XEM NGƯỜI VIỆT TRÊN



CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»

« Trở về trang trước

Viên Chiếu Thiền Sư (999-1090)
Wednesday, January 09, 2013 3:57:31 PM





Viên Linh

 

Viên Chiếu thiền sư trụ trì chùa Cát Tường tại thủ đô Thăng Long vào thế kỷ thứ XI, là người đã để lại những câu kệ hàm súc, những pháp thoại văn chương cao khiết, ý lời quán thế còn được lưu truyền suốt một ngàn năm qua.

Mộ tháp các nhà sư ở Hà Nội. (Hình: Hocquard, 1885)

Ông nổi tiếng có tài biện luận, kinh sách từng được Vua Triết Tôn nhà Tống cho sao chép lại để lưu giữ trong thư các của triều đình Trung Hoa, sau khi các pháp sư Trung Hoa trình với vua của họ rằng văn sách của nhà sư Ðại Việt không thể sửa được một chữ nào. Học giả Ngô Tất Tố đã dịch ra một số câu, chỉ nghe qua đã thấy gió trăng ào ạt lộng thổi soi chiếu chan hòa xuống cõi nhân sinh:

 

Theo gió tiếng còi luồn bụi trúc

Kèm trăng bóng núi quá đầu tường

(Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo

Sơn nham đái nguyệt quá tường lai)

 

Hoa núi mưa sa Thần nữ khóc

Tre sân gió thổi Bá Nha đàn

(Vũ trích nham hoa Thần nữ lệ

Phong sao đình trúc Bá Nha cầm) (1)

 

Viên Chiếu thiền sư tên họ là Mai Trực, người Thanh Trì (xưa kia là đất Long Ðàm, Giao Châu), con của người anh bà Linh Cảm thái hậu nhà Lý (mẹ vua Lý Thánh Tôn). Tục truyền thuở nhỏ một vị trưởng lão xem tướng cho, nói rằng nếu đi tu thì có thể là người trong hàng thiện Bồ Tát, ông liền xin phép mẹ vào tu ở chùa núi Ba Tiêu, thường trì Kinh Viên Giác. Theo một học giả (2), một tối trong khi thiền định, ông thấy cảnh Bồ Tát Văn Thù tự cầm dao mổ bụng, rửa ruột gan rồi dùng thuốc rịt lại, từ đấy những gì ông đã học được trở nên rõ ràng như từng biết qua, “sâu rõ ngôn ngữ tam muội”. (Tức là ba phép tu thiền định trong kinh Viên Giác, để đoạt được sự giác ngộ hoàn toàn - samatha, tam ma bạt đề [samapatti] và thiền na [dhyana]. Ba chữ Phạn này tóm gọn là Tịch tĩnh, Chú vào một chỗ, Chiêm nghiệm.) Theo các sách về lịch sử Phật Giáo Việt Nam thì Viên Chiếu là vị thiền sư thứ 9 có công đức cao dầy, sau các vị thiền sư Vô Ngôn Thông, Cảm Thành, Thiện Hội, Vân Phong, Khuông Việt, Ða Bảo, trưởng lão Ðịnh Hương và thiền sư Thiền Lão. Tác phẩm của Viên Chiếu thiền sư để lại gồm ít nhất là các cuốn sau đây:

-Dược sư thập nhị nguyện văn (cuốn này được Vua Triết Tôn nhà Tống sai chép lại để trong cung điện triều đình Trung Hoa).

-Tán Viên giác kinh.

-Thập nhị bồ tát tu chứng đạo tràng.

-Tham đồ hiển quyết.

-Viên Chiếu thi tập.

Trong các cuốn trên, “Tham đồ hiển quyết” may mắn thay, còn tồn tại 10 thế kỷ qua cho đến ngày nay. Lê Tắc (thế kỷ XIV), học giả Việt Nam chạy qua Tàu và ở lại làm quan nhà Nguyên bên Tàu, viết trong cuốn An Nam Chí Lược [lịch sử Việt Nam từ đời Trần trở về trước], như sau: “Thiền sư Mai Viên Chiếu thường soạn ‘Tham đồ hiển quyết’ đại lược nói: Một hôm khi đang ngồi trước nhà, bỗng có một vị tăng hỏi: Phật cùng với Thánh, nghĩa ấy thế nào? Ðáp: Dưới dậu thu cúc rậm. Ðầu cành chim yến ca. [Cúc trùng dương dưới dậu, Oanh thục khí đầu cành]. Sách ấy phần lớn gồm những thứ như thế đó. Cứ vào dẫn chứng này của Lê Tắc, ta có thể nói rằng tất cả cơ duyên thoại ngữ dẫn trong truyện này đã hoàn toàn rút ra từ ‘Tham đồ hiển quyết’, ... nó là một tác phẩm đời Lý được giữ lại cho tới ngày nay, một tác phẩm xưa nhất của lịch sử văn học, tư tưởng và triệt học Phật Giáo nước ta.” (2)

Vẫn theo sách này, sau đây là một số vấn đáp giữa người hỏi (một vị tăng) và những câu đáp của thiền sư Viên Chiếu.

Hỏi: Tất cả chúng sinh từ đâu mà đến? Trăm năm sau sẽ đi về đâu?

Ðáp:

Rùa đui chui vách đá

Trạch què bò núi cao.

Hỏi: Thế nào là căn nguyên đại đạo thẳng đường đi?

Ðáp:

Gió lộng bờ cao hay có cứng

Nhà tan nước mất biết trung lương.

Hỏi:

Xanh xanh nước biếc thảy chân như. Thế nào là dụng của chân như?

Ðáp:

Tặng anh ngàn dậm xa

Cười mang trà một bình.

Hỏi: Dã hiên một cửa vắng. Thong thả gõ ai hay. Nghĩa là gì?

Ðáp:

Kim cốc đìu hiu hoa cỏ rối

Mà nay hôm sớm thả trâu dê.

Giàu sang cùng kiêu thái

Lầu chợ khiến tan hoang.

...

Năm Canh Ngọ 1090, thiền sư cho gọi tăng chúng đến dạy rằng: “Trong thân ta đây, thịt xương gân cốt, tứ đại giả hợp, đều là vô thường, ví như ngôi nhà kia khi sụp đổ, cột kèo đều đổ. Cùng các con giã từ, hãy nghe bài kệ của ta đây:

 

Thân như tường vách đổ xiêu rồi

Thiên hạ bồn chồn xót dạ thôi.

Nêu rõ tâm không, không tướng sắc

Sắc không ẩn hiện mặc xoay đời.

 

Sau khi đọc xong bài kệ, thiền sư Viên Chiếu vẫn ngồi ngay thẳng mà viên tịch, thọ 92 tuổi (đi tu 56 năm).

VL. Little Saigon, 9 tháng 1, 2013.

 

Chú thích:

1. Ngô Tất Tố, Văn Học Ðời Lý, Khai Trí, Saigon, 1960.

2. Lê Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Thiền Uyển tập Anh, TP. HCM, 1999.



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus