XEM NGƯỜI VIỆT TRÊN



CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»

« Trở về trang trước

Lên án và mạt sát là cái thúng, dữ kiện lịch sử là con voi!
Friday, February 01, 2013 1:53:37 PM




Vũ Ánh

 

Trong một quốc gia có tự do báo chí như ở Hoa Kỳ việc trình bày những quan điểm trái ngược nhau không có gì là tội vạ cả mà lại còn được khuyến khích, bởi vì từ những tường thuật hay những quan điểm trái ngược, người ta có thể dễ tìm ra sự thật.

Ðệ tứ quyền này ở Hoa Kỳ rất rộng rãi, nó không phải là văn bản pháp qui mà nó được qui định trong Hiến Pháp Hiệp Chủng Quốc và được tu chính bằng Ðệ Nhất Tu Chính Án.

Từ biến cố 30 tháng 4, 1975, điều may mắn nhất của người Việt di tản là thoát được khỏi Miền Nam vào lúc đất nước nghiêng ngửa, cái may mắn của người vượt biển là đến được ngưỡng cửa của bến bờ tự do, may mắn hơn nhiều so với những đồng cảnh không may mắn đành phải để nắm xương tàn ở biển đen mênh mông hay ở những khu rừng già trên đất Cambodia dưới thời Pol Pot, hoặc những người muốn ra đi mà không có vàng để mua chỗ trên những chiếc thuyền nhỏ, những người thuộc diện HO may mắn hơn những đồng đội của mình còn ở lại Việt Nam và nhất là may mắn hơn cả những người lính của mình phải gởi một phần thân thể tại chiến trường năm xưa nay phải sống lây lất tại một quê hương nơi mà chế độ vẫn còn giữ lòng kỳ thị và hận thù. Và may mắn thứ hai là cộng đồng Việt Nam tị nạn được sống trong vùng đất thực sự tự do trong đó có tự do ngôn luận, chìa khóa để xây dựng cộng đồng đoàn kết, lành mạnh biểu lộ được tín niệm “Tự Thắng Ðể Chỉ Huy” từng được nêu cao tại trường Võ Bị Ðà Lạt khi xưa.

“Tự thắng” dứt khoát không phải là khi thấy người ta đụng chạm đến sự thất bại của mình thì giãy nẩy lên, giận dữ xung thiên và phản ứng bằng cáo buộc, chụp mũ linh tinh.

Nói đến tự thắng, tôi nhớ lại một kỷ niệm thời còn bị lưu đày trong các trại cải tạo. Ở những trại này, bọn cán bộ trại giam thường chơi ác vào những ngày họ kỷ niệm chiến thắng 30 tháng 4. Những ngày ấy chúng tôi được nghỉ lao động, được cho ăn thêm cơm và cộng thêm với một miếng thịt heo nhỏ bằng ngón tay. Buổi tối, họ tập trung tất cả tù cải tạo ra sân trại để đoàn chiếu phim đến “phục vụ.” Họ chiếu những phim gì? Trước hết là bốn “món ăn chơi”: phim thời sự ghi lại hình ảnh của chiến dịch 55 ngày đêm đánh chiếm Miền Nam. Nhưng cuốn phim làm chúng tôi đau đớn nhất là cuốn phim thời sự mô tả “quân giải phóng” tiến vào Saigon, cảnh kéo sập cổng trước Dinh Ðộc Lập, cảnh họ hạ lá cờ VNCH xuống và kéo lá cờ Mặt Trận Giải Phóng lên tiền đình Dinh Ðộc Lập và khi phim quay cảnh tan hàng của những đơn vị quân đội VNCH: giầy xô, áo trận, nón sắt, huy hiệu, phù hiệu, ba lô, súng ống đủ loại, xe nhà binh, đạn dược vất la liệt trên đường, những quân nhân VNCH bị người thắng trận bắt buộc phải cởi hay tự ý cởi bỏ quân phục chỉ còn mặc chiếc quần đùi chạy vào nhà dân xin thường phục để tìm chỗ lánh thân... khiến nhiều anh em tù cải tạo nước mắt lưng tròng. Tôi cúi đầu vì không còn can đảm nhìn những hình ảnh mà đích thân tôi cũng như dân chúng Saigon đã nhìn thấy sáng 30 tháng 4, 1975. Những lần sau, cứ ngày 29 tháng 4 khi nghe có đoàn chiếu phim đến “phục vụ” trại là tôi cùng một vài anh em khác đồng suy nghĩ như tôi khai bệnh nằm trong phòng giam. Khi cán bộ đi kiểm tra, việc đầu tiên là họ cho khênh chúng tôi vào vào “chuồng cọp” nằm cùm để trừng phạt tội không ra xem phim.

Tôi nhớ một lần sau khi từ chuồng cọp được thả về với đội, các bạn tôi xỉ vả: “Mày việc đếch gì phải hành hạ cái thân xác như vậy. Tự thắng đi chứ, không tự thắng mình thì còn làm gì cho nên hồn, hả con. Mấy anh lớn (chỉ những người lãnh đạo VNCH) bây giờ an toàn ở nơi xa rồi, còn lại bọn mình gồm những thằng không bỏ chạy, không bỏ lính, bỏ nhân viên của mình nghĩa là chúng ta đã làm xong bổn phận rồi, mày còn tự hành hạ cái thân làm gì cho khổ.” Ðầu tiên tôi còn cự nự, nhưng sau trộm nghĩ bọn bạn tù của tôi có lý. Những thước phim mà những phóng viên mặt trận của bên thắng trận họ ghi hình đã trở thành dữ kiện họ không thể dựng lên vả lại cảnh đó tôi đã chứng kiến tận mắt sáng 30 tháng 4. Khi chúng trở thành dữ kiện lịch sử rồi không xóa bỏ được nữa thì tại sao lại không cắn răng nhận lấy cái vị cay đắng của sự thất bại? Không nhận lấy thất bại của mình thì ai nhận cho và làm sao học được bài học lịch sử có khi cần thiết cho “keo” khác. Mà muốn bày “keo” khác thì phải tỉnh táo, phải có tri thức, sự lão luyện và phải biết mở mắt ra nhìn xem đâu là thật, đâu là giả, đâu là đúng đâu, là sai trong quá khứ.

Khi bước trở lại ngành truyền thông và báo chí ở Little Saigon năm 1993, trong vài năm đầu, tôi vẫn bị ám ảnh bởi những sự thất bại đó và vẫn giữ thái độ của những con đà điểu vùi đầu vào cát. Thời gian qua, tôi thấy phần lớn những nhà lãnh đạo cộng đồng và những nhà lãnh đạo chống Cộng trong cộng đồng này ở xa mục tiêu quá. Tôi không biết có phải sợ bị bắt, bị tù đày khi về Việt Nam tranh đấu mà nhiều người chỉ thích chống Cộng ở hải ngoại hay không, nhưng tôi tin rằng không thực hiện được chiến lược trường kỳ mai phục thì không quật ngã được đối phương, thậm chí không thể làm đối phương thay đổi. Chưa thấm được nỗi nhục của việc để mất Miền Nam, chưa chấp nhận đói khổ tù đày và chỉ “hy sinh” tranh đấu ở hải ngoại cho an toàn hơn thì chưa thể chống Cộng bằng hành động được nếu không muốn nói chống Cộng mà chỉ đao to búa lớn ngoài miệng tại một đất nước như nước Mỹ thì quả thật khó lòng tạo được ảnh hưởng

Cũng vì chỉ muốn chống kẻ thù của mình từ một nơi an toàn xa lắc không tạo được ảnh hưởng, không tạo được nhãn hiệu nên cuối cùng họ phải tìm mục tiêu sát gần, và tốt nhất là tìm kẻ thù trong số những người đồng cảnh với mình trong cộng đồng này. Tôi nhớ lại một trường hợp điển hình vào giữa thập niên 90 khi tờ Thời Báo ở San Jose đăng tải nội dung cuộc phỏng vấn của phóng viên báo này với tổng lãnh sự Việt Nam lúc đó là Nguyễn Xuân Phong. Khi bài phỏng vấn được đăng tải dưới hình thức “Q & A” tức hỏi và đáp vì tờ Thời Báo cũng ý thức được sự nhạy cảm của cộng đồng, một trái bom dư luận đã bùng nổ. Thay vì cộng đồng ở San Jose lúc đó chú tâm vào nội dung cuộc phỏng vấn để biểu tình phản đối Nguyễn Xuân Phong thì họ lại chỉ chú trọng đến việc phản đối tờ báo đã thực hiện cuộc phỏng vấn đó. Ðối tượng chính là cán bộ ngoại giao Việt Cộng Nguyễn Xuân Phong vẫn an toàn bình chân như vại. Dĩ nhiên ở Mỹ, sự phản đối tờ Thời Báo của một số người chống Cộng là quyền của họ tại một nước tự do, nhưng trớ trêu thay chính cái quyền ấy lại được dùng để áp lực với một cơ quan truyền thông cũng được Ðệ Nhất Tu Chính Án Hiến Pháp bảo vệ. Mục tiêu chính là cách nhìn vấn đề của viên Tổng lãnh sự Việt Nam Cộng sản Nguyễn Xuân Phong chứ không phải là tờ Thời Báo. Tôi không ngạc nhiên về chuyện này, nhưng điều gây sửng sốt cho tôi là tại Bắc và Nam California có cả mấy chục tờ báo Việt ngữ, mà không tờ nào dám hó hé một lời bênh vực, ngoại trừ tờ Viễn Ðông Kinh Tế Thời Báo của Nguyễn Ðức Quang.

Nhưng cái giá mà tờ Viễn Ðông Kinh Tế Thời Báo phải trả là sau đó nó bị một số người chống Cộng chụp cho cái mũ cộng sản trong khi những người làm trong tòa soạn báo này đa số là những người từng trả cái giá ngục tù rất nặng dưới chế độ cộng sản. Dù người ta có cáo buộc ông Vũ Bình Nghi là chủ nhiệm tờ Thời Báo như thế nào đi nữa, thì tờ Thời Báo vẫn chỉ làm nhiệm vụ thông tin, không ai có thể ngồi trên Hiến Pháp để cản ngăn tờ báo không được tiếp xúc với nhân vật này hay nhân vật nọ của phía cộng sản.

Thời điểm vụ Linh Mục Nguyễn Văn Lý và Hòa Thượng Quảng Ðộ đang nổi, người nào mon men đến gần nơi hai nhà tu này là bị “chộp” ngay. Báo chí và truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại lên tiếng hàng ngày để phản đối Hà Nội về những hành động đàn áp đó. Nhưng nếu ngồi bình tĩnh so sánh yếu tố “bị cấm” trong các vụ này, người ta có thể thấy ngay căn nhà Việt ở hải ngoại nói chung và ở Mỹ nói riêng cũng có rác đấy, rác “cấm” do một thiểu số người cực đoan mang vào.

Vụ tờ Thời Báo của ông Vũ Bình Nghi trở thành điển hình của một phong trào tiếp theo nhắm vào các cơ quan báo chí và truyền thông Việt ngữ, nào là không được dùng chữ Việt cộng, không được loan tải tin Việt cộng, không được đăng quảng cáo du lịch Việt Nam, không được dùng hình ảnh Việt Nam để minh họa cho nên mới có cảnh một vài tờ báo Việt ngữ ở quận Cam không những “chôm” nguyên con tin của các báo giấy xuất bản ở Việt Nam mà còn sửa lại những chữ dùng trong bài để tránh “phạm húy,” đại loại như như thành phố Hồ Chí Minh thì sửa lại là thành phố Saigon, hoặc Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hồ Chí Minh thì phải sửa là Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Saigon, Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh thì phải sửa là Bí thư thành ủy Saigon. Họ không hề để ý là việc làm này sẽ có một hậu quả ngược lại khiến người hiểu biết phải phì cười. Họ kháo nhau: “Thế hóa ra, trước 30 tháng 4, 1975 tức là trước ngày Saigon bị đổi tên đã có Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, hay Bí thư thành Ủy Saigon ngồi chễm chệ ở Tòa Ðô Chính rồi hay sao?” Chưa hết, dư luận lại còn kể cho nhau nghe nhiều câu chuyện khôi hài đen, chẳng hạn như nhiều người thắc mắc: những phần tử lúc nào cũng ra miệng khuyến cáo báo chí truyền thông tránh “phạm húy” mà bỗng nhiên có chuyện quan hôn tang tế ở Việt Nam cần có mặt mình thì liệu ông ta, hay bà ta có yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam đừng đóng dấu hộ chiếu của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam vào sổ thông hành của mình được không? Hoặc khi người thân ở Việt Nam của ông bà nào thường thích đặt ra những kỵ húy cho anh em làm báo chúng tôi viết thư yêu cầu họ gởi giấy tờ cần thiết về Việt Nam, ngoài bì thư ông hay bà sau khi đề địa chỉ người nhận, liệu hàng chữ thành phố Hồ Chí Minh có được thay bằng hàng chữ thành phố Saigon không? Ngày xưa Sài-côn bị đổi tên là Saigon, rồi sau thấy nó có vẻ Pháp quá nên mới biến thành Sài-gòn. Nhưng khi tên Saigon xuất hiện, một thời gian sau nó làm chết cái tên cũ luôn. Nhưng ngày nay, cái tên thành phố Hồ Chí Minh chỉ có trên giấy tờ khi đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền, nhưng người dân vẫn tiếp tục dùng cái tên Sài Gòn trong câu chuyện hàng ngày, trong văn chương dân gian. Nhưng dù có dùng tên cũ hay tên mới, thực chất của Việt Nam vẫn thế, người Việt Nam ở cả hai phía trong nước và hải ngoại không thể sửa lại theo ý mình những gì đã diễn ra trên đất nước Việt Nam từ thế kỷ 20 cho đến nay.

Cho nên, gần đây nhất, cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Ðức đã đụng chạm đến nhiều húy kỵ rất vô lý trong cộng đồng Việt Nam ở Mỹ và các nước khác, đồng thời đánh thẳng vào những cấm kỵ riêng của đảng Cộng sản. Húy kỵ của họ là gì, nếu không phải là những nhân vật chóp bu của đảng Cộng Sản Việt Nam không người nào còn thích làm đậm nét những hậu chấn của ngày 30 tháng 4, 1975 từ chính sách cải tạo, đánh tư sản mại bản, cải tổ công thương nghiệp tư doanh, chính sách bao cấp, cuộc chiến ở Cambodia cho đến vấn đề nội bộ đảng Cộng sản. Họ không muốn người ta so sánh thời kỳ ấy với thời kỳ hiện tại để kết luận rằng sự lụn bại, ì ạch hiện nay của Việt Nam là hậu quả của những chính sách hời hợt, kém thông minh và đầy thù hận sau khi người Cộng sản chiếm được Miền Nam. Nhất là, trong “Bên Thắng Cuộc,” Huy Ðức lại còn kê khai hết những gấu ó, ngược ngạo trong hậu trường chính trị của đảng. Ðó là lý do tại sao hiện nay tác giả “Bên Thắng Cuộc” bị nhà cầm quyền Cộng Sản và bị một số người chống Cộng tại hải ngoại đả kích, lên án gay gắt, giận dữ.

Tôi đặt ra vấn đề này không phải để biến nó thành một câu chuyện khôi hài đen khác mà đặt nó vào một khung cảnh nghiêm túc với một câu hỏi lớn: “Liệu những húy kỵ vặt vãnh này có che lấp được sự thất bại của chúng ta không hay có sửa lại được lịch sử đầy những dữ kiện thực còn bám theo chúng ta sang quê hương thứ hai này hay không và nếu chúng ta cứ luẩn quẩn trong những vặt vãnh này thì liệu nó có làm cho những người có năng lực tranh đấu và đang thực sự đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền Việt Nam thối chí hay không?”

Tôi không có tham vọng tìm được câu trả lời chung cho mọi người, nhưng cá nhân một nhà báo tự do ở một đất nước tự do, tôi hy vọng sẽ có những câu trả lời khác nhau, trả lời chứ không phải là lên án và mạt sát. Ngày nay, lên án và mạt sát trong mắt trận tâm lý chiến sẽ chỉ đưa người ta vào ngõ cụt. Chỉ có những ý kiến khác nhau và ôn hòa mới có thể tìm ra câu trả lời chung. Ngoài ra cũng không nên tìm cách phủ nhận lịch sử như người Cộng sản thường chủ trương. Phủ nhận, húy kỵ, bạo lực chính trị chỉ là cái thúng, mà dữ kiện lịch sử là những con voi mamouth. Tôi đan cử ra một điển hình cho thấy chấp nhận thất bại, gạt bỏ thù hận, cùng nhau đoàn kết với tấm lòng mở rộng sẽ mở cho chúng ta một con đường thênh thang để chúng ta làm những viên gạch lót đường cho những thế hệ kế tiếp viết lại những trang sử Việt Nam đã bị hoen ố. Nước Nhật đầu hàng đồng minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật hoàng Hirohito đã phải đọc một diễn văn đầu hàng với một câu kết cho tới nay vẫn còn là một khẩu hiệu âm thầm trong lòng mỗi thế hệ thanh niên Nhật Bản:

“...Một cách nghiêm ngặt nhất, hãy coi chừng mọi bùng nổ cảm xúc có thể làm cho tình thế phức tạp không cần thiết, hay mọi cuộc tranh cãi và xung đột giữa huynh đệ có thể tạo nên sự hiểu lầm, dẫn các bạn lạc lối và làm các bạn mất tin tưởng vào thế giới. Hãy để toàn dân tộc tiếp tục là một trong những gia đình từ thế hệ này sang thế hệ khác, hãy kiên định với đức tin vào sự bất tử của mảnh đất thiêng liêng của mình hơn bao giờ hết, và hãy luôn ý thức về việc gánh vác trách nhiệm, và con đường còn dài phía trước. Hãy đoàn kết toàn bộ sức mạnh của bạn để cống hiến cho việc xây dựng cho tương lai. Hãy vun trồng tính ngay thẳng, tinh thần thanh cao, và làm việc với sự quyết tâm để các bạn có thể nâng cao sự vinh quang lao tù này của Vương Quốc và theo kịp với sự tiến bộ của thế giới ”

Tuy hoàn cảnh có khác nhau về sự đầu hàng, về sự mất còn, nhưng ý nghĩa cuối cùng của một sự thất bại không phải là mất hết, không còn gì. Sự mất mát của người Miền Nam Việt Nam sau ngày đầu hàng to lớn lắm. Ngoại trừ những ai có được may mắn có cơ hội di tản sang Mỹ trước ngày 30 tháng 4, 1975, những người còn ở lại cả quân lẫn dân đành phải sống trong một nhà tù vĩ đại ở Việt Nam. Khi bị đẩy vào chốn lao tù chúng tôi bị chuyển trại nhiều lần, mỗi lần như thế, đoàn xe chở những tù cải tạo chân tay bị xiềng xích đôi khi phải đi qua những nơi có dân chúng. Nhìn thấy những người dân lam lũ quá, nhà cửa hàng chục năm không có phương tiện sửa chữa đã bắt đầu xiêu vẹo, những đứa trẻ không được đi học, tới đâu cũng chỉ thấy khẩu hiệu là khẩu hiệu. Dân nhìn thấy tù cải tạo, họ vẫn còn thương nên ném quà bánh cho chúng tôi. Vừa xúc động nước mắt lưng tròng, vừa ân hận là đã mình không bảo vệ được họ, đã không bảo vệ được mảnh đất mà mọi người Miền Nam Việt Nam đang sinh sống. Ðói khát và bị hành hạ lâu ngày, những thứ quà bánh đó từ củ khoai cho đến những chiếc bánh mì, bánh tét mà dân buôn gánh bán bưng dồn hết cho chúng tôi, có khi vốn liếng gánh hàng là cả một tài sản của gia đình họ, thì những tấm lòng này quả là những bát cơm Xiếu Mẫu. Mất mát của họ to lớn như thế nhưng họ vẫn còn đủ lòng nhân ái và tỉnh táo thì tại sao, giữa những người tị nạn với nhau lại được sống trong cảnh không còn đói khổ như xưa trong một đất nước tự do lồng lộng như thế này mà tấm lòng vẫn hẹp đến nỗi phải hò hét lăng mạ lẫn nhau chỉ vì quan điểm chính trị, quan điểm về mặt trận tư tưởng khác nhau thì quả là một điều thử thách bất thường. Nếu nói tất cả thì mang tội vơ đũa cả nắm và bất công thành thử phải công bằng mà nói rằng thành phần dựa vào lập trường vớ vẩn của mình để bắt nạt những người đồng cảnh mất quê hương chỉ là con số rất nhỏ cuồng nộ và lười suy nghĩ. Chúng ta, những công dân của một đất nước của tự do và trọng pháp như Hoa Kỳ đã từng phải trả cái giá lớn lao của tù đày dưới chế độ Cộng sản thì lẽ nào lại cam tâm để cho nhóm người cuồng nộ và mù quáng cắm bảng chỉ đường chống Cộng cho chúng ta?

Nói cho cùng người Việt miền Nam Việt Nam mất quê hương đã từng chấp nhận những cay đắng, nhục nhã. Ðó là những viên thuốc đắng nhưng giã tật. Nó có tác dụng đánh thức mọi người vất đi những ly nước đường mà những kẻ bịp bợm lừa lọc đưa ra, để tự mình trỗi dậy, để đủ tỉnh táo nhận mặt lẽ phải, sự công chính, bạn, thù. Mất đất không phải là mất tất cả. Ở Hoa Kỳ, người Việt chúng ta còn có đầy đủ những cơ hội để vun trồng tính ngay thẳng, tinh thần thanh cao, và làm việc với sự quyết tâm để chúng ta cùng nhau nâng cao sự vinh quang của tự do, để khẳng định chính chúng ta, những con người của tự do và có khả năng tranh đấu cho tự do cho dân tộc Việt Nam chứ không phải chỉ quanh quẩn chống báng lẫn nhau. (VA)



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus