FBI săn bắt gián điệp ngoại quốc trong đại học Mỹ

 

Lê Tâm (theo Bloomberg)

 

Viện trưởng đại học Michigan State University Lou Anna K. Simon liên lạc với CIA vào cuối năm 2009 với một câu hỏi khẩn cấp.

Chi nhánh của trường ở Dubai đang cần tiền để có thể tiếp tục hoạt động và tự nhiên có một vị ân nhân lạ mặt bất ngờ xuất hiện: một công ty ở Dubai sẵn sàng cho tiền và còn giúp đưa sinh viên đến học.

Bà Simon thoạt đầu rất lấy làm phấn khởi về đề nghị trên. Nhưng tìm hiểu thêm, bà biết công ty có thành phần đầu tư ở Iran và cũng dự trù thu hút sinh viên ở quốc gia này. Bà lo ngại đây có thể là một bình phong của chính quyền Iran. Và nếu như vậy, một thỏa thuận với công ty có thể vi phạm luật cấm vận của chính phủ liên bang Mỹ và mở cửa cho gián điệp ngoại quốc vào nhà.

Cơ quan CIA không thể xác nhận rằng công ty kia có phải là cánh tay nối dài của chính quyền Iran hay không. Sau cùng, bà Simon quyết định từ chối đề nghị trợ giúp và đóng cửa chương trình học cấp cử nhân ở Dubai, chịu lỗ số tiền $3.7 triệu.

Như đang trở lại những nghi ngại của thời Chiến Tranh Lạnh, tình trạng ngày càng có nhiều chỉ dấu cho thấy có gián điệp trong các đại học Mỹ đang làm cho giới chức an ninh quốc gia lo lắng. Do các trường đại học ngày càng có tính cách toàn cầu hơn về địa điểm và thành phần sinh viên, truyền thống sinh hoạt cởi mở và cộng tác quốc tế đã khiến các trường ngày càng dễ thành nạn nhân của các cuộc đánh cắp công trình nghiên cứu thực hiện cho chính phủ cũng như kỹ nghệ Mỹ.

“Chúng tôi có tin tức tình báo và cả những trường hợp cho thấy các đại học Mỹ trở thành mục tiêu xâm nhập của các cơ quan tình báo ngoại quốc.” theo lời Frank Figliuzzi, phụ tá giám đốc Cơ Quan Ðiều Tra Liên Bang (FBI) đặc trách phản gián, cho hay trong cuộc phỏng vấn tại Washington hồi Tháng Hai năm nay.

Tuy không nhiều bằng các vụ gián điệp đánh cắp tài liệu kỹ nghệ, nỗ lực xâm nhập của các cơ quan tình báo ngoại quốc vào đại học Mỹ đã tăng cao trong năm năm qua, theo ông Figliuzzi. Cơ quan FBI và giới chức đại học, vẫn thường đối đầu và nghi kỵ nhau, nay cùng hợp tác để đối phó với mối đe dọa này.

Nỗ lực của các quốc gia vùng Ðông Á, kể cả Trung Quốc, để có được tài liệu mật hay các dữ kiện cần giữ kín, qua cách thức yêu cầu được xem các công trình nghiên cứu đại học hay xin vào học với một giáo sư nào đó, đã tăng gấp tám lần trong năm 2010 so với một năm trước, theo bản báo cáo của Bộ Quốc Phòng Mỹ năm 2011. Ðặc biệt, các yêu cầu loại này từ vùng Trung Ðông đã tăng gấp đôi.

“Ðưa các học giả vào các trung tâm nghiên cứu Mỹ dưới dạng nghiên cứu cho họ nhiều cơ hội thu thập tin tức,” trong các lãnh vực như tin học, laser, không gian và người máy sử dụng dưới nước, theo bản báo cáo.

Việc chào đón các tài năng hàng đầu thế giới vào đại học Mỹ giúp nước Mỹ giữ được thế bá chủ về khoa học và kỹ thuật, theo lời chủ tịch đại học University of Maryland, ông Wallace Loh. Ông cũng là trưởng ban cố vấn cho Bộ Nội An Mỹ về các vấn đề liên quan đến đại học, vốn dự trù sẽ thảo luận các vấn đề như theo dõi sinh viên quốc tế.

Các quốc gia khác “không thể nào có khả năng cạnh tranh chỉ bằng cách đi đánh cắp,” ông nói. “Một khi người ta sử dụng hết kỹ thuật nào đó, thì lại phải khởi sự phát triển một thế hệ kỹ thuật mới.”

Người ngoại quốc đến Mỹ bằng chiếu khán tạm thời đã chiếm 46% trong số sinh viên tốt nghiệp cao học ngành khoa học và kỹ thuật ở Ðại Học Georgia Institute of Technology và Michigan State cũng như 41% ở học viện kỹ thuật lừng danh Massachusetts Institute of Technology năm 2009, theo kết quả một cuộc nghiên cứu của chính phủ Mỹ. Trung Quốc gửi 76,830 sinh viên bậc trên cử nhân vào các đại học Mỹ trong niên khóa 2010-2011, nhiều hơn bất cứ quốc gia nào khác và tăng khoảng 16% so với một năm trước đó.

Tuy đa số các sinh viên ngoại quốc, các nhà nghiên cứu và các giáo sư đến Mỹ vì các lý do chính đáng, các trường đại học Mỹ là nơi “lý tưởng” để các cơ quan tình báo ngoại quốc “tuyển người, đánh cắp tài liệu nghiên cứu hay đưa các nhân viên vào nằm vùng,” theo bản báo cáo năm 2011 của FBI.

Trong một trường hợp được kể lại trong bản báo cáo, ban tổ chức một cuộc họp quốc tế mời một nhà nghiên cứu Mỹ đến để trình bày một đề tài. Khi bà phát biểu ở cuộc họp, họ xin một bản sao, gắn một “thumb drive” vào máy điện toán xách tay của bà và lấy xuống hết tất cả những hồ sơ bà có trong máy. Trong một vụ khác, một sinh viên bậc cao học Á Châu đưa các nhà nghiên cứu ở quốc gia mình vào thăm phòng thí nghiệm của một đại học Mỹ, nơi họ chụp hình không xin phép các máy móc dụng cụ nơi đây để có thể thiết lập một phòng thí nghiệm tương tự trong nước.

Và mối liên hệ giữa các khoa học gia ngoại quốc với quân đội quốc gia họ cũng không phải là điều dễ nhận ra. Mấy năm trước đây, Giáo Sư Daniel J. Scheeres không ngần ngại chấp thuận một yêu cầu của Yu Xiaohong để được học và nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của ông tại đại học University of Michigan. Lúc đầu nữ khoa học gia này chỉ cho hay một cách chung chung là muốn học với Giáo Sư Scheeres vì các nghiên cứu của ông về các vật thể không gian.

Người này cho biết có sinh hoạt trong Hàn Lâm Viện Khoa Học Trung Quốc, một cơ quan dân sự, theo Giáo Sư Scheeres. Tuy nhiên, địa chỉ ở Bắc Kinh mà nữ nghiên cứu gia Yu đưa ra cho Ðại Học Michigan lại là một học viện nơi huấn luyện các sinh viên sĩ quan và sĩ quan Trung Quốc. Giáo Sư Scheeres cũng cho hay ông không hề biết mối liên hệ của bà Yu với quân đội Trung Quốc cũng như việc bà viết về đề tài cải thiện khả năng chính xác của võ khí chống vệ tinh vào năm 2004.

Sau khi đến trường, bà Yu bắt đầu hỏi các câu hỏi làm Giáo Sư Scheeres cảm thấy không thoải mái trả lời, và vì lý do đó, ông nay chấm dứt việc nhận các học giả từ Trung Quốc.

“Tôi thấy rõ ràng là những điều bà ta chú ý đều có thể sử dụng vào vệ tinh quân sự,” Giáo Sư Scheeres cho hay. “Một khi tôi thấy điều này, tôi không nói với bà ta điều gì mới và không thảo luận cặn kẽ điều gì nữa.”

Các đại học Mỹ cũng từng huấn luyện các nhà nghiên cứu Trung Quốc nhưng rồi sau đó họ có hành vi gián điệp kỹ nghệ. Hanjuan Jin, một cựu kỹ sư nhu liệu ở Motorola Inc, bị kết án hồi Tháng Hai tại một tòa án liên bang Mỹ về tội đánh cắp các bí mật kỹ nghệ của công ty này, nhưng được tha bổng tội làm gián điệp cho quân đội Trung Quốc.

David Major, cựu nhân viên FBI, chủ tịch Trung Tâm Nghiên Cứu Phản Gián và An Ninh, có trụ sở đặt tại Falls Church, tiểu bang Virginia, cho hay Trung Quốc “có rất nhiều sinh viên, hoặc bị ép buộc hoặc tình nguyện, thu thập tin tức cho nhà nước.”

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có hơn 3,000 công ty bình phong ở Mỹ “chỉ có mục đích duy nhất là đánh cắp kỹ thuật của chúng ta,” theo cựu nhân viên CIA, ông S. Eugene Poteat, chủ tịch Hiệp Hội Các Cựu Nhân Viên Tình Báo ở McLean, Virginia.

Các đại học ở Mỹ và Canada thu về khoảng $2.5 tỉ năm 2011 là tiền cho sử dụng các bằng sáng chế của mình, so với con số $222 triệu năm 1991, theo tài liệu của Hiệp Hội Các Nhà Quản Trị Kỹ Thuật Ðại Học ở Deerfield, tiểu bang Illinois.

Các trường đại học “có thể không biết rõ là họ đang cung cấp các dữ kiện về bằng sáng chế của họ cho ai,” theo lời ông Figliuzzi. “Các công ty này có thể là bình phong của một cường quốc, và thường là như vậy. Chúng tôi chia sẻ một số tin tức với một số vị chủ tịch trường đại học và giúp họ nhận ra một số điều.”

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT