CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»
« Trở về trang trước

Sửa đổi Hiến Pháp Việt Nam: Trăm hoa đua nở?
Friday, March 22, 2013 5:53:43 PM





Vũ Ánh

 

Khi đến nhận giải thưởng báo chí dành cho công dân mạng Netizen ở Pháp, nhiều người hỏi rằng làm cách nào mà một người khi viết những bài báo đưa ý kiến hủy bỏ điều 79 và 88 về tội tuyên truyền chống nhà nước và chủ trương đa nguyên, đa đảng mà không bị bắt thì nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh trả lời họ bị chưa bị bắt không có nghĩa là họ sẽ không bị bắt.

Một nhà báo độc lập và không hoạt động cho một tổ chức nào vẫn có thể bị bắt bất cứ lúc nào tại Việt Nam. Tuy nhiên, theo ông Chênh, kinh nghiệm cho ông thấy tại Việt Nam hiện nay, một nhà báo công dân không thuộc hay không tham gia vào bất cứ tổ chức nào sẽ không tạo cho nhà cầm quyền cái cớ thuận tiện để họ bắt giữ. Câu nói này của ông Chênh có thể hiểu theo nhiều cách nhìn khác nhau. Cá nhân, tôi cho rằng nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh muốn nói tới tính chất độc lập và dựa trên sự thật của người viết báo dù là bao in hay báo mạng trong những xã hội mà nền báo chí bị kiểm duyệt cũng có thể khiến cho nhà cầm quyền phải suy tính hơn, thiệt khi muốn dùng bạo lực chuyên chính để bịt miệng những người có những ý kiến khác với họ. Dĩ nhiên, ý kiến của ông Huỳnh Ngọc Chênh không hẳn là đúng 100%, nhưng ít ra nó cũng đã giúp tạo ra một lá chắn tạm thời “có thể” đỡ đần được phần nào những thành phần bị hoạn nạn khi bày tỏ suy nghĩ riêng tư của mình vốn rất khác biệt với cường quyền.

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh không muốn nói huỵch toẹt ra mà chỉ muốn hàm ý đã làm báo và truyền thông ở Việt Nam thì không nên hiểu quá xa những giới hạn một nền báo chí và truyền thông còn đang bị thách thức bởi những lưỡi kéo kiểm duyệt, nhưng ít ra nó cũng cho thấy một giải pháp tạm thời để có thể tiếp tục tồn tại để làm những công việc mà mình muốn.

Nếu đi ngược lại thời gian của hai thập niên đầu tiên và vào giai đoạn mà Tổng Bí Thư đảng CSVN Nguyễn Văn Linh cổ võ “perestroika” mà ông ta gọi là “đổi mới tư duy” với những việc “cần làm ngay” để phá vỡ chế độ bao cấp, giới hạn đó lên tới cấp giám đốc và về phía đảng chỉ lên tới bí thư tỉnh ủy là cùng. Giở lại những số báo cũ của 15 năm trước đây của tờ Thanh Niên, Tuổi Trẻ và Người Lao Ðộng và mới đây tiềm ẩn trong những tài liệu được trích thuật lại trong tác phẩm “Bên Thắng Cuộc,” người đọc sẽ thấy rõ những giới hạn ấy. So sánh thời kỳ đó và hiện nay, người ta không thể phủ nhận rằng những vòng trói của đảng CSVN ở cổ tay những nhà báo nhà văn trong nước dù đã được nới lỏng nhiều, nhưng bất cứ lúc nào muốn họ siết lại cũng không có gì khó khăn.

Chỉ cần ông Hoàng Khương, một tay viết phóng sự khá hấp dẫn cho tờ Thanh Niên viết một bài tố cáo tham nhũng bằng cách hối lộ cho công an để có tài liệu dẫn chứng, ông bị khốn đốn ngay. Thực ra chuyện này sẽ chẳng thành vấn đề gì nếu nhà báo Hoàng Khương không dụng tới ngành công an là ngành đang đang bị tai tiếng tham nhũng không phương gột rửa. Mới đây nhất, nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên mất việc ở tờ Sức Khỏe và Gia Ðình chỉ vì những bài viết chỉ trích lời tuyên bố của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng khi ông ta lên tiếng đe dọa những người ký kiến nghị đòi hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp. Sau đó, ông Trọng thì không hề đề cập gì đến phản ứng của nhà báo Nguyễn Ðắc Kiên, nhưng ai cũng biết rằng bộ máy bên dưới ông ta đã khởi động ngay, và chưa cần họ ra tay, người tổng thư ký của tờ báo đã phải đuổi việc nhân viên của mình trước. Tuy mất việc, nhưng ông Nguyễn Ðắc Kiên nói ông thông cảm với người sếp của mình với một lời lẽ người ta có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau. Nhưng ai cũng thấy cái vạch vôi bất khả xâm phạm chung quanh những chiếc ghế lãnh đạo trong đảng Cộng sản dù chỉ được vạch ra bằng vôi, nhưng rõ ràng không ai xâm phạm vào mà không phải trả giá.

Nhưng có người lại nêu trường hợp ông Ðoàn Văn Vươn đòi đất ở Tiên Lãng như là một trường hợp tức nước vỡ bờ điển hình nhất và báo chí đã nhất loạt “đụng” tới vụ này. Thật ra nếu duyệt xét những diễn biến từ đầu đến cuối của nội vụ, người ta thấy ngay đây chỉ là một trò biểu diễn của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng vào lúc ông mới được bầu nhiệm kỳ 2 nhằm tái tạo lại uy tín sau khi đã bị những kẻ “nội thù” trong đảng quăng quật về vụ bê bối ở Vinashin và vụ in tiền polymer. Và chỉ giới hạn ở vụ này mà thôi. Trong những vụ dân đòi đất khác tiếp theo, báo chí truyền thông trong nước lại trở về tình trạng “im lặng vô tuyến.”

Thật ra, chúng ta cũng cần phải nghiên cứu lại một danh sách khá dài những vụ xảy ra liên tiếp chung quanh các vụ tai tiếng cốt lõi của Việt Nam mới có thể đưa ra những kết luận chính xác hơn. Những trường hợp tôi vừa nêu ở trên để đưa ra những cảnh báo rằng không nên đánh giá thấp hay đánh giá cao khả năng kiểm soát dư luận của đảng và chính phủ Việt Nam Cộng sản, mà phải nhìn vào thực tế để tìm cho mình một con đường tồn tại nếu quả thực những nhà báo lề trái còn nuôi lý tưởng sẽ nhất định phải làm một điều gì đó cho giá trị dân chủ, tự do và nhân quyền cho Việt Nam.

Ảnh hưởng của truyền thông và báo chí nói chung chỉ thấm dần vào tâm trí quần chúng nếu nó được khéo léo duy trì. Muốn gia nhập vào dòng báo chí truyền thông lề trái ở Việt Nam mà chỉ sau bài báo đầu tiên mà nhà báo ấy đã bị đưa vào “cũi” thì người di chuyển bên lề trái sẽ thưa thớt dần đi, sẽ thiếu sức mạnh đoàn kết thì còn gì niềm tin nữa? Tôi không biết cuộc Cách Mạng Nhung ở Ba Lan thập niên 1980 có một hệ lụy nào về tầm quan trọng cho nhà lãnh đạo các phong trào cách mạng khởi đi từ trong lòng đất địch hay không, nhưng một số lãnh tụ chính trị của Công Ðoàn Ðoàn Kết Ba Lan còn sống mà tôi được hân hạnh nói chuyện ở thủ đô Warsaw và hải cảng Gdansk đều cho rằng điều làm họ sợ nhất là thủ lãnh Lech Walesa của họ bị bắt và bị Tướng Jaruzelski tống xuất ra nước ngoài.

Họ giải thích rằng thực tình vào lúc đó, những nhà hoạt động trong phong trào không kiếm đâu ra được một người trầm tĩnh, nhẫn nại, tài ba và có đầu óc thực tế để thay mặt Walesa tại nội địa Ba Lan vào lúc đó. Vẫn theo những nhân chứng này nếu không may mà tình hình này xảy ra, bao nhiêu công lao trường kỳ mai phục của dân chúng Ba Lan chờ đợi ngày N giờ G sẽ ra sông ra biển hết.

Từ những bài học trong chiến dịch “Trăm Hoa Ðua Nở” vào năm 1956 tại miền Bắc Việt Nam và 1975 tại miền Nam Việt Nam, “Mùa Xuân Tiệp Khắc” 1968 và cuộc Cách Mạng Nhung ở Ba Lan, tôi không tin rằng Hà Nội có nhu cầu sửa đổi Hiến Pháp 1992. Không lẽ một người như Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng hay Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng lại không biết sự nguy hiểm khi họ chấp nhận cho lấy ý kiến về việc sửa đổi Hiến Pháp? Từ lâu, không lẽ họ lại không biết rằng các điều khoản 79, 88, những đòi hỏi về đa nguyên đa đảng với một chính quyền tam quyền phân lập của một số những nhà bất đồng chính kiến và nhất là việc đòi bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp đang là những mũi tấn công mạnh mẽ từ dư luận hải ngoại và những nhà trí thức và nhân sĩ trong nước?

Người Cộng sản đã biết và thừa biết rằng Ðiều 4 Hiến Pháp là cái xương sống cho đảng của họ không thể để nó bị chặt gãy được. Vì thế tôi cho rằng ý kiến sửa đổi Hiến Pháp do chính quyền Việt Nam nêu ra đã được dùng như một thứ vũ khí cho một chiến dịch “Trăm Hoa Ðua Nở” khác để biết rõ dư luận thầm lặng ủng hộ việc đốn ngã cái xương sống của đảng CSVN đến từ đâu, ở khu vực nào, ở tổ chức nào, nhất là lần này Hà Nội biết được thái độ rõ rệt của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam.

Những tháng sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi đưa các cựu sĩ quan và công chức VNCH vào trại cải tạo, Hà Nội tính đến chuyện bình định các nhóm chống đối còn lại. Những nhân viên tình báo và công an chìm của Cộng sản được lệnh phao tin đồn: trong những khu rừng rậm ở Miền Nam Việt Nam còn tàn quân VNCH. Lập tức vụ nhà thờ Vinh Sơn nổ ra, lực lượng vũ trang còn non yếu của Linh Mục Nguyễn Văn Vàng vội vã hoạt động ra mặt, rồi mặt trận Phục Quốc nổi lên. Nhưng theo cách tường thuật lại của những anh em Phục Quốc bị bắt và bị giam chung với chúng tôi thì một phần đường dây tuyển mộ của lực lượng này thường bị công an gài. Họ cứ bắt được nhóm này thì lần ra nhóm kia. Và đến Tháng Tám 1975, Hà Nội kéo mẻ lưới cuối cùng. Do tai nghe, mắt thấy qua những nhân chứng của các phong trào nhằm phục quốc bị bắt và bị nhốt chung một trại cải tạo với chúng tôi, kể cả những người mang án tử hình và chung thân, tôi chiêm nghiệm ra một điều: tầng lớp thanh niên yêu nước ở miền Nam Việt Nam vào giai đoạn ấy nhiều lắm, họ rất mong được cầm súng chiến đấu, tinh thần dân chúng ủng hộ VNCH lên cao, nhưng do không có một chút kinh nghiệm nào về trường kỳ mai phục, về tổ chức, về nuôi dưỡng phong trào, lại nóng vội và cả tin vào những lời của bọn công an gài trong các đường dây tuyển mộ và tổ chức khi chúng phao tin nào là ông Thiệu bí mật về nằm ở Phan Rí, nào là ông Kỳ đang ở Rừng Sát, nào Tướng Trưởng bí mật về lập chiến khu ở U Minh Thượng vân vân và vân vân.

Nói cho ngay, vào giai đoạn đó, sau khi mất vùng đất thân thương là Miền Nam thì người Miền Nam mới thấy quí và tiếc vùng đất ấy, nhưng khốn thay mọi chuyện đều đã trở nên quá muộn.

 

Cho nên tôi tin rằng việc Hà Nội lấy ý kiến dân để sửa đổi Hiến Pháp chỉ là chiến dịch “Trăm Hoa Ðua Nở” mà thôi. Những người cả ở hải ngoại và trong nước nếu quả thật đang trông đợi Hà Nội thay đổi như Miến Ðiện thay đổi, chắc hẳn đã nghe lời đe dọa và khẳng định dứt khoát của Nguyễn Phú Trọng cũng như Nguyễn Sinh Hùng: không được bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp.

Không bỏ Ðiều 4 Hiến Pháp thì không bỏ các điều khoản khác được. Chế độ cộng sản cũng không có sức và không dại gì bắt giữ những người ký vào Kiến Nghị Sửa Ðổi Hiến Pháp hay Hội Ðồng Giám Mục. Chiến thuật chuyên chính của người Cộng sản hiện nay coi bắt giữ chỉ là biện pháp cuối cùng, cái chính để ngăn ngừa hữu hiệu các biến động chính trị khỏi nổ ra là “cô lập” để ngăn chặn và răn đe.

Nếu đọc các blog ngày nay, người ta thấy nhiều tác giả viết ra những suy nghĩ rất “bạo” mà không bị bắt bởi có khi công an lờ đi vì đó vẫn chỉ là ý kiến của một cá nhân. Nhưng chỉ cần những blogger liên lạc với nhau để trở thành một phong trào là họ bắt ngay. Những trường hợp như các blogger Ðiếu Cày, Tạ Phong Tần, Anhba Saigon, những thanh niên trí thức như Lê Công Ðịnh, Trần Huỳnh Duy Thức, các thanh niên Công Giáo địa phận Vinh và Nguyễn Phương Uyên là những bằng chứng điển hình!

Cho nên, suy đi nghĩ lại có thể hiểu rằng những khuyến cáo của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh có một phần giá trị thực tế. Phải làm cách nào đó sống còn và tiếp tục viết trong giới hạn của sự kiểm soát lúc bị siết lại, lúc lỏng lẻo để còn có cơ hội chuyển tải ý tưởng dân chủ tự do đến khối dân chúng, giúp cho họ hiểu vai trò của họ trong cuộc tranh đấu vì dân chủ, tự do và quyền thiêng liêng của con người. Huỳnh Ngọc Chênh đã có những chuyện kiếm hiệp tưởng tượng rất vui, nhưng dựa trên người thật việc thật ngay trong xã hội Việt Nam thời đại này.



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus