Quê hương dã quỳ và thơ Kim Tuấn

Du Tử Lê/Người Việt

Nhà thơ Kim Tuấn. (Hình: TP)

Tôi không biết điều gì, khiến nhiều ngày qua, màu vàng rực rỡ của dã quỳ đã dắt tay tôi trở lại Pleiku? Thành phố tôi không được sinh ra, và cũng không phải là nơi tôi trải qua phần lớn tuổi trưởng thành của mình.

Nhưng đó lại là thành phố gìn giữ cho tôi nhiều kỷ niệm nhất, thời thanh-niên-chiến-tranh. Và, hiện là nơi người bạn trẻ Huỳnh Quang Vũ của tôi cư ngụ.

Pleiku trong tôi, thời gian đó, giống như một thứ quê hương của dã quỳ. Những sườn đồi dã quỳ, đã xâm chiếm, chế ngự, làm tê liệt tâm hồn tôi, ngay tự gặp gỡ thứ nhất.

Tôi nhớ, mùa Thu cuối thập niên 1960, tôi tình nguyện chọn Pleiku cho một công tác kéo dài 10 ngày. Mục đích chính của tôi là muốn được gặp bạn: Kim Tuấn, tác giả của những bài thơ sớm trở thành niềm thân thiết của biết bao nhiêu ngàn thính giả ở miền Nam thời đó. Như “Những Bước Chân Âm Thầm” hay, “Anh Cho Em Mùa Xuân.” Cả hai bài thơ sớm trở thành ca khúc này, đều thấp thoáng chân dung quê hương dã quỳ. Với: “Anh cho em mùa xuân/ nụ hoa vàng mới nở/ chiều đông nào nhung nhớ/ Đường lao xao lá đầy/ chân bước mòn vỉa phố/ mắt buồn vin ngọn cây…” (1)

Tôi biết, có người đã đổi chữ ba “nụ hoa vàng” thành “nụ hoa quỳ,” khi được hỏi, bạn tôi chẳng những không phật lòng mà còn xác nhận: “Đúng! Dùng hai chữ ‘hoa quỳ’ mới đúng ý. Nhưng khi viết bài thơ đó tôi chỉ chọn màu vàng tiêu biểu mà không dùng chữ ‘hoa quỳ,’ vì sợ nhiều người không biết ‘hoa quỳ,’ một thứ hoa dại là hoa gì nên, có thể họ càng không biết tới màu vàng vương giả của nó.”

Cũng vậy, khi viết bài thơ sau này trở thành ca khúc “Những Bước Chân Âm Thầm,” nhạc của Y Vân, nhà thơ Kim Tuấn đã ghi lại nét tiêu biểu của Pleiku thời ông theo gia đình về Pleiku lập nghiệp.

Thuở ấy, Pleiku được những rừng thông bạt ngàn bao bọc. Ngay trong thành phố, thông rừng cũng chen chân, kề vai, chia sẻ cái hoang sơ của Pleiku, mà sớm mai là sương mù; nắng lên là cả một bầu trời mây trắng, như tuyết rải trên ngọn, đỉnh những rặng thông không ai biết tuổi…

Vì thế, ngay ở khổ thơ mở đầu bài thơ, ông đã viết: “Từng bước từng bước thầm/ Hoa vòng rừng tuyết trắng/ Rặng thông già lặng câm/ Em yêu vì xa vắng?/ Cho trời mây ướp buồn.”

Và mưa cùng với cái rét gần như quanh năm của núi, rừng, nên, thi sĩ họ Vĩnh gốc hoàng tộc (2), mới lặp lại những bước chân không âm vang (thi-nhãn của bài thơ) và thời tiết “căm căm cô đơn, lạnh tanh kỷ niệm” như một thứ “đặc sản” của quê hương dã quỳ này: “Từng bước từng bước thầm/ Mưa giữa mùa tháng năm/ Tay đan sầu kỷ niệm/ Gió rét về lạnh căm/ Từng bước chân âm thầm…” (3)

Đã hơn bốn mươi năm kể từ ngày nhà thơ của chúng ta rời xa dã quỳ, xa rừng thông về định cư Sài Gòn. Cũng đã mười lăm năm kể từ ngày vĩnh viễn chia tay nhân thế, chưa một lần trở lại Pleiku, tôi không biết, ông có hay rằng những “nụ hoa vàng mới nở” và, những “rặng thông già lặng câm” linh hồn của thơ ông, trở thành thân thiết biết bao với người yêu thơ (trong đó, có tôi), bây giờ đã phải nhường chỗ cho những tòa building lộng lẫy; những con đường thênh thang, rộng như những đoạn xa lộ ngắn…

Thủ bút của nhà thơ Kim Tuấn. (Hình: TP)

May mắn hơn ông, tôi đã có dịp đưa HT trở lại nơi những bước chân đầu tiên in đậm đời cô giáo khi T. rời mái trường Đại Học Sư Phạm Huế.

May mắn (bất hạnh?) cho tôi, mỗi lần có dịp trở về nơi tôi gọi là “quê hương dã quỳ,” là một lần tôi thấy rất rõ, những “rặng thông già” chẳng những không còn cơ hội “lặng câm” mà đã biến mất. Chúng chỉ còn hiện diện như một thứ cây cảnh, điểm xuyết cho cái không gian Pleiku mở rộng không giới hạn. Và, những vai đồi dành riêng cho “nụ hoa vàng mới nở” của bạn tôi, cũng chỉ còn có mặt một cách khiêm tốn, nếu không muốn nói là ngơ ngác giữa một đất trời đã hoàn toàn đổi khác.

Tôi không nhớ bao lần, nhất là những đêm gần đây, tôi nằm mơ thấy đưa HT trở lại với những người học trò ngày nào của T.

Cũng như T., những người học trò năm xưa, đã bắt đầu bước xuống sườn đồi bên kia của tuổi tác. Nhưng khi chứng kiến cảnh cô/ trò ríu rít bên nhau, trong sáng tinh khôi, tình cảm vàng ròng, như những ngày mới lớn, tôi lại cảm động như mỗi lần đọc truyền thuyết dã quỳ, chuyện tình H’Linh và K’Lang vậy. Với tôi, những hình ảnh ấy, đẹp tới nỗi, tôi đã ao ước đến nao lòng rằng: Mỗi năm, đưa T. về Pleiku ít nhất một lần, với những cựu học sinh tình nghĩa, thủy chung của T., như sự tích dã quỳ…

Tôi không nhớ gặp Huỳnh Quang Vũ trong trường hợp nào. Chỉ biết tình cảm chúng tôi dành cho nhau, chí ít cũng đã trên năm năm, khi Đoàn Thạch Hãn còn sống.

Với tôi, đó là một người trẻ tuổi đặc biệt. Với dáng dấp của một con cò ma, nhưng khả năng làm việc thì lại thuộc loại ngoại lệ. Và, nhất là tinh thần trân trọng, biết ơn tài năng, trí tuệ của những người hiến thân cho văn học nghệ thuật. Trong số này có Kim Tuấn, thi sĩ. Ở mặt khác, những lúc tìm được cơ hội để sống cho riêng mình, thì, khi ấy, Vũ lại là một thiền sinh lạc lõng giữa chập chùng cay nghiệt đời thường.

Với tâm nguyện chia sẻ tận cùng mọi có được cho những người kém may mắn hơn mình, Huỳnh Quang Vũ đã dựng được một “cơ nghiệp,” là quán café mang tên KupPlei, ở địa chỉ 38 Hùng Vương, Pleiku, Gia Lai, đã khai trương đúng ngày Mother’s Day, 13 Tháng Năm, 2018.

Tôi nghĩ, không phải vô tình Vũ chọn “Ngày Của Mẹ” để cùng bạn hữu như Đặng Thế Hiển, Võ Anh Tần… khai trương “trú sở” của những tình thân, những trái tim Đạo, Đời; nhất là sự tìm đến của các văn nghệ sĩ, cũng ở rất xa như các thầy, đệ tử của Thiền Sư Nhất Hạnh. Và các nhà văn tên tuổi như Phạm Xuân Nguyên, Trương Duy Nhất, Lê Hải…

Tôi càng không tin khi Vũ cùng các bạn chọn cho “trú sở” tình thân của họ, hai chữ “Kup” và “Plei,” ghép lại thành KupPlei là tình cờ. Theo tôi, đó là cách nói khác, rất sáng tạo, rất thơ của Huỳnh Quang Vũ. Nó là dạng cải biên của hai chữ “Cup/ Cốc (Ly) và, “Pleiku” (nguyên chữ). Như cách tìm kiếm chữ mới của Kim Tuấn trước đây vậy.

Hơn thế, nếu chúng ta có thể hình dung: Mỗi khi nâng một ly cà phê hay thức uống nào khác, ở KupPlei thì cũng đồng nghĩa, với việc, cùng lúc, chúng ta đã uống một ly nước đất trời Pleiku từ hàng trăm năm trước.

Thêm nữa, với sự có mặt hôm nay của KupPlei của Huỳnh Quang Vũ, tôi nghĩ, hiểu theo một nghĩa nào thì, chúng ta cũng vẫn còn “nụ hoa vàng,” vẫn còn “rặng thông già” của Kim Tuấn, luôn cả tình yêu, lòng thủy chung vằng vặc, sáng của truyền thuyết mối tình nàng H’Linh và K’Lang.

Tôi tin, một ngày không xa, tôi sẽ lại đưa HT trở về nơi những bước chân đầu tiên của T., khi rời khỏi ngôi trường thân yêu ở Huế, để đến với những người học trò một thời của T.. Và, tôi thì lại được gặp người bạn trẻ Huỳnh Quang Vũ thân thiết của mình, như ngày nào tôi được gặp nhà thơ Kim Tuấn vậy. (Du Tử Lê)

————–

Chú thích:

(1) Thơ Kim Tuấn, Nguyễn Hiền phổ nhạc.

(2) Kim Tuấn tên thật là Vĩnh Khuê, sinh năm 1938 tại Huế, Ông là hậu duệ năm đời của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Thuở nhỏ sống ở Phan Thiết, rồi Sài Gòn, Pleiku, năm 20 tuổi ông cưới người vợ đầu là Hồ Thị Mộng Sương (em ruột nhà thơ Hồ Đình Phương). Sau 1975 hai người chia tay. Mộng Sương qua Pháp. Rời Pleiku về Sài Gòn năm 1977, Kim Tuấn cưới người vợ thứ nhì là chị Minh Phương. Họ có hai người con trai. Kim Tuấn mất ngày 11 Tháng Chín, 2003, tại Sài Gòn. (Theo Wikipedia – Mở).

(3) Thơ Kim Tuấn, nhạc Y Vân.

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Những hình thái chiêm bao trong thơ Bùi Giáng?

Thiên nhiên trong thế giới thi ca Bùi Giáng là một thứ thiên nhiên được vẽ ra bởi lý trí và tiềm thức ấu thơ, làm bật nổi những khát vọng

Thanh Nam, giấc ngủ cô đơn

Nhà văn Thanh Nam tên khai sinh Trần Đại Việt, sinh năm 1931 tại Nam Định, Bắc Việt Nam, mất năm 1985 tại Seattle, Hoa Kỳ, vì bệnh ung thư.

Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh.

‘Ánh Trăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp – bài thơ như bút ký đời người

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới.

Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?

Bùi Giáng là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Tuy vậy, tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.

Nhân một cái phân ưu

Tháng Giêng, 2019, cũng khoảng tháng này nhà thơ Nguyễn Bính qua đời ngay nơi quê quán Nam Định của ông, nhưng vào năm 1965.

Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Đoàn hát Hậu Tấn ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh.

Thơ Trần Vấn Lệ – Ôi Sao Thơ Buồn Vậy

Có bóng bởi có hình...Có hình nên có bóng.../ Anh nhớ em, bất động...sao trời rớt thành sương!/ Em ơi, anh dễ thương...làm thơ như vậy đó...

Mỹ như Tôi

Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

Thơ Hoa Nguyên – Cho hết thời lãng mạn

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn/ Vẽ chân dung mình lên những củ khoai/ Ta lãng mạn cho hết đời bỉ vận/ Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài