CÁC TIN KHÁC    »
ĐỌC NHIỀU NHẤT»
« Trở về trang trước

Sự từ bỏ tinh hoa Nho học và những hệ luỵ
Wednesday, August 14, 2013 11:34:25 AM




Ts.Lê Vinh Quốc 

Nho học với chữ Hán là một di sản của truyền thống văn hóa dân tộc. Việc loại bỏ hoàn toàn chữ Hán và những tinh hoa Nho học làm cho văn hóa dân tộc bị đứt gãy, dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực trong đời sống xã hội hiện đại. Việc bảo tồn di sản này là vấn đề rất quan trọng và cấp bách. 

Trong 2000 năm lịch sử có chữ viết của Việt Nam, chữ Hán (còn gọi là chữ Nho) đã được sử dụng suốt hơn 19 thế kỷ và đã trở thành chữ Hán-Việt (từ thế kỷ 13 có thêm chữ Nôm-một biến thể của chữ Hán), tạo nên nền học vấn của dân tộc ta được gọi là Nho học. 

Vì vậy, nguồn gốc và nền tảng văn hóa dân tộc, bao gồm tư tưởng- học thuật, đạo đức-lối sống, văn học-nghệ thuật, phong tục tập quán và các giá trị khác, đã gắn bó mật thiết với  Nho học và chữ Hán.

Một di sản bị từ bỏ

Dưới thời Pháp thuộc, Nho học (được gọi là cựu học) ngày càng suy đồi do những tín điều cổ hủ lạc hậu của nó không thích hợp với xã hội đương đại và lối học từ chương khoa cử của nó không giúp ích gì cho sự canh tân đất nước. Vì vậy, đến đầu thế kỷ XX Nho học được thay thế bằng nền học vấn mới (tân học) sử dụng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ có nguồn gốc Latin.


Hán văn tự học/tập II & IV- Nguyễn Văn Ba. Trí tri xuất bản 1940. Nguồn: sachxua.net

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã khẳng định nền độc lập dân tộc cùng với sự độc tôn của chữ quốc ngữ có nhiều ưu điểm hơn hẳn chữ Hán. Tuy nhiên, nếu như việc sử dụng chữ quốc ngữ đã giúp nước ta vươn lên, đạt được những thành tựu to lớn về văn hóa, giáo dục và các lĩnh vực khác, thì việc loại bỏ hoàn toàn chữ Hán lại dẫn tới những mất mát không nhỏ về bản sắc văn hóa mà dân tộc ta đã dày công vun đắp qua hàng nghìn năm. 

Trong xã hội hiện nay, các giá trị như “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”, “trung, hiếu, tiết, nghĩa”, “công, dung, ngôn, hạnh”…chỉ còn là những hình bóng mờ nhạt. Khi đã gạt bỏ những sự ràng buộc nghiệt ngã cổ hủ mang tính chất giáo điều của chúng khiến cho quyền tự do cá nhân bị xâm phạm và sự phát triển xã hội bị cản trở, thì có thể nhận thấy chính những giá trị này đã tạo nên phẩm chất cao đẹp về những người quân tử hay thục nữ của ông bà ta. Còn “cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công, vô tư”, “quang minh chính đại”…là những gía trị vĩnh cửu.

Sự lãng quên những giá trị đó sẽ làm cho đạo đức xã hội xuống cấp. “Thanh lịch” là một phẩm chất quý báu từ xưa của người Hà Nội, nhưng ngày nay chính quyền thành phố đang phải xây dựng các “tiêu chí” về “thanh lịch, văn minh” cho nhân dân thủ đô. 


Sách dạy chữ Hán. Nguồn: sachxua.net

Trong nhà trường, người ta phải nhớ lại lời Khổng Tử để nêu khẩu hiệu “Tiên học lễ- hậu học văn” hay “Lương sư-Hưng quốc”, nhưng khẩu hiệu có trở thành hiện thực hay không vẫn còn là một dấu hỏi. Việc dạy học cổ văn không dựa trên bản gốc Hán-Việt, mà chỉ dùng bản dịch sang chữ quốc ngữ khiến cho người học không thể cảm thụ đầy đủ giá trị các áng văn chương xuất chúng như “Nam Quốc Sơn Hà” ở thời nhà Lý, “ Dụ chư Tì tướng Hịch văn” của Trần Quốc Tuấn, “Bạch Đằng Giang phú” của Trương Hán Siêu, “Bình Ngô Đại cáo” của Nguyễn Trãi...

Khi không biết chữ Nho mà chỉ dùng từ Hán-Việt phiên âm bằng chữ quốc ngữ (chiếm hơn 70% vốn từ tiếng Việt), người ta phạm rất nhiều sai lầm về ngữ nghĩa trong các văn bản, làm giảm tính chính xác của Việt văn.

Tổ tiên ta đã để lại cho hậu thế một khối lượng thư tịch đồ sộ trong các kho lưu trữ của nhà nước, nhưng chỉ có một số ít ỏi các chuyên gia Hán-Nôm của ta và người Trung Quốc đọc được, còn đông đảo công chúng bao gồm cả giới trí thức Việt Nam không hề biết đến, hoặc chỉ ngóng chờ một vài bản dịch sang chữ quốc ngữ. Ở các đình chùa, đền miếu, lăng tẩm là di tích lịch sử của tổ tiên ta có rất nhiều những lời giáo huấn quý báu được ghi tạc trong các hoành phi câu đối hay bia đá, nhưng hầu hết người Việt ngày nay không biết ở đó viết gì, trong khi các du khách ngoại quốc từ Trung Hoa, Nhật Bản hay Hàn Quốc đến thì lại đọc hiểu dễ dàng nên cảm nhận đầy đủ những di sản đó!


Lăng Họ Ngọ (còn gọi là Linh Quang Từ), thuộc làng Thái Thọ (xã Thái Sơn, Hiệp Hòa, Bắc Giang.
Bốn mặt bia khắc chữ Hán nôm, nội dung bia tóm lược công đức của Ngọ tướng công với nước, với quê hương, thời gian xây dựng lăng 1697 và trùng tu lăng vào năm 1714. Nguồn: Giadinhnet

Ngày nay đã có những đình chùa dùng chữ quốc ngữ để viết hoành phi câu đối, bằng cách gò ép các chữ cái trong mỗi từ vào một ô vuông cho có vẻ giống chữ Nho! Để khôi phục phong tục các ông đồ viết câu đối trong dịp Tết, nhiều người đã lấy bút lông chấm mực nho để viết chữ quốc ngữ mà họ gọi đó là “thư pháp”! Những sản phẩm “tân cổ giao duyên” như vậy không thể coi là sự kế thừa nghiêm túc truyền thống văn hóa dân tộc, nhưng chúng cho thấy nỗi khao khát tìm về với cội nguồn của những người không được học chữ viết của tổ tiên mình. Rất may là trong hoàn cảnh đó, vẫn còn một số cụ đồ nho đã tái xuất để giữ lấy hồn dân tộc trong một nét văn hóa xưa. Nhưng điều đáng lo là số cụ này quá hiếm và đã quá già; vậy thì ai sẽ nối tiếp các cụ?


 Một số cụ đồ nho tái xuất để giữ lấy hồn dân tộc trong một nét văn hóa xưa. Hình minh hoạ. Nguồn: my.opera.com


Rõ ràng, việc loại bỏ hoàn toàn chữ Hán chính là sự từ bỏ một di sản quý báu để kế thừa và phát triển bản sắc văn hóa, dẫn tới sự đứt gãy về văn hóa của dân tộc. Vì thế, chính người Pháp khi còn cai trị nước ta cũng đã do dự về việc này. Một quan chức giáo dục ở Trung Kỳ là G. Dumoutier nói: “Nếu những đứa trẻ An Nam (…) mà không biết đọc và viết chữ Hán-Nôm thông dụng, thì chúng sẽ trở thành người ngoại quốc trên chính đất nước của chúng” (dẫn theo Mai Bá Triều-Phạm Thị Tuyết Anh). Toàn quyền Pasquier nói: “Sự hủy bỏ nền giáo dục Hán-Nôm đồng nghĩa với sự hủy bỏ về giáo huấn đạo lý” (dẫn theo Mai Bá Triều-Phạm Thị Tuyết Anh). Người đã ký văn bản chấm dứt hệ thống khoa cử Nho học là Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã phải trăn trở: “ Tôi đắn đo khi quyết định loại bỏ chữ Hán vì tôi sợ bị mang tội với lịch sử là kẻ hủy diệt văn hóa” (theo tư liệu của Đoàn Lê Giang). Khi ấy, nhà văn hóa Phạm Quỳnh đã phát biểu: “Nho học đã nhiều phần quá cũ rồi, không hợp thời nữa (…). Ta nên bỏ là bỏ phần hình thức phiền toái, còn phần cốt cách tinh túy phải giữ lấy, vì nước ta còn có mặt trên địa cầu là còn phải nhờ cái tinh thần cố hữu ấy mới sống được. Nhưng muốn giữ tinh thần ấy mà bỏ hẳn chữ Hán là biểu hiện của tinh thần ấy thì sao được!” (Phạm Quỳnh: Luận giải Văn học và Triết học).

Khôi phục việc dạy chữ Hán, được không?

Giờ đây, các nhà ngôn ngữ học đang phải tìm xem: ai đã bức tử chữ Hán-Nôm? Việc đó cũng cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải khắc phục sự đứt gãy về văn hóa để bảo tồn và phát triển di sản truyền thống của dân tộc.

Nhiều học giả ở Việt Nam cho rằng khôi phục việc dạy chữ Hán trong nhà trường là một phương pháp quan trọng để giữ gìn tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. 

Ở miền Bắc cho đến 1950 và ở miền Nam trước 1975 nhà trường vẫn dạy chữ Hán bằng những chương trình hợp lý và rất có hiệu quả. Các trường đại học cần tổ chức lại khoa Việt văn theo hướng nâng cao vai trò và chất lượng của bộ phận dạy Cổ văn (Hán-Nôm) cho tương xứng với bộ phận dạy văn Hiện đại (dùng chữ quốc ngữ). Sinh viên khoa này cần được học chữ Hán (có thể thay cho ngoại ngữ) đến trình độ đủ để dạy cho học sinh phổ thông. Khoa Lịch sử cũng cần học Hán-Nôm để sinh viên có thể đọc hiểu các thư tịch cổ.

Chương trình Việt văn của các trường phổ thông cần xây dựng lại, theo hướng loại bỏ bớt những học vấn trùng lặp, nhồi nhét nặng nề không cần thiết, để dành thời gian thích đáng cho việc học Cổ văn với chữ Hán làm gốc. Chương trình cần giúp học sinh tiếp cận được các văn bản gốc Hán-Nôm với những cú pháp căn bản và một số lượng từ nhất định. Có thể đó là một chương trình phân ban để có được một ban chuyên sâu về Cổ văn, tạo điều kiện cho học sinh nâng cao trình độ và tiếp tục học lên đại học theo chuyên ngành Hán-Nôm. Dĩ nhiên chương trình học này cần có những sách giáo khoa thích hợp và một bộ Từ điển Hán-Việt với chữ Hán đích thực được phiên âm và giải nghĩa bằng chữ quốc ngữ.

Khi việc dạy chữ Hán đã được khôi phục trong nhà trường, việc chọn lọc và truyền dẫn những di sản tinh hoa của dân tộc sẽ được tiến hành một cách có hiệu quả, để bồi đắp cho sự đứt gãy về văn hóa trong xã hội.


« Trở về trang trước

comments powered by Disqus