt Quang Trung Hoàng Ðế khi thì thay mặt Quang Thùy viện cớ đất Thăng Long tiêu hết vượng khí hay Quang Trung bị cảm chưa khỏi để không ra nhận sắc. Còn đòi sứ giả vào tận Phú Xuân làm lễ tuyên phong.

Trong khi ấy, hai sứ giả của Càn Long đã đến Quảng Ðông và tới Thăng Long vào trung tuần tháng Chín. Ðợi đến cuối tháng vẫn không thấy Quang Trung ra, nấn ná mãi đành trao sắc phong cho Quang Thùy là đại diện tại Thăng Long và trở về vào mùng 10 tháng 10, hẹn mùa Xuân năm sau sẽ được đón vua Quang Trung sang dự lễ chúc thọ Càn Long.

Bên ta, Phan Huy Ích, tước Tình Phái hầu, chức Tả Thị Lang bộ Lại, làm Khâm sai điều động việc tổ chức lễ nhận sắc phong, tiếp đãi sứ giả của Càn Long rất chu đáo.

Kết quả là nhà Thanh đã phải chịu phong vương cho Quang Trung, trong khi Hoàng Ðế nước Nam vẫn ở kinh đô Phú Xuân và Phúc Khang An đành chèo kéo việc mời vua ta sang thăm Càn Long.

Ðây là lúc Ngô Thì Nhậm thi hành kế Du Long Chuyển Phượng bằng cách tìm một người diện mạo giống Quang Trung làm “giả vương”, thay Quang Trung đi cùng Quang Thùy qua chúc thọ Càn Long tại cung Nhiệt Hà, là cung nghỉ mát mùa Hè ở gần Yên Kinh (Bắc Kinh thời nay).

Về nhân vật giả vương này, có hai thuyết nói về hai người. Theo Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện, giả vương là Phạm Công Trị, cháu bên ngoại gọi vua Quang Trung là Cậu. Theo An Nam Nhất Thống Chí giả vương tên Nguyễn Quang Thực, người làng Mạc Ðiền, huyện Nam Ðường tỉnh Nghệ An, có dung mạo đoan chính nên được Ngô Thì Nhậm chọn đi thay.

Chúng ta có thể căn cứ trên một số văn từ giao thiệp ghi lại trong Ðại Việt Quốc Thư cho là thuyết thứ hai đúng hơn vì có tờ bẩm của Phúc Khang An trình lên Càn Long là trong chuyến thăm viếng, Quang Thùy bị bệnh phải trở về nước Nam và một trong hai vị quan tháp tùng đưa về có tên là Phạm Công Trị, gọi Vua Quang Trung bằng Cậu. Có thể là trong phái đoàn nước ta có nhân vật Phạm Công Trị, nhưng ông không đi tới Nhiệt Hà và không thể là giả vương thay cho Quang Trung được.

Ngày 29 tháng Ba năm Canh Tuất (1790) phái đoàn của ta rời Nghệ An, đến ngày 13 tháng Tư (âm lịch) tới Lạng Sơn và ngày Rằm thì đặt chân lên đất Trung Hoa. Phái đoàn rất đông, đến khoảng 150 người. Ði theo Quang Trung giả và Quang Thùy, có Ngô Văn Sở, Ðặng Văn Chân về hàng võ, có Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn về hàng văn, cùng nhiều quan chức khác. Phái đoàn đem theo cả một đoàn nhạc và vũ công chuẩn bị 10 bài từ khúc để hát múa chúc thọ Càn Long theo điệu Nam -như chính Quang Trung căn dặn, để khẳng định giá trị văn hóa nghệ thuật của nước Nam- lời ca là các bài thơ thì do chính Phan Huy Ích sáng tác. Những tài liệu quý báu đó về thi, ca, vũ và nhạc của nước Nam vào cuối thế kỷ 18 ngày nay ta đều mất hết, nên mới hát hỏng lăng nhăng theo kiểu Tàu!

Ngoài ra, bên ta còn biếu thêm Thanh triều hai thớt voi, khiến các quan nhà Thanh phải sửa sang đường sá cầu cống phục dịch cực nhọc làm phái đoàn không thể đi nhanh được. Khởi hành tháng Tư mãi đến tháng Tám mới tới. Nhờ đó, dọc đường bao nhiêu việc quân cơ về địa thế và tổ chức sinh hoạt Trung Hoa đều được bên ta ghi nhận, nhằm chuẩn bị cho việc động binh sau này. Mà cũng vì đó mà nhà Mãn Thanh phải điều động các quan khắp nơi tổ chức tiếp đón chiêu đãi thật linh đình tốn kém!

Trong khi di chuyển, có lẽ Phan Huy Ích là người giúp Giả vương soạn thảo văn thư thác danh Quang Trung liên lạc với triều Thanh hay gửi về cho thế tử Quang Toản căn dặn việc nước. Các văn từ gửi về này đều không niêm: Theo đúng lệ được nhà Thanh đọc trước và hết sức khâm phục tài trị nước của “Quang Trung”. Chính Càn Long có xem cặn kẽ và khen là Quang Trung phân xử việc nước thật rạch ròi có thứ tự đầu mối. Sau còn lệnh cho Phúc Khang An bãi bỏ lệ “kiểm duyệt thư” và có tâu gì về Yên Kinh thì cũng đưa Quang Trung xem trước để làm đẹp lòng vua ta.

Cũng do sự kính nể này nên phái đoàn vừa đi, Càn Long đã hiểu lầm, tưởng Quang Thùy là con trưởng, gửi sắc phong Thế tử và tặng hà bào hương khí (đồ thơm gói lại như hương sen) cùng lụa là các thứ. Khi Quang Trung (giả) cho biết Quang Thùy bị đau phải trở về mà cũng chỉ là vai em, Quang Toản mới là thế tử và còn ở lại Phú Xuân, Càn Long lại một phen tặng ngọc như ý cho Quang Thùy chóng khỏi bệnh và quà cáp thật chu đáo kèm theo sắc phong cho Quang Toản là “An Nam Quốc Vương Thế Tử”.

Tới hành cung Nhiệt Hà, giả vương gặp Càn Long trong lễ nghi huy hoàng lộng lẫy, cùng Càn Long về Yên Kinh, đi Tây Uyển, yến tiệc thật long trọng linh đình. Càn Long rất hài lòng hứng chí, biếu quà cáp và làm thơ tặng chữ, Phan Huy Ích thay mặt làm thơ họa vần đáp lễ và Càn Long còn sai họa công vẽ một bức chân dung của Quang Trung (giả) làm kỷ niệm. Ðây là bức chân dung lưu trong Bảo tàng viện Bắc Kinh ta còn thấy lưu truyền đến đời nay (trên tờ giấy bạc 200 đồng thời Việt Nam Cộng Hòa). Nếu nhìn kỹ thì thấy y giáp và mũ trận lại giống võ quan nhà Thanh. Họa gia ghi lại chân dung với con mắt Mãn Thanh!

Ðến ngày 20 tháng Tám năm đó phái đoàn mới từ biệt trở về, ngày 29 tháng 11 đến cửa Nam Quan, chấm dứt một vụ ngoại giao “du long chuyển phượng” hy hữu.

Kết cuộc thì nhà Thanh phong vương công nhận Quang Trung Hoàng Ðế, trong khi vua ta không rời khỏi Phú Xuân. Cả Quang Trung lẫn Quang Thùy đều không sang tới Yên Kinh. Quang Thùy nửa đường còn về sớm - Thanh triều có muốn đầu độc hay giữ làm con tin cũng khó! Ngược lại triều đình Mãn Thanh của Càn Long đều hết sức kính phục quý mến Hoàng đế và quần thần nước Nam.

Ðoàn Nguyễn Tuấn là anh rể của Nguyễn Du có tham dự chuyến đi trong phái đoàn của Phan Huy Ích và ghi lại trong tập thơ Tinh Sa Kỷ Hành của Phan Huy Ích là Từ trước tới giờ, người mình đi sứ Tàu chưa có lần nào lạ lùng và vẻ vang như vậy cả...

Chúng ta có thể rất thuộc truyện Thư Kiếm Ân Cừu Lục của Kim Dung về giai thoại Càn Long với Trần Gia Lạc mà không biết truyện du long chuyển phượng này thì... không nên!

Ngô Thì Nhậm là người dàn dựng toàn bộ tấn kịch ngoại giao ly kỳ này nhằm bảo vệ an ninh cho Quang Trung và thể thống cho nước Nam.

Khi nhà Tây Sơn đổ, Gia Long ra Bắc định sang tận Yên Kinh xin thụ phong thì có hỏi ý ông. Ngô Thì Nhậm trả lời: “Chưa khi nào vua nước Nam lại phải sang tới bên đó nhận sắc phong cả!” Câu trả lời cương trực nhằm bảo vệ uy thế quốc gia làm Gia Long bẽ mặt. Ông ngầm ra lệnh cho Ðặng Trần Thường căng nọc đánh đến chết ngay trước Văn Miếu, vào một Mùa Xuân năm Hợi, 1803. Ðặng Trần Thường thi hành chu đáo việc đó vì mang mối nhục khác với Ngô Thì Nhậm khi ra câu đối hợm hĩnh về chuyện công hầu!

Nhưng đấy là chuyện về sau... trong một giai thoại văn chương.

Nhân đây, xin ghi thêm: Tên của Ngô Thì Nhậm được triều Nguyễn sửa lại là Ngô Thời Nhiệm vì kỵ húy các ông Hồng Thì và Hồng Nhậm. Ta nên trả lại cho nhân vật kỳ tài này tên thật của ông.

Một sự kính trọng tối thiểu!

Võ Thành Văn



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus