XEM NGƯỜI VIỆT TRÊN



CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»

« Trở về trang trước

Mùa Xuân cho những người lính cũ
Tuesday, January 15, 2013 3:44:28 PM





Góc Chiến Trường Xưa:

 

‘Anh không chết đâu anh’ trong lòng

một Việt Nam tự do, dân chủ

 

*Ðể tri ân các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa về những hy sinh cao cả và không bờ bến của họ trong sứ mạng bảo vệ mầm sống cho một Việt Nam không cộng sản.

 

* Vann Phan

 

Khác với những nhà viết sử, những người phê bình lịch sử, khi đề cập tới giai đoạn hiện đại trong lịch sử Việt Nam, có thể sẽ phải đồng ý rằng ngày 30 Tháng Tư 1975 đã đánh dấu cái chết của Miền Nam tự do nhưng đồng thời ngày đó cũng đã khởi đầu cho tiến trình phục sinh đất nước Việt Nam.

Nói cách khác, trong cái chết của Miền Nam tự do đã có sự khởi đầu của mầm sống tương lai cho một đất nước Việt Nam thống nhất và không cộng sản.

Hay, quan trọng hơn, biến cố ngày 30 Tháng Tư năm 1975 phải được coi là một kinh nghiệm mang tính “mở mắt” cho toàn thể dân tộc Việt Nam từ Nam chí Bắc. Thật vậy, trong khi sự kiện Cộng Sản Bắc Việt độc tài, đảng trị đánh chiếm được Miền Nam Việt Nam tự do đã khiến cho dân chúng Miền Nam Việt Nam - từ người dân lao động khờ khạo cho tới giới trí thức mơ mộng hão huyền - phải “sáng mắt ra” trước một chế độ Cộng Sản phi nhân bản và xa rời thực tế thì sự kiện này cũng làm cho người Cộng Sản Việt Nam - từ giới lãnh đạo chóp bu cáo già ở Trung Ương Ðảng cho tới người dân quê ngu dốt - phải tỉnh ngộ khi nhận chân được rằng dân chúng Miền Nam Việt Nam, dù dưới chế độ tự do, dân chủ còn non trẻ của họ, thật sự đã được sống tự do hơn, no ấm hơn và hạnh phúc hơn rất nhiều so với những kẻ từng vượt đường Trường Sơn từ Miền Bắc xa xôi tới “giải phóng” cho họ, trái ngược hẳn với các tín điều căn bản mà những người cộng sản đã tôn sùng từ bao thập niên qua.

Bài viết sau đây có mục đích làm sáng tỏ nhận định rằng, trong khi biến cố ngày 30 Tháng Tư năm 1975 có tầm vóc lịch sử lớn lao, thì biến cố này cũng còn ảnh hưởng sâu đậm tới vận mệnh của dân tộc, bởi vì nó vừa đánh dấu cái chết của Miền Nam tự do mà cũng vừa đánh dấu khởi điểm của tiến trình phục sinh đất nước Việt Nam. Và trong tiến trình phục sinh đất nước này, người ta không thể không kể đến những hy sinh to lớn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua hơn hai thập niên chiến tranh trong việc bảo vệ chiếc vườn ươm mầm tự do, dân chủ tại Miền Nam để dân tộc có thể lấy đó làm đà tiến lên trên con đường xây dựng một nước Việt Nam thật sự tự do và dân chủ.

Lịch sử coi ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là ngày Miền Nam Việt Nam sụp đổ. Những bộ quân sử viết về ngày này coi đây là ngày tan rã của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Dù là sụp đổ hay là tan rã, những từ ngữ này đều nói tới sự chấm dứt của một cuộc sinh tồn, tức là cái chết của một thực thể đang hiện hữu.

Nhưng, đối với người Việt Nam trên cả hai miền đất nước từng lâm vào một cuộc chiến tranh - vẫn thường được mệnh danh là “cuộc chiến tranh ý thức hệ” - trong suốt ba thập niên kể từ năm 1945, những hệ lụy từ cái chết đó mới là điều quan trọng cho dòng sinh mệnh của dân tộc Việt Nam. Nói cách khác, điều được coi như là chiến thắng của người Cộng Sản Việt Nam lẫn chủ nghĩa Cộng Sản quốc tế không quan trọng mấy so với những hệ lụy từ cái chết của Miền Nam Việt Nam, mà trên thực tế là cái chết của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 định mệnh đó.

Thật vậy, ngày nay, sau ba thập niên hồi tưởng và suy nghiệm về biến cố ngày 30 Tháng Tư năm nào cùng những hậu quả của nó, những người Việt Nam bình thường -không bị mù quáng vì các tư tưởng lệch lạc hay thành kiến bất công - có thể sẽ đi đến nhận định sau cùng rằng “chính những hy sinh lớn lao và cao cả của người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam hơn ba thập niên trước đây đã tạo dựng mầm sống cho dân tộc Việt Nam hôm nay.”

 

Vai trò gìn giữ đất nước và bảo vệ tự do, dân chủ của người lính Cộng Hòa

 

Các thành phần sĩ quan quân đội và cảnh sát của Việt Nam Cộng Hòa, trong thời gian bị bắt đi “học tập cải tạo” sau ngày Miền Nam Việt Nam mất vào tay cộng sản, vẫn thường được các cán bộ chính trị cộng sản bảo cho biết rằng quân đội cùng các lực lượng Cảnh Sát Miền Nam Việt Nam chỉ là đội ngũ những “lính đánh thuê” cho “Ðế Quốc Mỹ” và là những thành phần đã “lầm đường, lạc lối” trong cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua. Thật ra, đó chỉ là lý của kẻ thắng chứ không phải là chân lý.

Ðiều đau xót là, giờ đây, dưới ánh sáng của lịch sử soi rọi, chính các thành phần trong Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam của Cộng Sản Bắc Việt trong cuộc “kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” vừa rồi mới là những kẻ lầm đường, lạc lối, bởi vì họ đã bị Ðảng Cộng Sản Việt Nam lừa phỉnh, lợi dụng và ép buộc vào chỗ phải đổ máu xương và hy sinh gian khổ cho tham vọng đánh chiếm Miền Nam Việt Nam của họ.

Hậu quả sau cùng của đường lối hiếu chiến và thiển cận này là đưa đẩy Việt Nam - không phải là một nửa nước mà là toàn thể đất nước - tới tình trạng suy thoái kinh tế trầm trọng và bế tắc chính trị chưa từng có trước đây, để rồi hiện nay Cộng Sản Việt Nam lại bị buộc phải tìm cách đi vào con đường kinh tế tự do và dân chủ đa nguyên là con đường mà Quốc Gia Việt Nam hồi trước 1954 và Việt Nam Cộng Hòa từ sau Hiệp Ðịnh Genève 1954 đã không ngừng theo đuổi nhưng cứ bị những người Cộng Sản ra sức phá hoại.

Những gì mà cộng sản đang làm hiện nay trên đất nước Việt Nam là bằng cớ không thể chối cãi cho sự sai lầm tai hại của những người cộng sản trước đây trong cuộc chiến. Về mặt kinh tế, họ đang tranh thủ chạy theo chế độ kinh tế thị trường đầy lợi nhuận để có thể được tư bản ngoại quốc đổ vốn vào đầu tư, tất cả đều là từ những nước trong hệ thống kinh tế tư bản mà trước khi chiếm được Miền Nam Việt Nam hồi năm 1975 những người Cộng Sản Việt Nam đã không ngừng chê bai và mạt sát. Từ sau khi đổi mới, Cộng Sản Việt Nam đã lần lượt gia nhập hai tổ chức kinh tế tư bản quan trọng, đó là Hiệp Hội Các Quốc Gia Ðông Nam Á (ASEAN) và Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO), một tổ chức kinh tài quốc tế quan trọng mà Việt Nam chính thức trở nên thành viên thứ 150 vào đầu năm 2007.

Về mặt quân sự, sau khi đã thấm những bài học lịch sử với bậc thầy Trung Quốc qua những vụ như Hoàng Sa, Trường Sa, biên giới phía Bắc, và mới đây là vụ dâng đất, cắt lãnh hải cho Trung Quốc, Cộng Sản Việt Nam đang ra sức tiến tới việc hợp tác quân sự với Hoa Kỳ là kẻ thù cũ trong cuộc chiến tranh vừa qua. (1) Về mặt chính trị, những người Cộng Sản Việt Nam đang bị áp lực hết sức nặng nề của những phần tử bất đồng chính kiến và chống đối tại Việt Nam, gồm toàn những nhân vật tên tuổi trong nước và có uy tín quốc tế, đòi phải cải tổ hệ thống chính trị độc đảng để đổi sang chế độ dân chủ đa nguyên, y hệt như thể chế chính trị của hầu hết các nước tự do, dân chủ trên thế giới ngày nay vậy. (2)

 

Lực lượng Hải Quân giữ yên lãnh hải

 

Dù những nhận định và tình cảm đối với tập thể quân đội của Miền Nam Việt Nam có khác biệt nhau, dân chúng ở cả hai miền Nam, Bắc có thể sẽ phải đồng ý với sự thật này: quân đội Miền Nam Việt Nam là thực thể chiến đấu cho sự sinh tồn của Miền Nam tự do cho dù thực thể này vẫn nằm trong tập thể gọi là “quân, dân, cán, chính” dưới quyền lãnh đạo của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Nói cách khác, quân đội Miền Nam còn thì Miền Nam còn, quân đội Miền Nam mất thì Miền Nam mất. Cộng Sản Bắc Việt hay Mặt Trận (Dân Tộc) Giải Phóng Miền Nam (Việt Nam), trong cuộc chiến tranh đánh chiếm Miền Nam Việt Nam vừa qua, đã không đối đầu với ai khác hơn là quân đội Miền Nam và đã không sợ ai khác hơn là các thành viên thuộc “đảng kaki” của Miền Nam, bởi vì đó chính là tập thể duy nhất có tổ chức và kỷ luật khả dĩ đối đầu được với Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

Vai trò của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - mà trước đó lần lượt được gọi là Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa - trong cuộc chiến đấu chống Cộng tại Việt Nam là vai trò thực sự lớn lao trong một đất nước đang có chiến tranh. Từ thời Quốc Trưởng Bảo Ðại cho đến thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm (của Ðệ Nhất Cộng Hòa) và rồi thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (của Ðệ Nhị Cộng Hòa), dù mang danh xưng khác nhau, nhưng tập thể quân đội đó vẫn chỉ có chung một sứ mạng là bảo vệ Miền Nam Việt Nam chống lại cuộc xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt, đồng thời giúp xây dựng nền dân chủ cho đất nước, tóm lại là để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, từ 1954 đến 1963, những người chiến sĩ của Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa đã là thành phần tiên phong trong sứ mạng đánh dẹp nội loạn và chống cộng sản xâm lấn. Dù muốn, dù không, Tổng Thống Diệm và bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu vẫn trông cậy vào những người lính Cộng Hòa trong sứ mạng bảo quốc, an dân, nghĩa là chiến đấu chống các lực lượng cộng sản, dù từ ngoài Bắc xâm nhập vào (tức quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt) hay là du kích tại miền Nam (tức quân Mặt Trận Giải Phóng), đang tìm mọi cách lật đổ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa để áp đặt quyền thống trị của Cộng Sản Việt Nam lên đầu dân chúng Miền Nam Việt Nam.

Ðến thời Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (và sau đó là các tổng thống ngắn ngày Trần Văn Hương và Dương Văn Minh), từ 1966 đến 1975, những người lính Cộng Hòa lại càng đảm đương thêm nhiều trọng trách hơn trong cuôc chiến đấu chống cộng sản mà vào thời điểm này đã không hề che giấu ý đồ thôn tính Miền Nam qua một cuộc xâm lấn mà họ vẫn ưa gọi là “cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước” để “giải phóng” Miền Nam Việt Nam khỏi “ách kềm kẹp của Mỹ-Ngụy” nhằm dánh lừa dân chúng ở cả hai miền Nam, Bắc và cộng đồng quốc tế.

Phần này không có mục đích đề cao vai trò của quân đội Miền Nam, tức Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, qua các trận đánh lớn hay các chiến tích lịch sử đã tạo nên những thiên anh hùng ca bi tráng trong quân sử của quân đội đó qua cuộc chiến tranh Việt Nam vừa rồi. Phần này cũng không có dụng ý bào chữa cho cuộc thất trận bất ngờ của quân đội Miền Nam trước các lực lượng Cộng Sản từ Miền Bắc tràn xuống để thực hiện cuộc hành quân sau cùng của họ trong chiến dịch được gọi là “Chiến Dịch Hồ Chí Minh lịch sử” vào những ngày đầu của năm 1975. Các đề tài đó nằm trong nhiệm vụ của những nhà phê bình, những kẻ viết hồi ký chiến tranh, những học giả và những sử gia.

Phần này chỉ có mục đích nói lên sứ mạng bảo vệ chiếc vườn ươm mầm dân chủ và tự do của quân đội đó trong suốt hơn hai thập niên chiến tranh khốc liệt tại Miền Nam Việt Nam, để rồi khi những người lính Cộng Hòa kia phải buông súng thì đó cũng chính là lúc cái mầm dân chủ và tự do tại Miền Nam Việt Nam - mà họ từng xả thân bảo vệ - đã đủ sức mạnh mà đâm chồi, nảy lộc, mọc cành, ra lá để gây muôn vàn khó khăn và, sau cùng, có thể dẫn tới việc giải thể chế độ độc tài, đảng trị của Cộng Sản Việt Nam trên cả hai miền Nam và Bắc, trước kia từng là hai thực thể chính trị và kinh tế hết sức khác biệt nhau mà các lãnh tụ Cộng Sản tại Hà Nội đã ra sức thống nhất làm một sau chiến thắng năm 1975 và gọi hai thực thể này dưới một cái tên chung là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. (3)

 

Cộng Sản Việt Nam đổi thịt, thay da

 

Trong mấy năm gần đây, nếu những người Việt hải ngoại nào có dịp về thăm viếng quê hương Việt Nam thì, không nhiều thì ít, sẽ phải lấy làm ngạc nhiên trước những đổi thay đáng kể của cảnh vật và sinh hoạt dân chúng so với mấy năm đầu sau khi Miền Nam Việt Nam sụp đổ. Nhà cửa, phố xá, đường lộ và cầu cống tại các thành thị đều được tân trang hoặc xây cất thêm. Những vùng quê cũng thay hình, đổi dạng nhờ các công trình xây dựng mới, kể cả việc điện khí hóa nông thôn. Ðời sống kinh tế của dân chúng cũng rõ ràng là được cải thiện hơn nhiều với sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ kinh doanh, buôn bán tư nhân và với việc bành trướng các công ty, xí nghiệp cũng như các ngành công, kỹ nghệ đa dạng do người Việt Nam làm chủ hay do tư bản ngoại quốc từ các nơi, kể cả Mỹ là kẻ thù cũ, kéo đến đổ vốn đầu tư vào làm ăn tại Việt Nam. Ðiều nổi bật hơn cả là sự phát triển cùng cực của ngành du lịch với hằng trăm, hằng nghìn khách sạn và nhà hàng mới được xây dựng tại các thành thị tấp nập hay dọc theo các bãi biển đông người. Những ngoại kiều mang quốc tịch Liên Xô, Hung-Ga-Ri, Tiệp Khắc... đều biến đi đâu mất cả mà thay vào đó là những du khách đến từ Mỹ, Anh, Pháp, Ý, Nhật, Nam Hàn, Trung Quốc, Ðài Loan, Hồng Kông, Singapore, Mã Lai Á, Úc Ðại Lợi... (4)

Ðó là về mặt hình thức và vật chất. Về mặt tinh thần, những cán bộ cộng sản từ các cấp chính quyền, các nhân viên công lực từ công an phường tới cảnh sát giao thông đều bớt đi vẻ dữ dằn như từng thấy trước đây, và thậm chí nay còn có vẻ thân thiện hơn với du khách và dân chúng địa phương nữa. Sự theo dõi, kềm kẹp dân chúng như từng được thấy trong những ngày đầu Miền Nam mới được “giải phóng” thì nay hoặc không được nhìn thấy công khai nữa hoặc đang phai nhạt dần. Ðời sống tinh thần của dân chúng tại các thành thị và thôn làng xem ra có vẻ thoải mái hơn hai, ba thập niên về trước rất nhiều.

Mặc dù các tổ chức nhân quyền trên thế giới, trong đó có Human Rights Watch (Canh Giữ Nhân Quyền) và Amnesty International (Ân Xá Quốc Tế), vẫn còn nhiều điều phải ta thán về chính quyền Cộng Sản Việt Nam trong các vấn đề đàn áp tôn giáo (như bách hại và bỏ tù các tăng, ni, các Phật tử, các linh mục Công Giáo, các tín đồ Tin Lành, Cao Ðài, Hòa Hảo, hay các giáo dân người Thượng trên Cao Nguyên Trung Phần...), mức độ bách hại và đàn áp cũng không đến nỗi quyết liệt và tàn bạo như từng xảy ra đối với giáo dân xứ đạo Bùi Phát ở Phú Nhuận, Gia Ðịnh, hay các con chiên ở Nhà Thờ Vinh Sơn thuộc Quận 10, Sài Gòn, trong mấy năm đầu khi cộng sản mới chiếm được Miền Nam Việt Nam. Và mặc dù các nhân vật chống đối và những người bất đồng chính kiến, trên diễn đàn hay trên mạng lưới điện toán, vẫn còn bị bắt bớ hay giam giữ dài dài, mức độ tù đày và hành hạ các đối tượng này xem ra vẫn không thể nào đem so sánh với chuyện cả trăm nghìn người thuộc đủ mọi thành phần trong xã hội Miền Nam Việt Nam - từ quân nhân, viên chức chế độ cũ cho tới các nhà tu hay thành viên các đảng phái chính trị - cùng một lúc bị bắt đưa vào giam giữ trong các trại tù khổ sai mệnh danh là “trại cải tạo” trên khắp nước qua hằng chục năm trời mà không hề được tòa án xét xử.

 

Cộng Sản Việt Nam có gì khác với các nước cộng sản còn lại kia không?

 

Những người Quốc Gia lưu vong và những người Việt hải ngoại từng may mắn được hưởng những quyền tự do dân chủ và hấp thụ những kiến thức về văn hóa và khoa học từ báo chí truyền thông hay ngay tại các học đường Âu Mỹ hãy công bằng mà nhận định rằng, so với ba chế độ cộng sản khác còn lại của thế giới, là các chế độ tại Trung Quốc, Bắc Hàn và Cuba -hai đàn em nhỏ bé của Cộng Sản Việt Nam là Lào và Căm Bốt không đáng kể - thì chế độ Cộng Sản tại Việt Nam tương đối “cởi mở” nhất.

Trong thời đại hiện nay, phải nói rằng Cộng Sản Bắc Hàn là một xã hội hết sức nghiệt ngã, bởi vì quốc gia đó, dưới cả hai triều đại của cha con chủ tịch họ Kim, là một xã hội khép kín đầy những bí mật mà thế giới bên ngoài không hiểu hết được. Ðây là một đất nước mà chính quyền sẵn sàng để cho dân chúng chết đói đặng tập trung tài nguyên cho nhà nước sản xuất vũ khí - kể cả phi đạn và vũ khí nguyên tử-nhằm dọa nạt dân chúng trong nước và để thỏa mãn tham vọng diệu võ, dương oai với các nước khác, đặc biệt là Nam Hàn và Nhật Bản là hai quốc gia láng giềng gần gũi nhất.

Bắc Hàn lại là một nước mà chế độ cha truyền, con nối trở nên cực kỳ lộ liễu, với việc Chủ Tịch Kim Nhật Thành chết đi để lại “ngôi báu” cho con là Kim Chánh Nhất. (Trong khi đó, Ông Hồ Chí Minh của Việt Nam muốn làm được như vậy thì cũng phải cất công chờ đợi tới ba thập niên sau khi mình qua đời, và người con lại phải mang họ khác, tức là họ Nông.) Với một đất nước như vậy, thật chẳng lạ lùng gì khi hằng chục nghìn dân chúng Bắc Hàn hiện nay đang liều mạng sống, dùng đường bộ trốn sang Trung Quốc hay tìm thuyền vượt biển tới Nam Hàn.

Hơn một thập niên sau khi nước đàn anh khổng lồ Liên Xô - chiếc nôi của cuộc cách mạng vô sản thế giới, thành trì của chủ nghĩa Cộng Sản - bị xóa tên trên bản đồ thế giới và chủ nghĩa Cộng Sản bị chôn vùi dưới những tảng băng miền Tây Bá Lợi Á, Cộng Sản Cuba, một mình một cõi tại Tây Bán Cầu, vẫn còn là một quốc gia độc tài về chính trị và lạc hậu về kinh tế chỉ vì cái tự ái đặt không đúng chỗ của Chủ Tịch Fidel Castro, cha đẻ của Cộng Sản Cuba. Ngày nay, trong khi những kẻ bất đồng chính kiến tại đảo quốc Cộng Sản này liên tục bị bách hại và tù đày thì dân chúng Cuba ngày càng nghèo nàn, lạc hậu đến nỗi ngay cả phố phường, nhà cửa tại nhiều nơi trong thủ đô Havana nom cũng loang lổ và tiều tụy, có lẽ vì không được sơn phết hay sửa sang gì kể từ khi cuộc cách mạng vô sản thành công vào năm 1959. Hồi mùa Hè năm 2006, khi Fidel Castro lâm trọng bệnh và không thể cai trị được nữa, nhà độc tài lại trao cho em ruột là Raul Castro - quân hàm đại tướng, đang là bộ trưởng Quốc Phòng - làm Quyền Chủ Tịch Cuba, cũng là một một hình thức “cha truyền con nối” khác mà chỉ ở các nước Cộng Sản độc tài, độc đảng mới có.

Thông Tấn Xã Reuters mới đây đưa tin rằng nhà nước Cuba, vì thiếu tiền, đã giành lấy phần lớn số lợi nhuận có được qua dịch vụ du lịch trong nước khiến cho kỹ nghệ du lịch tại Cuba hiện nay không ngóc đầu lên nổi bởi vì các công ty du lịch tại đây đã phải đua nhau tăng giá để “bù lỗ” cho những khoản phải cống nạp cho nhà nứơc. Nửa thế kỷ sau khi được “giải phóng” khỏi tay nhà độc tài Batista, mỗi năm vẫn còn hằng nghìn dân chúng Cuba tiếp tục tìm mọi cách bỏ nước ra đi - hầu hết là vượt biển tới Hoa Kỳ - để mong trốn chạy khỏi một chế độ độc tài khác: chế độ Cộng Sản Cuba của hai anh em nhà họ Castro: anh làm chủ tịch nước, em làm bộ trưởng quốc phòng kiêm tư lệnh quân đội.

Trung Quốc, với chủ nghĩa Cộng Sản “cải lương” dưới quyền đạo diễn của các kép chánh từ Mao Trạch Ðông đến Ðặng Tiểu Bình, phải nói là quốc gia đạt được nhiều tiến bộ về kinh tế và kỹ thuật nhất trong số các quốc gia Cộng Sản còn sót lại của thế giới ngày nay. Ðất nước Trung Hoa bây giờ đã trở nên giàu có qua những “bước nhảy vọt” phi thường từng chuyển đổi Hoa lục từ một nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường. Chỉ mới vài ba thập niên “hiện đại hóa” mà thôi, Trung Quốc đã từ một quốc gia đói, nghèo biến thành một cường quốc có hạng của thế giới trên cả hai lãnh vực nguyên tử và không gian. Những tiến bộ về kinh tế và kỹ thuật này của Trung Quốc có thể được giải thích là do ở đầu óc thương mại truyền thống của dân “Ba Tàu” cộng với những mầm mống tự do kinh doanh sẵn có bên trong nước này như Ma Cao, Hồng Kông và ngay sát nách của họ là Ðài Loan, hoặc xa hơn nữa là Singapore.

Tuy nhiên, về đời sống chính trị, đất nước của các vị “con Trời” vẫn còn là một trong những quốc gia có chế độ đàn áp con người tệ hại nhất, mà hai nạn nhân danh tiếng của họ từ trước tới nay vẫn là phong trào đòi tự do, dân chủ của sinh viên, học sinh tại Thiên An Môn năm 1989 và các thành viên của môn phái Pháp Luân Công từng bị đàn áp liên tục từ hồi đầu thập niên 1990 cho tới nay. Các nạn nhân kế tiếp của chế độ này là những nhà báo và những kẻ bất đồng chính kiến mà việc bắt bớ, giam cầm họ đang là mộ sự phỉ nhổ lên các giá trị về dân chủ và nhân quyền của thế giới. (5) Theo báo cáo mới nhất của Tổ Chức Ân Xá Quốc Tế, trong năm 2005, một mình Trung Quốc không thôi mà đã xử tử đến 80 phần trăm số can phạm bị kêu án tử hình toàn cầu, dĩ nhiên một số không nhỏ các tử tội này là những thành phần chống đối nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Một điểm tương đồng quan trọng giữa Cộng Sản Trung Quốc và Cộng Sản Việt Nam là cả hai đảng này, vì lý do sinh tồn, đều đã khôn lanh tới mức dám phản bội ngay cả chủ nghĩa Cộng Sản (Mác-xít Lê-nin-nít) do các ông thầy của mình là Các-Mác (Karl-Marx) và Lê-Nin (Lenin) truyền dạy qua hành động mạnh tay dứt bỏ gần hết các giáo điều chính của chủ nghĩa này và chỉ giữ lại một khoản duy nhất là tính độc đảng chuyên chế đặng có thể độc quyền cai trị đất nước trên căn bản lâu dài. (6) Nếu không làm chuyện bội phản như vậy, làm sao mà Cộng Sản Trung Quốc ngày nay lại trở nên một thành viên của Tổ Chức Mậu Dịch Thế Giới (WTO), một cơ chế kinh tài quốc tế sặc mùi tư bản mà Cộng Sản Việt Nam cũng đã lấy làm vô cùng vinh dự khi được gia nhập, dù là đi sau Trung Quốc tới mấy năm.

Một điều lạ lùng đến độ mỉa mai trong trường hợp của Việt Nam là sau 30 năm ra sức “đánh Tây, đuổi Mỹ,” gây ra không biết bao nhiêu là chết chóc và tàn phá cho dân tộc để triệt hạ cho bằng được cái mà họ vẫn thường gọi là “chủ nghĩa tư bản bóc lột” và thực hiện cho bằng được cái gọi là “xã hội chủ nghĩa giàu mạnh,” những người Cộng Sản Việt Nam ngày nay lại quay ra ôm chầm lấy cái chủ nghĩa tư bản đó, cầu thân và xin xỏ quyền lợi với chính những kẻ thù cũ mà mới cách đó chỉ chừng sáu, bảy năm thôi, họ từng tỏ ra khinh miệt, cay cú và căm thù hầu như đến tận xương tủy. (7)

Thế nghĩa là sao? Cái hình ảnh của đất nước Việt Nam ngày nay, từ thành thị đến thôn quê và từ Nam ra tới Bắc, trông thật chẳng khác nào cái hình ảnh của Miền Nam Việt Nam thời trước năm 1975, với cảnh tượng đường sá nhộn nhịp, buôn bán tấp nập, và nhà cửa cũng như cơ sở kinh doanh của tư nhân mọc lên khắp nơi giữa tiếng “nhạc vàng” (từng bị cấm tiệt) du dương, réo rắt và tiếng nhạc nhạc disco quằn quại, xập xình. Những gì mà một xã hội tư bản cỡ Mỹ, Nhật đang có - từ chiếc điện thoại di động cho tới cái thẻ tín dụng - thì dân chúng Việt Nam ngày nay đều có, và những đồng đô-la Mỹ xanh xanh kia, một thời bị những người Cộng Sản mô tả là đồng tiền “tanh tưởi,” đồng tiền “bóc lột,” nay lại đang được sùng bái khắp nơi. Chưa hết, mới đây thôi, khi tỷ phú Mỹ Bill Gates, chủ tịch công ty điện toán Microsoft khổng lồ của thế giới, sang thăm Việt Nam, dù chỉ một ngày, ông đã được từ vị thủ tướng cho tới các sinh viên, học sinh Việt Nam hân hoan đón chào và được hoan nghênh nồng nhiệt từ Hà Nội cho tới Bắc Ninh.

Phải biết rằng, trên đất nước Việt Nam Cộng Sản, chỉ sáu, bảy năm sau khi sách, báo bằng tiếng Anh (và cả tiếng Pháp nữa) đều bị tịch thu và dân chúng hầu như bị cấm học tiếng Anh -thứ ngôn ngữ của bọn “thực dân mới” và bọn đế quốc bóc lột - dân chúng Việt Nam từ Nam chí Bắc, trong đó có đám cán bộ, đảng viên, lại đổ xô nhau đi học tiếng Anh, và các lớp học Anh ngữ tại những Hội Việt-Mỹ lúc nào cũng đông đúc học viên. (8) Rồi trước sức hấp dẫn không thể cưỡng lại được của đồng phật-lăng (franc) - và sau này là đồng euro - thơm tho, Cộng Sản Việt Nam đã hân hoan gia nhập vào khối những quốc gia nói tiếng Pháp (Francophone) do trùm “thực dân cũ” là Pháp cầm đầu, lâu lâu khối này lại chọn Hà Nội để làm nơi tổ chức hội họp, bàn thảo. Thêm vào đó, con cái các cán bộ, đảng viên của Cộng Sản Việt Nam ngày nay lại tấp nập đua nhau đi “tham quan” rồi đi du học tại Mỹ, tại Anh, tại Úc, tại Pháp... vốn là những nơi mà mới cách đó dăm bảy năm người cộng sản vẫn cho là những lò đào tạo các nền “văn hóa đồi trụy” để phục vụ cho những xã hội bị coi là đầy dẫy những cảnh “người bóc lột người” đáng ghê tởm. Như vậy là thế nào? Dĩ nhiên là chỉ còn một vài điều khác biệt là lúc đó - trước khi cộng sản chiếm được Miền Nam - Việt Nam đang có chiến tranh, và bây giờ thì chiến tranh đã chấm dứt rồi nhưng dân chúng Việt Nam thì vẫn chưa được hưởng những quyền tự do, dân chủ như dân chúng tại Miền Nam Việt Nam trước khi Sài Gòn sụp đổ, bởi vì chế độ chính trị tại Việt Nam, cho tới giờ phút này, vẫn còn là một chế độ độc tài, độc đảng.

(Còn tiếp)



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus