XEM NGƯỜI VIỆT TRÊN



CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»

« Trở về trang trước

Học thuyết âm dương
Thursday, February 28, 2013 1:45:30 PM





Bác Sĩ Ðặng Trần Hào

 

Ði sâu vào bản chất sự vật và hiện tượng, ta thấy bên trong chúng bao giờ cũng có âm dương đối lập, thống nhất, hỗ căn, tiêu trưởng và bình hành.

Trong Nội Kinh là tài liệu quí giá nhất đối với Y Học Cổ Truyền có viết:

“Âm dương là đạo của trời đất, là giềng mối của vạn vật, là cha mẹ của sự tiến hóa, là căn bản của mọi sự sinh sát, là nôi chứa mọi sự thần minh, trị bệnh phải biết nắm lấy cái gốc âm dương.”

Ngay câu đầu, Nội Kinh đã nhấn mạnh tới đạo của trời đất để cho chúng ta lấy đó mà suy diễn và áp dụng vào thuật chữa bệnh.

Trong triết học Ðông Phương, chữ đạo chỉ là nhận thức của con người về qui luật tự nhiên của trời đất. Ðạo là con đường dời đổi của sự vật trong vũ trụ nhân sinh, với cái thể không dời đổi bất dịch của nó là nhất âm, nhất dương. Hay nhất âm, nhất dương chi vị đạo là nói theo kinh dịch.

Nhưng sau này, phần đông các thầy thuốc chỉ dựa vào âm dương tương đối, mà quên mất sự tự nhiên là sự vật lúc nào cũng gồm đủ hai mặt âm dương đối lập và âm dương thống nhất (Ðạo tam cực gồm hai cực âm dương đối lập và một cực âm dương thống nhất).

1. Âm dương thống nhất:

Loài người được sinh ra từ Trời, Thiên Chúa, Thánh A-La, đạo trời hằng tiềm ẩn trong lòng ta và không hề rời ta một phút giây. Vì không rời khỏi cái gốc, mặc dầu đã chia ra thành thái cực, lưỡng nghi... mà vẫn gồm thành một thể gọi là thống nhất.

Thái cực là đã phân cực. Khi chưa phân cực, gọi là vô cực. Âm dương trong một thể không gọi là hiệp nhất, vì hiệp nhất tức là một, không còn phân thành âm dương, nhưng đây chỉ là thái cực đã phân thành âm dương. Do tồn tại song song với cặp âm dương đối lập, nên thái cực là một thể được gọi là thống nhất thay vì hiệp nhất.

Thống nhất, theo kinh dịch có tính dương biểu thị bằng một hào liền (-).

2. Âm dương đối lập:

Ðối lập có tính âm, biểu thị bằng một hào đứt (- -).

Trong muôn loài, giống cái (âm) gọi là mẹ, có khả năng sinh đẻ, hào đứt cũng có tượng phân nhị (- -). Thái cực phân nhị thành âm dương đối lập qua tâm và gọi là âm dương đối lập.

Do âm dương đối lập không rời âm dương thống nhất (tại tâm), cho nên khi biểu thị hai qui luật này bằng một hình tròn thì:

-Tâm của vòng tròn biểu thị âm dương thống nhất (tại tâm).

-Vòng tròn biểu thị âm dương đối lập (qua tâm).

Thống nhất và đối lập là chân lý muôn đời của sự vật, còn trái đạo thì phải thay đổi cho hợp đạo mới được bình an.

Ðể hiểu qua thế nào là âm dương thống nhất và âm dương đối lập, ngươi xưa phân nhánh chia âm dương ra hai mặt, nhưng để tránh lầm lẫn, chỉ gọi âm dương tổng quát một lần (thái cực sinh lưỡng nghi), còn sau đó tuy cũng thuộc âm, thuộc dương, nhưng đều có tên gọi khác, nếu còn dùng hai chữ âm dương, thì danh từ ghép với một thể khác: thí dụ chỉ dùng từ đơn hoặc âm, hoặc dương, còn như các cặp hàn nhiệt, khí huyết, thủy hỏa thì đã thuộc tứ tượng, nên phân định âm dương rõ ràng như loại hàn thì có dương hàn, âm hàn; loại nhiệt thì có dương nhiệt, âm nhiệt; loại khí thì có dương khí, âm khí; loại huyết thì có dương huyết, âm huyết; loại thủy thì có dương thủy, âm thủy và loại hỏa thì có dương hỏa, âm hỏa.

Tuy vậy từ đời Trọng Cảnh cho tới cụ Lưu Thủy rất ít người hiểu thấu đáo đem áp dụng vào việc chữa trị cho bệnh nhân.

Trong tự nhiên, sự vật nào cũng có hai mặt âm dương hình thành một bản chất, không thể xa lìa với hiện tượng, như trời có ngày và đêm; không gian có trên và dưới, trong và ngoài; giống có đực và cái... Cơ cấu của dịch lý là đạo tự nhiên, hằng có giữa cặp âm dương kể trên. Muốn luận Ðạo Âm Dương phải tuân thủ Ðạo Tam Cực mà tự nhiên đã biểu hiện bằng các khiếu trên mặt mỗi người; trên là mắt; giữa là tai, mũi; dưới là miệng. Thuận tự nhiên, kinh dịch cũng “Tiểu thành” tám quẻ Bát Quái bằng ba hào trên-giữa-dưới. Thời gian cũng có ba, là hiện tại, quá khư và tương lai. Không gian cũng có ba, là trên, giữ, dưới, hoặc ngoài, giữa, trong. Cơ Ðốc Giáo cũng có Chúa Ba Ngôi, Phật Giáo có Tam Bảo... Ðạo tự nhiên đâu cũng biểu hiệu có ba cực, vì sao giới Ðông y cố chấp, chỉ có nghĩa âm dương đối lập mà bỏ đi cái đạo âm dương thống nhất kéo dài bằng lập luận biểu lý mà quên một mạng lưới kinh lạc gọi là Tấu, hằng có nơi thân người.

 

Tấu lý là gì?

 

Lương Y Lưu Thủy nói: “Tấu là chỗ thông hội chân nguyên của khí tam tiêu. Lý là đường vân nét lý trải suốt bì phu tới tạng phủ. Nói tam tiêu là chỉ nói tới dương, không nói tới âm. Âm của Tam Tiêu chính là Tâm Bào Lạc. Tam Tiêu và Tâm Bào lạc là nền tảng, đạo lộ của hệ kinh lạc, nơi kinh lạc thông tới ngọn, hội về gốc.”

Tấu lý là toàn bộ mạng lưới kinh lạc có chức năng liên kết biểu lý làm một, điều hành, nuôi dưỡng riêng biểu, riêng lý làm hai chức năng của Tấu lý nơi bộ vị, cũng không khác chức năng trung hòa khí từ hai khí âm dương đối lập.

Tấu lý có hai phần:

-Tấu bán biểu: Là phần mạng lưới kinh lạc trải suốt phần biểu. trong phần này kinh lạc vào ra (nội ngoại) theo chiều ngang (hoành).

-Tấu bán lý: Là phần mạng lưới kinh lạc trải suốt phần lý. Trong phần này kinh lạc lên xuống (thượng hạ) theo chiều dọc (tung). Tại lý, Tấu bán lý liên kết với cách làm chức năng, rồi phân thành phần thượng và phần trung và liên kết với Ðái mạch làm chức năng phân kết phần trung và phần hạ.

Âm dương là hiện tượng, nhưng cơ cấu liên kết thành một thể mới là bản chất. Ðạo chính là đường liên kết này, cho nên không hiểu đạo lý thì tất nhiên luận âm dương sai lệch.

Cụ Lưu Thủy ưu tư đề xướng cho hậu thế trở lại truyền thống Ðông Y tiếp nối Trọng Cảnh bằng cách học tập bản nghĩa hai sách Thương Hàn Luận và Tạp Bệnh Luận. Truyền thống Ðông Y được truyền thừa từ Nội Kinh với chương Nhiệt Bệnh Luận, sau đó Ngài Trọng Cảnh bổ khuyết bằng Thương Hàn Luận cho đủ cặp âm dương có đâu sai lệch?

Cốt lõi của Ðông y truyền thống là đạo học và khí hóa.

Ðạo học chẳng những luận âm dương đối lập, mà còn luận âm dương thống nhất của sự vật biến hóa theo hai nghĩa; dụng mà tồn tại trong một đạo thể.

Khí hóa là mô tả mọi sinh hoạt của sự vật bằng một sức gọi là khí, lý này có đề cập trong Nội Kinh với luận chức năng của phủ Bàng Quang, có câu “Khí hóa xuất yên” với ý nói máu từ tâm đến thận để lọc cặn bã thành nước tiểu, rồi xuống bọng đái mà bài tiết ra ngoài.

Vì không hiểu thấu đáo, nên sau Trọng Cảnh đến Lưu Thủy phần nhiều luận âm dương sai lệch là nguyên nhân kéo dài làm mai một Ðông y.



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus