Mậu Thân và nỗi đau của Huế

Tạp ghi Huy Phương


 


Xin gọi trăng soi khe Ðá Mài
Thời gian rêu phủ mảnh đầu ai
Bãi Dâu đau xót hồn Gia Hội
Phú Thứ tóc vương trảng cát dài.
(Huế Oan Khiên- Huy Phương) 


Ðịnh mệnh sắp đặt cho tôi, đứa con của Huế phải trở lại quê hương trong những ngày đầu năm Mậu Thân để chịu tang với Huế. Sau 23 ngày, lúc tôi rời Huế, trời còn lạnh, sương mù buổi sáng chưa tan, còn như nghe chút rát trên mắt của những trận bom cay giải tỏa thành phố hay là nước mắt khóc cho những tang tóc của quê nhà. Ngày tôi đi, Huế chưa được hoàn toàn “giải phóng.” Dù tôi để nó ở trong ngoặc kép, đó là chữ chính xác nhất phải được dùng. Giải phóng là cởi ra, ai ai cũng vui mừng chứ không phải cột lại cho người ta than khóc, kiểu “một nửa nước vui, một nửa nước buồn.” Chuyện rất đơn giản: người dân chạy về phía nào thì phía đó chính là phe giải phóng. Chính vì Việt Cộng không hề thấy có ai chạy về phía mình, hay “tổng tấn công” mà chẳng thấy “nổi dậy,” nên phải trút tất cả hận thù lên đầu người dân hiền lương, vô tội. Chúng trả thù Huế! Ðó là đập đầu, xử tử hay chôn sống. Không có những nấm mồ cá nhân mà chỉ có những hố chôn tập thể. Nhanh, gọn và vì quá nhiều người phải chết.




Tôi còn trở lại Huế sau đó để chứng kiến cảnh đồng bào của tôi được mang lên mặt đất, với dây thép gai, dây điện thoại trói tay, với xương sọ bị vỡ, áo quần đã rữa nát, thi thể dính chùm với nhau, đã bốc mùi. Tôi phải chứng kiến những tiếng kêu la, gào thét tuyệt vọng của những người mất chồng, mất cha, mất con, mất anh em, mất họ hàng. Cả thành phố quấn khăn tang, cả thành phố đầy mùi hương trầm, cả thành phố sau 28 ngày được sống dậy nhưng trên nỗi chết! Từ những nấm mồ tập thể, giờ đây là những đám tang tập thể, “những con đường trắng” với áo mũ mấn khăn sô.


Nỗi đau của Huế trước nhất là những khuôn mặt dương dương của những đứa con, mang danh Huế đã đem oan nghiệt đến cho hàng nghìn dân Huế, bây giờ mỗi năm còn ngồi ca tụng nhau, kể chuyện chiến công giết người như anh em nhà Hoàng Phủ (Tường-Phan), như nhà “huyết học” Nguyễn Ðắc Xuân, như Tôn Thất Dương Tiềm, như gia đình Nguyễn Ðóa-Ðoan Trinh. Những tên lính cầm súng dài đã khuất dạng hay nhờ chiến công xương máu lên cầm quyền, bọn súng ngắn băng đỏ, mang chút chữ nghĩa văn chương, trí thức, ngày nay đã thất thời, còn ngồi ôm lấy huyền thoại “giải phóng,” “tiến bộ,” “sinh viên tranh đấu,” nhởn nhơ nhe răng cười cợt trên những oan khuất, xót xa của Huế. Dù đã 44 năm qua, chiến tích máu đã khô sẫm thời gian, được tô vẽ lại dưới danh xưng “hào khí Mậu Thân” và những “băng đỏ” còn mang mặc cảm công thần, bám víu vào và nghĩ đến những huyền thoại vàng son, nhưng thực tế chỉ là những quan viên lơ láo, đã bị xếp xó vì bọn có quyền lực trong tay chẳng coi ra gì. Những đoạn phim ngắn, những bài viết, những câu thơ kể công trạng, nêu thành tích vào Huế năm xưa như xé nát thêm nỗi đau của những gia đình đã là nạn nhân của Mậu Thân, những người mà chúng vẫn nhận là bà con, bạn bè, đồng hương, dòng họ.


Nỗi đau của Huế còn vì những người không dám nói sự thật. Tư lệnh Mặt Trận Huế, Trần Văn Quang có thể thi hành và nói theo ý đảng, nhưng những người có chữ nghĩa như Hoàng Phủ Ngọc Tường, và Bùi Tín vì sao lại có thể “hàm huyết,” sợ sự thật đến độ cho rằng hằng nghìn người bị thảm sát chôn trong những hầm tập thể là “có nợ máu,” nói như Hoàng Phủ Ngọc Tường, do quần chúng nổi dậy vì căm phẫn giết chết, hay như Bùi Tín, là do bom đạn, phi pháo vùi dập trong đó có cả thường dân, tù binh lẫn cán binh Việt Cộng. Ðây là những người dối trá, luôn luôn sợ hãi sự thật, nhưng sự thật sẽ luôn luôn ám ảnh họ suốt đời. Chỉ cần công nhận sự thật được một lần trước công luận để lương tâm được thanh thản. Ðây là lúc không cần nói dối vì một bát cơm hay vì dao găm kề bên hông. “Con chim sắp chết cất tiếng hót bi ai, người sắp chết nói lời nói phải!” Hy vọng đến tuổi già, những người này biết nói một lời hối lỗi.


Chúng dối trá vì trong hơn mười hầm chôn được khai quật sau Tết Mậu Thân dưới sự quan sát của báo chí truyền hình trong và ngoài nước không hề có được một chiếc dép râu, nửa cái nón cối hay một vuông khăn dù! Và phải chăng những người bị Việt Cộng kết án phải chết vì mang nợ máu là những giáo sư ngoại quốc đến khai hóa cho Huế, những linh mục, những y tá, những giáo sư trung học, những nam nữ sinh viên, những người lính đi phép không có một tấc sắt trong tay. Cả đến một ông chủ quán bún bò hay một thiếu nữ chạy theo cha già bị bắt, một đứa trẻ phụ việc cho linh mục cũng được xem là “kẻ thù của cách mạng!” cần phải giết. Coi nhân dân là kẻ thù rồi, mi sống với ai?


Nỗi đau của Huế còn rơi rớt ngày hôm nay, tại hải ngoại, do những hành động vô ý thức của một vài cá nhân người Huế, đã vì sợ hãi hay tâng công, háo danh hay muốn nhờ vả chút quyền lợi trong nước, đã tiếp đón đãi đằng những tên mang món nợ máu với Huế ra hải ngoại. Những tên mang danh trí thức, nhà văn này có ảo tưởng như thế là tiến bộ, hòa giải nhưng sự thật là đã xát muối vào vết thương của bà con, đồng bào Huế đã gánh chịu nổi tang tóc Mậu Thân vì chúng là khuôn mặt đại diện cho tội ác.


Nỗi đau của Huế còn ở lỗi chúng ta, những con dân của xứ Huế ở hải ngoại, những tấm lòng đôn hậu thật thà, nhưng nông cạn, chóng quên như trẻ thơ. Chúng ta tụ tập với nhau vui chơi ngày Tết gọi là nhớ Huế, nhưng quên mất Mậu Thân. Ðối với tôi, tiếng “Tết” hay tiếng “Huế” luôn luôn gắn liền với hai tiếng “Mậu Thân” dù thời gian đã lâu, 44 năm, hơn cả một nửa đời người. Dù Huế có giồi phấn tô son, vẽ vời đến đâu, dù Huế có giăng đèn kết hoa, hội hè đình đám gì nữa, thì linh hồn oan khuất của 6,000 người dân Huế bị thảm sát vẫn như còn lẩn khuất đâu đây, chưa hề siêu thoát.


Ðối với thành phố Huế, đầu Tháng Giêng là những ngày giỗ lớn, một đại tang chưa có ngày xả tang. Bây giờ tôi là đứa con lưu lạc xa xứ, mỗi năm ngày Tết về chạnh lòng thương nhớ quê hương, mỗi lần nghĩ đến Mậu Thân, lòng ai không khỏi xót xa, đau đớn. Tôi chỉ là một người dân Huế, tấm lòng thành, vài dòng chữ viết – nói như Nhã Ca – chút nhang đèn góp giỗ.


(Nhâm Thìn 2012)


 


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Ăn

Tục ngữ nước ta có câu: “Có thực mới vực được đạo,” ngụ ý Ăn là phần cốt lõi của sự sống, không chỉ áp dụng cho loài người mà chung cho muôn loài sinh vật...

‘Trước sau như… một!’

Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.

Hiểu và Thương

Giữa rất nhiều điều nghe được và giữ được từ các bài giảng pháp của Thiền Sư Nhất Hạnh, tôi chỉ tâm đắc một điều: phải HIỂU để mà THƯƠNG. Nghĩ thêm ra, đã thương thì sẽ hiểu để chấp nhận.

Bước khởi đầu trên đất mới

Miền Nam bị Cộng Sản cai trị đã 43 năm. Người cựu tù nhân chính trị được cứu vớt theo diện nhân đạo của chính phủ Hoa Kỳ đến Mỹ, người đến sớm nhất tính cũng đã hai mươi tám năm.

Mẹ đi lấy chồng

Nếu con cái không bao giờ là đủ cho một bà mẹ thì đấy chính là nỗi khốn cùng đáng thương nhất của cả hai phía, là thất bại chua chát nhất của Thượng Ðế...

Nghề nghiệp buổi giao thời

Chỉ vài ngày sau khi Việt Cộng vào Sài Gòn, đầu xóm nhà tôi trong cư xá Quân Đội, thiên hạ đã nghe tiếng trống lục bục của ông Tàu thợ nhuộm.

Nhận diện

Hai chữ “Chống Cộng” gợi ra những hình ảnh và gây tác động ở nhiều mức độ khác nhau trong lòng người Việt Nam sinh trưởng ở nhiều địa danh trên đất nước và vào nhiều thời điểm lịch sử khác nhau.

‘Thống Nhất’ và nỗi đau ly tán của dân tộc

Cảnh sum họp của những người con có cha tập kết ra Bắc trở về Nam sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, tưởng chừng vui tươi cảm động đầy nước mắt trong một màn tái ngộ, đã trở thành một cảnh ngỡ ngàng xót xa.

Tưởng niệm 30 Tháng Tư 1975

Hằng năm, đến Tháng Tư, cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản định cư ở khắp nơi trên thế giới đều cảm thấy đau buồn.

30 Tháng Tư ‘cho ta sáng mắt, sáng lòng’

Từ sau ngày Hiệp Định Geneve năm 1954, cả hai phe Quốc-Cộng đều tranh thủ nhân tâm đồng bào, lấy thông tin tuyên truyền làm vũ khí để tố cáo tội ác và nêu lên sự đau khổ lầm than của đồng bào bên kia giới tuyến.