XEM NGƯỜI VIỆT TRÊN



CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»

« Trở về trang trước

Thống nhất giang sơn đã khó, nhưng còn khó hơn khi thống nhất lòng người*
Friday, February 15, 2013 6:07:50 PM




 

Vũ Ánh

 

Cái tít* trên tôi mượn từ một nhận định của tác giả Huy Ðức khi anh viết để mở đầu cho Phần II khá quan trọng, đó là “Thời Lê Duẩn” trong cuốn “Bên Thắng Cuộc.”

Chương 8 của Phần II, Huy Ðức ghi lại những biến chuyển nội tình đảng Cộng Sản Việt Nam sau ngày 30 tháng 4, 1975, trong đó có việc “giải quyết” sự hiện diện của Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Ðiều dễ hiểu là nếu còn cái bóng của các ông Nguyễn Hữu Thọ và Huỳnh Tấn Phát “đi ra, đi vào” từ Sài Gòn ra Hà Nội và ngược lại thì không làm gì có chuyện “Nước Việt Nam là Một.” Cái đêm nhà cầm quyền Cộng sản tại thành phố HCM ruồng bố, bắt bớ và dẹp những cơ sở kinh doanh của Câu Lạc Bộ Kháng Chiến năm 1989, thành phố bị đổi tên này như lên cơn sốt. Chúng tôi, những người cựu tù cải tạo mới được thả về còn đang trong tình trạng quản chế trước đó một ngày theo lệnh của công an phường phải khăn gói quả mướp lên ngủ ở nơi tập trung. Những bạn cựu tù đồng cảnh với tôi kháo nhau: “Ðiệu này chắc lại tù thêm vài ba lệnh nữa thôi!” (1 lệnh là 3 năm). Nhưng cũng may điều này không xảy ra và chiều ngày hôm sau chúng tôi lại khăn gói “thong thả ra về” nhưng với lời khuyến cáo không được rời khỏi nhà quá một cây số. Cho đến khi ra ngõ ngồi cà phê lề đường mới nghe “hot news”: Các ông Nguyễn Hộ và Trần Văn Trà bị người anh em miền Bắc quản thúc, Câu Lạc Bộ Kháng Chiến “banh xác” và thay vào đó bằng một tổ chức mới. Ai cũng biết Câu Lạc Bộ Kháng Chiến có trụ sở trung ương ở Sài Gòn là một tổ chức cựu chiến binh của Việt Cộng miền Nam thuộc Cục “R” và dĩ nhiên Câu Lạc Bộ Kháng Chiến bị Hà Nội nhìn với con mắt hoài nghi và thiếu thiện cảm. Tại sao? Chúng ta cần phải cùng Huy Ðức quay ngược lại thời gian của những năm 1976 thì mới có câu trả lời riêng cho mình.

Ở trang 248 của “Bên Thắng Cuộc,” Huy Ðức viết, xin trích:

“Cho dù chiến thắng bắt đầu bằng những mệnh lệnh phát đi từ Tổng Hành Dinh, nhưng đoàn quân tiến về Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4, 1975 còn mang theo Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam và Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Chấm dứt sự tồn tại của một thực thể chính trị được công nhận bởi 23 quốc gia sao cho trong ấm ngoài êm cũng có nhiều điều lo nghĩ. Theo Tướng Giáp, chủ trương thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam ngày 20 tháng 12 năm 1960 và Chính phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ngày 8 tháng 6, 1969 là của ‘anh Ba và Bộ Chính Trị’ (anh Ba = Lê Duẩn). Tuy nhiên, lá cờ sao vàng nửa đỏ, nửa xanh của tổ chức này đã từng làm cho không ít người tin vào những tuyên bố trung lập của ‘Chính phủ Lâm Thời’, không ít thanh niên trí thức Miền Nam đã hướng về ‘Mặt Trận’ nhất là khi họ bắt đầu bất bình với cung cách quan lại của chế độ Ngô Ðình Diệm, khó chịu với sự có mặt của người Mỹ trên đường phố, trong quán bar và sự can thiệp ngày càng sâu của Mỹ vào chính trị.”

Những ai vẫn còn ủng hộ hay còn cảm tình với chế độ Ngô Ðình Diệm của trên nửa thế kỷ trước đây có thể khó chịu về những lời lẽ của tác giả “Bên Thắng Cuộc” viết ra, nhưng thực tế nó là như vậy. Chúng ta có thể tìm thấy bằng chứng về nhận định của Huy Ðức trong tài liệu nay đã được công khai hóa nhan đề: “Tài Liệu Ngũ Giác Ðài: Những quyết định quan trọng của Mỹ trong Chiến Tranh Việt Nam,” trong đó bản phúc trình của Phái Bộ McNamara-Taylor hồi tháng 9 năm 1963 đã nói thẳng ra rằng, “chế độ Ngô Ðình Diệm là chế độ được điều hành bởi một ông quan trong khi dân chúng không có thiện cảm với Mỹ chỉ vì chúng ta (Mỹ) vẫn tiếp tục ủng hộ gia đình họ Ngô.” Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam được thành lập vài tháng sau cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân lần thứ hai.

Hồi trung tuần tháng 10, 1968, hãng thông tấn UPI công bố một bản phân tích đặc biệt hơn một tháng trước khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ đến trụ sở Hạ Nghị Viện VNCH đọc một thông điệp loan báo VNCH chấp nhận ngồi vào bàn hội nghị 4 bên tại Paris để tìm một giải pháp chính trị cho cuộc chiến Việt Nam. Nội dung bản phân tích theo đó thì sau Tết Mậu Thân, VNCH “siết chặt an ninh và gia tăng các cuộc bố ráp hạ tầng cơ sở nằm vùng của Cộng sản” và khiến cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam lợi dụng dịp này để lôi kéo được nhiều trí thức “có máu mặt” bỏ Sài Gòn vào chiến khu mà báo chí Sài Gòn lúc đó gọi là “Vào Rờ” (vào “R”). Trong tác phẩm “A Bright Shinning Lie: John Paul Vann,” Neil Sheehan đã khai thác cuộc đời của chuyên viên phản du kích chiến người Mỹ, John Paul Vann, mà có thời báo chí Sài Gòn so sánh ông với Sir Robert Thompson để cho rằng Việt Cộng sống bám và sống dai ở miền Nam Việt Nam chính là do “chính phủ Sài Gòn đã coi thường tác động tâm lý đi đôi với mở rộng mạng lưới phòng thủ diện địa.” Thiệt hại sau Tết Mậu Thân và yếu tố chính phủ Sài Gòn bị mất mặt đã khiến cho guồng máy an ninh của VNCH có nhiều hành động thiếu sáng suốt trong những chiến dịch bắt bớ vô tình đã đẩy cả những thành phần trước đó từng được mô tả là chống Cộng kịch liệt bỏ theo Việt Cộng. Như một sự trùng hợp, 45 năm sau Mậu Thân, blogger Huy Ðức đưa ra một trường hợp điển hình để giải thích tại sao Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam lôi kéo được Lâm Văn Tết và Trịnh Ðình Thảo. Huy Ðức cho rằng ông Lâm Văn Tết (1896-1982) là một trí thức lớn có uy tín ở miền Nam Việt Nam. Gia đình ông là một gia đình đại điền chủ ở Bạc Liêu. Từ năm 1943 ông Lâm Văn Tết hoạt động chống Pháp nhưng lại thân Nhật. Ông từng đi theo Việt Minh nhưng sau trở về thành vì không tán thành Cộng sản. Dưới thời ông Ngô Ðình Diệm, ông chống lại sự can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam và sau khi ông Diệm bị lật đổ thì ông được mời làm phó chủ tịch Thượng Hội Ðồng Quốc Gia, một cơ quan giống như Thượng Viện nhưng không do dân bầu (tác giả không được đúng lắm khi so sánh Thượng Hội Ðồng Quốc Gia với Thượng Viện. Thực ra, Thượng Hội Ðồng Quốc Gia chỉ là tên gọi của một định chế đặc biệt sau đảo chánh gồm các nhân sĩ, đại diện các chánh đảng và đoàn thể chính trị được Hội Ðồng Tướng Lãnh tham khảo và mời vào với mục đích tổ chức cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến và từ Quốc Hội Lập Hiến, một bản Hiến Pháp sẽ được thảo ra và biểu quyết, khi có Hiến Pháp rồi Quốc Hội Lập Hiến mới tổ chức bầu cử Quốc Hội VNCH gồm 2 viện: Thượng và Hạ Viện. Nhưng khi thực hiện cuộc “chỉnh lý,” Tướng Nguyễn Khánh đã ra lệnh bắt tất cả các thành viên Thượng Hội Ðồng Quốc Gia đưa lên quản thúc ở Pleiku). Từ năm 1965, khi ông Tết nhiều lần bày tỏ sự bất mãn trước việc quân Mỹ đổ bộ ở Ðà Nẵng dưới đời Thủ Tướng Phan Huy Quát, cán bộ trí vận Sài Gòn đã theo và vận động được ông bỏ ra khu theo MTDTGPMNVN.

Tháng 6, 1965, trong cuộc phỏng vấn tại nhà riêng của ông ở Sài Gòn cho Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia, tôi có hỏi ông lý do tại sao ông chống lại việc Mỹ đổ quân vào miền Nam để cứu vãn tình hình quân sự đang suy sụp thì ông trả lời: “Mỹ nên đưa vũ khí và viện trợ cho VNCH thì hay hơn là đổ quân vào. Sự hiện diện của quân ngoại nhập là điều không tốt cho VNCH về mặt tuyên truyền, nhất là đối với CSBV...” Với một người ở hoàn cảnh như ông Lâm Văn Tết, việc rơi vào tay Cộng sản là điều không mấy khó khăn. Và người Sài Gòn đã thấy khi Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình của Luật Sư Trịnh Ðình Thảo quyết định vào “R” thì nhiều người dân miền Nam bắt đầu nghĩ về Mặt Trận như ngọn cờ chống sự lệ thuộc vào nước ngoài thay vì phải quan tâm đến bản chất Việt Cộng của tổ chức mà “ai cũng biết được lập ra từ Hà Nội” (tr.248, Bên Thắng Cuộc, H.Ð).

Trong suốt 11 năm làm truyền thông chính phủ, tôi nhận ra một số những nhà lãnh đạo ngành tuyên truyền VNCH đánh giá khá thấp những tổ chức mà người ta cho rằng thuộc “thành phần thứ ba,” chẳng hạn như Phong Trào Dân Tộc Tự Quyết do Luật Sư Nguyễn Long làm chủ tịch, Phong Trào Bảo Vệ Nhân Phẩm và Quyền Phụ Nữ do bà Ngô Bá Thành thụ ủy, Lực Lượng Bảo Vệ Văn Hóa Dân Tộc của Giáo Sư Lê Văn Giáp, Ủy Ban Vận Ðộng đòi cải thiện chế độ lao tù gồm nhiều nhân sĩ, trí thức, linh mục, nổi nhất là hai linh mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan, Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris của Luật Sư Trần Ngọc Liễng. Phủ Tổng Thống chỉ giản dị cho rằng đây là những “vệ tinh” của CSBV có ảnh hưởng rất giới hạn vào dư luận mà không bao giờ để ý rằng, những tổ chức này được cảm tình của quần chúng lao động miền Nam. Giới lao động miền Nam luôn nghĩ một cách giản dị rằng những tổ chức ấy chỉ hoạt động chống lại việc Mỹ đổ bộ vào Miền Nam Việt Nam và như thế là tốt vì họ cũng không muốn thấy quân ngoại nhập có mặt trên đất nước Việt Nam để thế chân người Pháp. Một trong những tờ báo có uy tín của Sài Gòn là tờ Ðuốc Nhà Nam của nhà báo Trần Tấn Quốc thường hay phản ảnh quan điểm mang tính dân tộc này trong những bài xã luận hàng ngày.

Riêng dư luận ở nước ngoài, nhất là trong khối Á Phi thường được gọi là “thế giới thứ ba” lên tiếng ủng hộ “Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” thực ra chỉ do sự xuất hiện những khuôn mặt trí thức giữ vai trò lãnh đạo như Luật Sư Nguyễn Hữu Thọ và Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát và họ đã vội vã cho rằng đây là một “chính phủ ly khai của miền Nam Việt Nam.” Cách nhìn hời hợt này tất nhiên không thể giúp các quốc gia Á Phi có thể hiểu quyết định thành lập loại chính phủ kiểu chính phủ lâm thời đều được quyết định bởi Ban Bí Thư đảng Lao Ðộng Việt Nam (tên cũ của đảng Cộng Sản). Theo “Bên Thắng Cuộc,” “các văn bản của cơ quan này, những tổ tức nhân danh chính phủ lâm thời ấy được lập ra là do sự cần thiết triển khai công tác trên mặt trận đấu tranh ngoại giao và hoạt động tranh thủ quốc tế trong giai đoạn chống Mỹ.” Và đây chính là lý do người ta có thể hiểu tại sao ngay trong những ngày đầu tiên sau 30 tháng 4, 1975, Hà Nội đã lo ngay việc thanh toán những âm binh của mình. Huy Ðức viết:

“...Ngay trong ngày 1 tháng 5, 1975, thái độ của Hà Nội đã được thể hiện dứt khoát trong bức điện 601 do Tố Hữu thay mặt Ban Bí Thư gởi cho ông Phạm Hùng, bí thư Trung Ương Cục, nguyên văn: ‘Xin báo để các anh biết, theo ý kiến anh Ba (Lê Duẩn) về chính phủ không có vấn đề ba thành phần. Cấu tạo chính phủ không thể có bọn tay sai Mỹ, không để cho Mỹ có chỗ dựa và phải làm cho quần chúng thấy rõ sức mạnh, thế mạnh của cách mạng...Những người ra đầu hàng như Dương Văn Minh chẳng hạn thì không bắt, nhưng cần có cách quản lý, giám sát...’’”

Vẫn theo Huy Ðức, trong chiến tranh, lán trại của Mặt Trận và Chính Phủ Lâm Thời luôn luôn phải nằm cạnh của Trung Ương Cục, đó là những căn nhà mái lá dựng trên thượng nguồn sông Vàm Cỏ Ðông ở vùng Sa Mát, Thiện Ngôn. Theo “Thứ trưởng” Lữ Phương (sau này trở thành nhân vật bất đồng chính kiến) thì Bộ Văn Hóa Thông Tin của ông chỉ gồm vài ba cán bộ đang làm việc trong Tiểu Ban Văn Nghệ của Ban Tuyên Huấn Miền. Bộ Trưởng Lưu Hữu Phước trước đó là người phụ trách tiểu ban này. Tác giả “Bên Thắng Cuộc” nhấn mạnh về tình trạng “thất nghiệp” và “bù nhìn” của Chính Phủ Lâm Thời như sau:

“Các quan chức của chính phủ lâm thời kể cả Chủ tịch Huỳnh Tấn Phát cũng chủ yếu giết thời gian bằng cách đánh cờ hoặc chơi bài tiến lên (một loại bài riêng của Việt Cộng xuất phát từ Liên Xô và các nước cộng sản ở Ðông Âu). Mọi phát ngôn của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam đều do Trung Ương Cục (thuộc CSBV) chuyển sang để các quan chức mặt trận này đọc trước máy ghi âm của Ðài Phát Thanh Giải Phóng...”

Trong thời gian chiến tranh, những nhà nghiên cứu trong giới truyền thông ở miền Nam Việt Nam cũng đã biết một phần nào về tính chất bù nhìn của MTDTGPMNVN đối với Hà Nội, nhưng người ta không thể nào tưởng tượng ra nổi tình trạng lại tệ hại như lời tiết lộ của Huy Ðức 53 năm sau. Trước hết nó cho thấy sự ngây thơ hàng ngũ trí thức mơ mộng tại miền Nam Việt Nam như thế nào. Cho nên dù là bị đẩy vào tình thế không có cách lựa chọn nào khác hơn, điều đáng trách cứ nhất là nhóm trí thức trong hàng ngũ Mặt Trận ít nhiều đã tạo niềm tin vào “hòa bình và hòa hợp dân tộc” cho những người ở bên kia chuyến tuyến. Theo Huy Ðức qua những cuộc phỏng vấn và qua nghiên cứu tài liệu, anh thấy rằng thực sự khi chiến tranh hoàn toàn kết thúc, những trí thức miền Nam còn giữ được lương tâm của cảm thấy cắn rứt trước số phận của những người đã đi theo những lời tuyên bố đứng tên mình. Nhưng khi từ trong rừng vừa về đến Sài Gòn thì vai trò của họ cũng vừa chấm dứt. Không mấy ai trong số họ có cơ hội để thực hiện những lời đã hứa với nhân dân miền Nam. Chưa hết, phần lớn những trí thức đầu não của MTDTGPMNVN đều là dân tư sản, có nhiều biệt thự, điền trang, nhà máy, ruộng đất ở vùng quê. Nhưng sau khi làm xong vai trò bung xung che chắn để “cách mạng” thành công thì tài sản của họ cũng đã bị “cách mạng” tiếp quản luôn.

Tuy nhiên, nếu tìm hiểu rõ những động cơ khiến cho những nhân vật như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trịnh Ðình Thảo hay Lâm Văn Tết... đứng ra cầm lá cờ sao vàng, nửa xanh, nửa đỏ chỉ là do việc “chống Mỹ” và “bất mãn chế độ VNCH” chứ không thuần là “ý thức hệ,” những nhà lãnh đạo VNCH có thể đã có một chính sách cụ thể hơn nhằm giảm bớt ảnh hưởng của mặt trận nếu không muốn nói là có thể làm tan rã phần lớn chỗ dựa của Việt Cộng miền Nam. Nhưng cuối cùng lịch sử của một đất nước có thể quay sang một hướng khác chỉ vì chữ “nếu” và những trải nghiệm sau khi đã được ngủ trong chăn đầy rận thì mới vỡ lẽ là chăn có rận thiệt. Nhưng lúc đó mọi chuyện trở nên quá muộn. Người dân miền Nam không khỏi băn khoăn khi thấy ngay trong những ngày đầu tháng 5, 1975, “nhiều địa phương đã thống nhất cung cách điều hành theo miền Bắc. Có những tỉnh ở miền Nam, chính quyền mới buộc người dân phải xin biển đăng ký cho cả xe đạp.” Và “có những chi tiết tưởng là vụn vặt nhưng cũng khiến không ít người miền Nam chạnh lòng: dân miền Nam đã quen cầm miếng thịt sườn nung núc thịt nạc, nhưng sau 30 tháng 4, 1975, mậu dịch viên quốc doanh chỉ bán cho họ những miếng sườn chỉ còn xương xẩu.”

Tác giả Huy Ðức gọi tình trạng nói trên là kế hoạch “Bắc hóa,” một từ ngữ anh dịch ra từ cách gọi của nhà báo Pháp Jean de la Couture “nordmalisation” để thay thế cho chữ bình thường hóa tức “normalisation.” Bình thường hóa ở đây phải hiểu là bình thường hóa quan hệ Bắc-Nam được dùng trong Hiệp định Geneve 1954. Tại sao Hà Nội lại phải thực hiện ngay kế hoạch Bắc hóa? Ðiều này có thể lý giải không mấy khó khăn. Và nếu nói như tác giả “Bên Thắng Cuộc” thì không ai lại tiến hành một cuộc chiến thiết hại hàng triệu sinh linh để kết quả cuối cùng Việt Nam vẫn là hai quốc gia. Nhưng hình ảnh tàn tạ của miền Bắc và những nhà lãnh đạo “đỏ từ trong đỏ ra” cũng làm cho không ít người trong hàng ngũ “kháng chiến chống Mỹ” ở miền Nam băn khoăn. Vẫn theo Huy Ðức, nhiều người trong Mặt Trận đã từng được đưa ra Bắc “tham quan” đã chứng kiến đầy đủ sự lạc hậu về văn hóa, sự tàn tạ về kinh tế xã hội sau gần 2 thập niên xây dựng điều được gọi là “xã hội chủ nghĩa ưu việt.” Mối băn khoăn đó bùng nổ thành những ý kiến gay gắt từ những nhân vật lãnh đạo trong Mặt Trận tại buổi họp nội bộ của Hội Nghị Hiệp Thương Thống Nhất năm 1975. Ý kiến đáng chú ý của một số thành viên trong chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, trong đó nổi nhất là Bộ Trưởng Ngoại Giao của Chính phủ Lâm Thời bà Nguyễn Thị Bình, các ông Lưu Hữu Phước, Lâm Văn Tết, Trịnh Ðình Thảo, có thể tóm tắt vào một điểm sau đây: “Ðồng ý nguyên tắc là phải thống nhất, nhưng cần phải có thời gian để hai phần đất nước hòa hợp được với nhau.” Tuy nhiên, lúc bấy giờ đã quá muộn để cho những nhân vật này còn có thể làm một điều gì khác hơn là thúc thủ.

Những cuộc tranh cãi với chủ ý để cho việc “Bắc hóa” chậm lại gây ra mối bất hòa khá nghiệm trọng giữa MTDTGPMNVN và Hà Nội và để chấm dứt chuyện này và cũng là để trừ hậu họa, Tổng Bí Thư Lê Duẩn đã đành phải “dứt tình” với miền Nam, vùng đất đã cưu mang ông ta trong suốt cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc chiến thôn tính nốt miền Nam Việt Nam. Ông ta gạt tất cả các ý kiến mà ông cho là MTDTGPMNVN đã “vô ơn” đối với hàng triệu thanh niên miền Bắc chết cho điều mà ông ta gọi là “sự nghiệp giải phóng miền Nam Việt Nam.”

Ðúng 12 giờ 10 phút ngày 21 tháng 11, 1975, Hội nghị Hiệp Thương Thống Nhất hai miền Nam Bắc kết thúc. Chủ tịch MTDTGPMNVN như một thói quen đọc một bài diễn văn ngắn do Hà Nội viết sẵn xác nhận “Nước Việt Nam là một.” Theo Huy Ðức, “hiệp thương giữa những người đồng chí với nhau chỉ là hình thức. Kể từ ngày 30 tháng 4, 1975, đất đai, quyền lực thực sự đã ở trong tay đảng Cộng Sản Việt Nam. Thống nhất chỉ “đồng nghĩa với Bắc hóa mô hình kinh tế.” Tờ Le Monde của Pháp vào thời gian đó đã đưa ra nhiều hình ảnh về MTDTGPMNVN và nhận định: “Hà Nội đã chấm dứt cuộc chiến thứ nhất sau khi VNCH sụp đổ, nhưng miền Nam Việt Nam chỉ sụp đổ thật sự khi Hà Nội loại được Mặt Trận ra khỏi quyền lực.” Tuy nhiên, cá nhân, tôi và nhiều người miền Nam khác còn được chứng kiến Hà Nội “chặt” những âm binh cuối cùng của họ vào năm 1989: Câu Lạc Bộ Kháng Chiến! Ấy thế mà người Cộng sản vẫn chưa thống nhất được lòng người Việt Nam.



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus