Phương Ngạn/Người Việt
QUẢNG NAM –Nói đến nghề thợ tre, có lẽ người cao niên sẽ hình dung những mái nhà tranh với phên liếp đất bùn, với khói bếp phất phơ chiều và những tháng ngày cơ cực nhưng lại ấm áp tình người, tình quê.
Một thợ tre tên Lựu đang chuẩn bị lợp nhà, có lẽ anh Lựu là thợ tre trẻ nhất trong làng nghề hiện nay. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)
Cùng số phận với những mái nhà tranh, người thợ tre sắp đi vào quá vãng, mỗi câu chuyện của họ giống như một tiếng thở dài của ký ức…
Ông Ba Ðáng, năm nay 79 tuổi, hiện sống tại Ðiện Bàn, Quảng Nam, thời trẻ nổi tiếng là thợ tre giỏi, khi về già chép miệng tiếc nuối: “Dường như cái thời ấy qua mất rồi, Cái thời con người sống đầy tình nghĩa, tuy nghèo mà sang trọng…”
“Nói nghèo mà sang trọng vì thời đó con người sống nhiệt tình, giàu nhân ái và lòng tự trọng rất cao, cũng chính ví có lòng tự trọng mà người thợ tre thấy yên tâm và hạnh phúc khi đi làm nhà cho một ai đó, cái tình cảm giữa chủ nhà và người thợ rất sang, không bị xem rẻ như bây giờ!”
“Thời bây giờ, nghề thợ tre vẫn sống được, thậm chí có thể kiếm tiền tốt hơn thời xưa cho dù người ta ít ai ở nhà tranh. Nhưng bù vào đó, thợ tre rất hiếm, mốt ở nhà tranh là của mấy tay đại gia, trọc phú, hoặc các khách sạn, quán cà phê… Nên chi dễ kiếm tiền. Nhưng không hiểu sao bây giờ tôi lại thấy chán, chẳng muốn đi làm nữa!”
Nghề thợ tre có cái độc đáo riêng mà có lẽ những nghề khác ít đòi hỏi khắt khe như nó. Về dụng cụ làm việc, gồm đục các loại, cỡ khác nhau, đục chàn, đục tròn, đục vuông, đục dẹt, cưa, mũi khoan, mác, câu liêm. Chỉ bấy nhiêu đồ nghề nhưng lại làm nên được rất nhiều thứ, từ cái thúng, cái mủng đựng lúa, đựng rau, đến cái nơm, cái đó bắt, kéo cá cho đến cái chuồng heo, cái nhà…
Ông Ðược, 63 tuổi, từng là một anh lính Biệt Ðộng Quân Việt Nam Cộng Hòa, sau 1975 một thời gian, làm một thợ tre có cuộc đời phiêu bạt từ Huế ra Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hóa rồi ngược lên Ðaklak, Gia Lai, Ðakmil, cuối cùng, mỏi gối chồn chân quay về xứ cũ Quảng Nam cùng cái nghề thợ tre và tài đánh tranh không ai sánh nổi.
Kể về cuộc đời thợ tre phiêu bạt của mình, ông Ðược nói: “Nói về đánh tranh thì tôi thuộc hàng số dách, mỗi ngày tôi đánh được từ một trăm đến một trăm hai mươi tấm tranh rạ, tranh săn thì từ một trăm hai mươi đến một trăm rưởi tấm, nghề thợ tre nó có cái thú vui, hồn vía riêng của nó, thậm chí, với tôi, tôi quan niệm anh phải có tâm hồn nghệ sĩ, phải sáng tạo, phải xê dịch kia mới làm thợ tre giỏi.”
Ông Ðược nói rằng đánh tranh với ông bao giờ cũng vui như người nhạc sĩ sáng tác nhạc vậy. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)
“Vì đây là nghề thủ công hoàn toàn, không dựa vào máy móc, hễ đụng đến máy móc thì sản phẩm trở nên thô cứng và vô hồn ngay tức khắc, gần đây người tra mở nhiều nhà máy sản xuất bàn ghế mây tre, rồi làm nhà tranh bằng kỹ thuật máy móc, kết quả cho ra sản phẩm cực kỳ vuông vức nhưng lại vô hồn, chẳng còn nét dân dã, mộc mạc, mất hẳn cái hồn quê kiểng của nó.”
Không hiểu sao, cũng giống như ông Ba Ðáng và ông Ðược, nhiều người thợ tre có nghề cao cường đều có xuất thân từ những người lính Việt Nam Cộng Hòa, sau 1975, họ chọn nghề thợ tre để làm kế sinh nhai qua ngày đoạn tháng và cũng là để thác cái chí tang bồng một thưở…
Thu nhập bấp bênh
Ông Hoàng, một thợ tre khác ở Thăng Bình, năm nay 85 tuổi, cho biết: “Ở cái tuổi già như tôi, lẽ ra người ta đã nghỉ dưỡng lão, nhưng tôi vẫn cứ phải mong ngóng ai đó kêu mình đi làm cho cái nhà, cái chuồng bò hoặc đan cho cái rổ, cuộc sống còn lắm bấp bênh, trớ trêu…”
“Ngày xưa chỉ có nhà nghèo mới cất nhà bằng tranh tre, vách đất mà ở, nhưng thời đó thợ tre lại có chỗ để sống, mặc dù thợ tre đi đụng đầu, còn bây giờ, thợ tre hiếm lắm, nhà giàu có mới chơi mốt nhà tranh để khác người, để nghỉ mát, nhưng nghiệt nỗi thợ tre lại đói khổ, âu đó cũng là cái nghịch lý thời xã hội chủ nghĩa!”
Nghe chúng tôi thắc mắc về nghịch lý thời xã hội chủ nghĩa, ông Hoàng nói: “Thì hồi đó, nhà giàu như các địa chủ không ở nhà tranh mà xây nhà lợp ngói âm dương để ở, dân nghèo thì ở nhà tranh, mà dân nghèo thì lúc nào cũng tốt bụng, có khi đi làm cả tháng cho họ, thấy họ nghèo quá, mình ăn cơm với họ, không lấy đồng nào cũng vui. Còn bây giờ thì quan chức mới chơi nhà tranh, nhưng họ lại vô cảm, chẳng có cái tình người như dân nghèo.”
“Mỗi ngày công của thợ tre bây giờ chỉ bằng hai phần ba thợ hồ, hiện tại, thợ hồ là một trăm năm mươi đến một trăm tám mươi ngàn đồng, nhưng thợ tre chỉ có một trăm đến một trăm hai mươi ngàn đồng, khó sống, nhưng thú thực là yêu nghề nên cứ làm cho qua tháng qua ngày.”
Ðương nhiên, cách nói của ông Hoàng, ông Ðược, ông Ba Ðáng đều có cái lý của nó và cũng có giấu đi một phần trắc ẩn nào đó, ví như chuyện yêu nghề, muốn làm ra những tác phẩm tre đẹp mắt là có thật, nhưng vì yêu nghề mà bảy tám mươi tuổi vẫn còn gắng gượng đi làm thì e rằng chưa chính xác.
Ông Ba Ðáng cùng tuổi già bềnh bồng nghề thợ tre. (Hình: Phương Ngạn/Người Việt)
Bởi những ông thợ tre già này có thể truyền thụ tinh hoa cho lớp học trò để họ tiếp tục phát huy. Nghiệt nỗi, thời của thợ tre dường như đã thuộc về quá vãng, mặt dù Việt Nam là một đất nước mạnh về ngành tiểu thủ công nghiệp, trong đó có mây tre.
Nhưng chính cái cơ chế cào bằng ngành nghề, đầu tư tràn lan, không chú trọng chiều sâu văn hóa, thậm chí là không có văn hóa trong kinh doanh, ứng xử, làm ăn xổi ở thì của các làng nghề, đặc biệt là nạn tham nhũng, móc ngoặc trong thủ tục thành lập làng nghề đã khiến rất nhiều làng nghề bị mất dấu đặc trưng.
Và nỗi buồn của những người thợ tre cũng là nỗi buồn đánh mất đặc trưng của làng nghề thủ công Việt Nam trong thời đại mà con người quá coi trọng đồng tiền, nặng về hình thức và vô cảm, vô hồn cùng cái thể chế chính trị bao phủ lên nó.



























































































