XEM NGƯỜI VIỆT TRÊN



CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»

« Trở về trang trước

Uwe Siemon-Netto: 'Tôi không hoan nghênh chiến thắng của cộng sản năm 1975!'
Friday, May 17, 2013 3:04:49 PM




 

Vũ Ánh

Ðọc lời lẽ này của Uwe Siemon-Netto, tôi tin rằng một số người trong cộng đồng người Việt Nam ở Little Saigon này sẽ rất hài lòng bởi tự ái được vuốt ve. Ngay bản thân, tôi cũng rất khoái nhận định này, bởi nó mang đầy tính chất “phe ta” và đúng lập trường mà tôi đã từng biểu lộ trong những phóng sự truyền thanh phải thực hiện suốt trong thời gian chiến tranh.

Hơn 7 năm làm phóng viên mặt trận với cách nhìn đầy lý tưởng và niềm hy vọng vào những người lính VNCH mà tôi từng sống bên cạnh họ trong lửa đạn, vai trò của tôi được giao là chuyển những thông điệp của người lính trận về hậu phương. Cho đến những ngày hấp hối của chế độ, tôi vẫn trung thành với niềm tin vào những người lính VNCH và chính mắt tôi đã nhìn thấy sự thúc thủ và tủi hổ của họ khi phải cởi bỏ cả quân phục, vất súng ống, giấy tờ xuống mương rãnh trên đường phố để thoát thân trong khi những đoàn xe tăng T-54 ào ào tiến vào Sài Gòn, tiếng xích sắt nghiến ken két xuống mặt đường Công Lý trước con mắt ngơ ngác và lo âu của người dân. Tôi cũng đã chứng kiến cái vẻ mặt buồn bã thấm đậm nỗi nhục của vị tổng thống cuối cùng, ông Dương Văn Minh, bị bắt và bị giải giao đến đài phát thanh Sài Gòn đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện để rồi cho đến nay, cứ mỗi dịp tưởng niệm 30 Tháng Tư, người ta lại mang ông ra hài cái tội đầu hàng chỉ vì nhiều nhà lãnh đạo tiền nhiệm bỏ lính bỏ quân tìm đường trốn chạy mà đầu óc họ thì vẫn cứ buộc Dương Văn Minh phải là một Thánh Gióng, vươn vai là có hàng triệu quân, súng đạn, thiết giáp để lật ngược thế cờ thay cho họ.

Tôi đã chứng kiến cuộc chiến Việt Nam từ đầu đến cuối, còn nhà báo Uwe Siemon-Netto chỉ chứng kiến và sống với nó có một nửa. Trong đầu tôi chứa cả những hình ảnh đẹp nhất và tồi tệ nhất về phía chúng tôi, VNCH. Còn Siemon-Netto thì trong cái bộ óc đầy chất văn chương của một người ngoại quốc chỉ chứa những hình ảnh đẹp về phe mà ông ủng hộ là VNCH còn Việt Cộng hay Mỹ đều là bất xứng hết. Ly nước đường tác giả pha cho chúng tôi ngọt lắm, nhưng ở đầu lưỡi có cái vị đắng.

Tác giả Uwe Siemon-Netto là ai mới được chứ? Tôi không biết ông nếu không được Bác Sĩ Phạm Gia Cổn gởi tặng tôi tác phẩm viết bằng tiếng Anh của Uwe Siemon-Netto nhan đề “Ðức, A Reporter's Love for A Wounded People” kèm theo bản dịch Việt ngữ của hai dịch giả Lý Văn Quý và Nguyễn Hiền nhan đề: “Ðức, Tình Yêu Của Một Phóng Viên Cho Một Dân Tộc Nhiều Ðau Thương.”

Phạm Gia Cổn là một trong những bác sĩ quân y trẻ tuổi thuộc một tiểu đoàn tác chiến thuộc Sư Ðoàn Nhảy Dù, người mà tôi rất ngưỡng mộ và quí mến từ thời chiến tranh cho đến hiện nay. Còn Ðức ở trong tác phẩm này thật ra là một người Ðức có cái tên hơi khó phát âm theo tiếng Anh, Uwe Siemon-Netto, đã có tất cả 5 năm sống tại Ðông Dương “trước hết với tư cách là phóng viên cho tập đoàn Axel Springer Group của hệ thống báo chí Ðức và sau đó là biên tập viên không thường trực của tờ Stern, một tạp chí có uy tín đóng trụ sở tại thành phố Hamburg.”

Ðúng như lời xác nhận trước của tác giả là ông không có tham vọng viết lại lịch sử cuộc chiến Việt Nam, “Tình Yêu Của Một Phóng Viên Cho Một Dân Tộc Nhiều Ðau Thương” chỉ là những câu chuyện tản mạn của một phóng viên người Ðức đã trải qua 5 năm trong đời sống thường nhật, sinh hoạt của giới phóng viên nước ngoài có mặt tại Việt Nam trong thời chiến tranh Việt Nam bắt đầu lan rộng và những hoạt động của ông tại mặt trận. Nói thẳng ra đây chỉ là một tập ký sự mà cấp độ thuyết phục của nó thấp hơn lịch sử rất nhiều. Ngay ở trong phần mở đầu, tác giả Uwe Siemon-Netto đã phải biểu lộ ngay lập trường là ông “không đứng về phe nào trong các xung đột nội bộ của những thành phần trong miền Nam Việt Nam phần nào vẫn còn tiếp diễn trong những cộng đồng lớn của lưu dân Việt Nam.” Ðiều này tôi có thể hiểu được và tôi còn có thể nhấn mạnh thêm là sự chia rẽ nội bộ đó rất nặng nề trong hàng ngũ lãnh đạo VNCH thời chiến và đã gây ảnh hưởng đến nỗ lực chiến tranh chống Cộng. Những chia rẽ nội bộ cộng đồng người Việt ngày nay ở Mỹ chỉ là hậu chấn mà họ mang sang đây từ quê nhà. Nhưng việc tác giả cuốn sách phải phân bua về cách nhìn của ông với cả hai nhà lãnh đạo trong số các nhà lãnh đạo nổi tiếng nhất VNCH như hai ông Thiệu-Kỳ khiến tôi ngạc nhiên, nhất là khi ông viết, “Số mạng của họ chẳng ai ham muốn cả, nhưng họ đáng được tôi trân trọng vì đã dám ra nhận lãnh những trách nhiệm nặng nề.”

Nếu tác giả Uwe Siemon-Netto viết những lời lẽ này vào trước ngày 30 Tháng Tư, 1975, chúng tôi sẽ vui lắm và chắc chắn tôi và nhiều đồng nghiệp của tôi sẽ vồ lấy cuốn sách để viết thành các đặc ký truyền thanh. Nhưng rất tiếc tác phẩm văn chương này của ông lại chỉ ra đời 38 năm sau cuộc chiến, và chúng tôi, những thanh niên học thuộc bài học trách nhiệm và danh dự của một công dân VNCH, đều bị đẩy vào các nhà tù cộng sản suốt cả tuổi thanh niên của mình. Cá nhân, tôi không ân hận gì quãng đời bị giam thân trong lao tù cộng sản dài đằng đẵng như vậy, bởi vì bố mẹ tôi đã dạy tôi rằng điều cần nhất trong cuộc sống là phải giữ tinh thần trách nhiệm trong bất cứ hoàn cảnh nào.

Thua thì phải nhận là thua, không cần “tại,” “bị.” Cũng vì thế mà tôi thường ra vào “chuồng cọp” trong các nhà tù cộng sản chỉ vì tôi không chịu gọi các đàn anh của tôi trong quân đội bằng “anh, bằng nó” như đám cán bộ trại giam muốn mà vẫn bằng cấp bậc họ mang trước đây trong quân đội VNCH. Thật ra mà nói, không thiếu những đàn anh của tôi không phải là cái gương tốt cho chúng tôi soi trong chốn lao tù, nhưng tôi vẫn trung thành với sự kính trên nhường dưới chỉ để chứng tỏ với kẻ thù rằng: “Chúng tao dù đã thất trận, dù đã bị lưu đày, nhưng chúng tao vẫn còn là một tập thể có kỷ luật chứ không phải là một đám tàn quân nhốn nháo, giậu đổ bìm leo như bọn bay tưởng.” Nhưng khi sang định cư ở Mỹ này rồi và sau khi lại mang thân vào cái nghiệp báo bổ, tôi thấy có nhiều điều phải suy nghĩ lại, bởi vì nếu tôi cứ giữ mãi sự kính trên nhường dưới, không phân biệt tốt xấu theo cách nhìn của mình thì chẳng hóa ra tôi đồng lõa với những hành động vi phạm vào bộ quân luật hay sao. Bộ luật này ngày nay không còn hiệu lực nữa, nhưng vẫn cón giá trị về tinh thần. Nói thẳng ngay ra là những quân nhân, cảnh sát, công chức bỏ đơn vị, bỏ nhiệm sở “di tản” trước 10 giờ ngày 30 Tháng Tư, 1975 cần phải nằm gai nếm mật để suy nghĩ xem hành động ra đi của họ có phù hợp với tín niệm Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm hay không?

Cho nên, khi đọc những dòng khẳng định của tác giả Uwe Semon-Netto: “Nhưng có một điều mà tôi muốn xác định rõ ràng là tôi không hoan nghênh chiến thắng của cộng sản năm 1975. Tôi không tin là họ xứng đáng để thành công.

Tôi đã từng mục kích những hành động tàn bạo ghê tởm mà họ đã thực hiện như là một chính sách chung, là nhân chứng cho những vụ giết người hàng loạt và thảm sát hàng loạt của cộng sản mà bên cạnh đó những vụ vi phạm qui luật chiến tranh của phe Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam rõ ràng không phải là một vấn đề chủ trương hay chiến lược...,” tôi vẫn cảm thấy không thích những lời lẽ của tác giả Uwe Siemon-Netto mà tôi cho rằng chỉ mang tính chất tuyên truyền xoa dịu tự ái của những người thất trận như chúng tôi. Tôi hiểu rằng trong cộng đồng mà tôi đang sống có một số người sẽ cảm thấy mình đã có câu trả lời cho một câu hỏi từ lâu đã được đặt ra: “Các ông đánh đấm ra trò như thế mà sao cái bọn xấu không xứng đáng ở miền Bắc cũng như miền Nam chúng nó lại làm các ông mất cái phần đất quí giá của hàng chục triệu người nhanh vậy?”

Theo tôi, lỗi để mất miền Nam Việt Nam không hoàn toàn do những người lính VNCH mà lỗi là những người lãnh đạo của chúng tôi kể cả Ðệ Nhất cũng như Ðệ Nhị Cộng Hòa. Khi được định cư ở Hoa Kỳ sau hơn 13 năm tù cải tạo và bốn năm vật lộn với một đời sống bị kỳ thị ở Việt Nam, tôi đã cố gắng vùi đầu vào đống tài liệu được chính phủ Hoa Kỳ giải mật, trong đó có toàn bộ tập tài liệu dày khoảng trên 3,400 trang chữ size 9 để hiểu tại sao những nhà lãnh đạo như Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu và ngay cả ủy ban đảo chánh do Tướng Dương Văn Mình cầm đầu lại lệ thuộc đến nỗi Mỹ bảo sao thì nghe vậy. Ngay khi đọc xong những tài liệu đã từng được coi là tối mật vào thời chiến tranh mà mãi đến năm 1970 mới lộ ra một phần, tôi cũng vẫn còn toát mồ hôi tự nhủ: “May quá, nếu tài liệu này được tiết lộ sớm hơn, làm sao những người làm truyền thông và tuyên truyền cho VNCH như chúng tôi ở giai đoạn đó đỡ nổi những đòn của đối phương?”

Mùa Hè năm 1965, tôi đã chứng kiến Sư Ðoàn 1 TQLC Hoa Kỳ đổ bộ vào bờ biển Non Nước, Ðà Nẵng. Một sự kiện trọng đại như vậy mà Thủ Tướng Phan Huy Quát không được Hoa Kỳ thông báo.

Năm đó là năm đầu tiên tôi hành nghề sau lớp huấn luyện, nhưng như mèo mù vớ cá rán, tôi đã khám phá ra một nơi cư trú rẻ tiền phù hợp với món công tác phí nhỏ nhoi của một phóng viên mặt trận, nhưng nó tiện lợi cho việc vừa làm vừa học, xin cấp phương tiện trực thăng của Bộ Binh Hoa Kỳ nhanh chóng hơn, quen biết nhiều đồng nghiệp Mỹ hơn cho nên tôi biết được tin TQLC Hoa Kỳ bắt đầu đổ bộ Ðà Nẵng là do những nguồn tin của họ. Ðó là Trung Tâm Quốc Gia Báo Chí Hoa Kỳ mới thiết lập bằng một nhà trại tiền chế sau Viện Bảo Tàng Chàm. Tôi nhắc lại sự kiện quân Mỹ đổ bộ Ðà Nẵng mà ông thủ tướng không được thông báo để cho độc giả thấy tính chất chế ngự của Washington đối với Sài Gòn lên tới mức nghiêm trọng như thế nào. Ðó là nguyên nhân chính dẫn đến việc khi bị Hoa Kỳ bỏ rơi, cắt viện trợ thì lập tức các nhà lãnh đạo VNCH bị trói tay chân ngay không thể cục cựa gì được. Nhưng cái điều đáng trách nhất là khi các ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Trần Thiện Khiêm, thấy đất nước nghiêng ngửa như thế lại thì lại từ chức rồi bỏ trốn ra nước ngoài.

Cứ nhìn vào hình ảnh cuộc tháo chạy tán loạn vào trưa ngày 29 Tháng Tư, 1975, ai cũng thấy đây là một vụ bại trận không danh dự chút nào. Nếu ông Nguyễn Văn Thiệu sau khi từ chức rồi về nhà riêng trong Dinh Ðộc Lập chờ để địch quân đến bắt làm tù binh hay đem bắn như trường hợp Sirik Matak ở Cambodia chắc chắn toàn quân, toàn chính phủ và toàn dân sẽ tôn họ như các vị thánh. Tôi tin là tác giả Uwe Siemon-Netto không chứng kiến được giờ phút hấp hối của chế độ VNCH như thế nào nên ông đã bênh vực những người thua trận như chúng tôi bằng những lời lẽ mà ông không chứng minh được. Trong một trận banh vô địch, bên thắng dù bị tới 3 thẻ đỏ, nhưng vẫn là bên thắng nên cho dù tác giả Uwe Siemon-Netto bảo rằng người cộng sản không xứng đáng để chiến thắng trong cuộc chiến Việt Nam thì họ cũng vẫn chiến thắng và đã quản lý cái đất nước nhiều đau thương ấy qua năm thứ 39 rồi. Và anh em cựu tù cải tạo chúng tôi đã phải nếm đủ mọi thứ ê chề, nhục nhã của kẻ bại trận nên đầu óc họ cũng rất thực tế.

Tôi không hiểu tác giả Uwe Siemond-Netto dùng tiêu chuẩn nào để phân biệt xứng đáng hay không xứng đáng chiến thắng, nhưng tôi vẫn cám ơn ông vì đã biện minh cho sự thua trận của chúng tôi. Nhưng phải nói thực với ông là tôi cảm thấy rất là “nhột” vì những lời an ủi kiểu này. Quân đội VNCH ngành chiến tranh chính trị còn có một quan niệm rèn luyện tinh thần cho các sĩ quan và binh lính như thế này: “Thắng không kiêu, bại không nản.” Vậy mà nay một nhà báo lại bày cho ra cho thấy hình ảnh người bị thua, bị “knock-out” trên võ đài rồi mà còn cố ngóc đầu dậy bảo địch thủ là không xứng đáng chiến thắng thì quả là lạ. Tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn nếu Uwe Siemon-Netto bảo chúng tôi: “Các ông thua thật rồi và hãy trọng danh dự bằng cách nếm cái mật gấu 30 Tháng Tư và ngủ trên đống gai như Việt Vương Câu Tiễn thuở xưa, tuy phải nếm phân cho vua Ngô nhưng hào quang phục hận của ông vua đó soi sáng cho muôn dân tận nước Việt khiến họ âm thầm chuẩn bị binh khí chờ ngày N, giờ G, khởi nghĩa thay vì mất thì giờ biện giải là địch quân xứng đáng hay không xứng đáng chiến thắng.”

Nội dung cuốn “Tình Yêu Của Một Phóng Viên Cho Một Dân Tộc Nhiều Ðau Thương” còn bao gồm nhiều vấn đề lý thú mà tác giả Uwe Siemon-Netto đưa ra chẳng hạn như chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân, các cuộc khủng bố giết người của cộng sản Tết Mậu Thân, vụ tàn sát thường dân của Trung Úy William Calley tại Mỹ Lai, Quảng Ngãi. Nhưng tôi cũng xin báo trước là cách nhìn của tôi có nhiều điểm khác tác giả Uwe Siemon-Netto vì nó sẽ dựa trên cái giá lớn lao mà tôi cũng như nhiều người khác phải trả do sự điều hành cuộc chiến rất tồi của những nhà lãnh đạo VNCH và sự phản bội trắng trợn đồng minh của Hoa Kỳ khi Tổng Thống Richard Nixon chuẩn bị rút chạy mà vẫn còn dán cái nhãn “rút quân trong danh dự.” Hãy cứ nhìn cuộc di tản hoảng loạn vào trưa 29 Tháng Tư, 1975 thì biết ngay là Hoa Kỳ rút quân trong danh dự hay tháo chạy tán loạn.

Cuộc chiến đã chấm dứt 38 năm và tôi đã làm đầy đủ bổn phận của một thanh niên thời chiến cũng như không ân hận gì về hậu quả với trên 13 năm tù và bốn năm phải mưu sinh trong cái xã hội vẫn còn đầy kỳ thị đối với người tù cải tạo như chúng tôi. Thoát được những khốn khó và thiếu tự do ở quê hương cũ nhờ chương trình nhân đạo mà người ta quen gọi là HO sang định cư ở đây, tôi không còn muốn kéo dài sự thù hận để được sống thoải mái vun quén cho gia đình tôi và nhất là để được viết lại những điều tôi thấy cần viết. Tôi cũng chẳng có tham vọng vương tướng gì hay muốn trở thành lãnh tụ chính trị chống Cộng hay hòa hợp hòa giải trong cộng đồng này. Cá nhân, món quà quí nhất người Mỹ dành cho chúng tôi là nền tự do báo chí mà tôi đang được hưởng và sau 20 năm sống ở Mỹ tôi vẫn còn sáng suốt để hiểu rằng không nên dại dột tự trói buộc mình vào những biện minh đại loại như “chúng tôi thua vì bị Mỹ phản bội” hay “kẻ thù chúng tôi không xứng đáng để thắng trận.” Lý do rất dễ hiểu, những loại biện minh như thế cho tôi rằng chỉ là để khỏa lấp cái trách nhiệm lớn lao trước lịch sử là đã để mất VNCH mà thôi. Khi đã thiếu trách nhiệm nhận những sai lầm của mình thì không sao có thể viết lại những trang sử vinh hạnh cho một vùng đất đã để mất vào tay cộng sản.



« Trở về trang trước

comments powered by Disqus