Văn Lan/Người Việt
ANAHEIM, California (NV) – Buổi hội ngộ ấm tình chiến hữu giữa các cựu Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) trường Bộ Binh Thủ Đức, từ Khóa 1 đến Khóa 27/68, cùng các sĩ quan tốt nghiệp trường OCS Fort Benning (trường Sĩ Quan Lục Quân Hoa Kỳ) sau hơn 50 năm gặp lại, được tổ chức sáng Thứ Bảy, 18 Tháng Mười Một, tại nhà hàng Golden Sea, Anaheim.

Buổi hội ngộ cũng đầy hào hứng với sự tham dự của các vị sĩ quan Hoa Kỳ đã từng tham chiến Việt Nam hoặc với nhiệm vụ giáo sư giảng dạy tại trường OCS Fort Benning Hoa Kỳ khi đào tạo các Sinh Viên Sĩ Quan trường Bộ Binh Thủ Đức trước năm 1975.
Không khí buổi họp mặt nhộn nhịp rộn ràng như thuở còn là Sinh Viên Sĩ Quan của trường Bộ Binh Thủ Đức hoặc trường OCS Fort Benning Hoa Kỳ, diễn ra với các tiết mục sôi nổi, nhưng cũng nhiều nỗi buồn vì nhớ đến các bạn đồng môn đã vĩnh viễn nằm xuống vì lý tưởng tự do.
Phát biểu của niên trưởng Trần Tôn (92 tuổi), cựu SVSQ Thủ Đức Khóa 1, động viên năm 1951, khiến mọi người xúc động khi ông kể: “Khóa chúng tôi có tất cả 300 người học ở Nam Định, 300 người học ở Thủ Đức, nay đã hy sinh gần hết, hiện nay ở Orange County chỉ còn có Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, tôi và một anh đại tá nữa.”
Ông Nguyễn Văn Hạnh, cựu SVSQ Thủ Đức Khóa 23, nguyên tổng giám đốc Kế Hoạch thời Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Sau 1975, ông đến Mỹ và là tổng giám đốc Cơ Quan Định Cư Tị Nạn của Hoa Kỳ, người mở cửa cho biết bao nhiêu người tị nạn từ các quốc gia khác vào Hoa Kỳ.
Trong buổi họp mặt, ông Hạnh đã giới thiệu các khách mời đặc biệt gồm Đại Tá Tom Evans, chỉ huy trường Lục Quân OCS Fort Benning; Đại Úy Tony Suarez, đại đội trưởng của toán đầu tiên từ Quân Trường Bộ Binh Thủ Đức đến tham dự khóa học đặc biệt ở trường OCS Fort Benning, Georgia, để trở về huấn luyện Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức, sau đó ông Suarez trở lại Việt Nam, tham chiến tại chiến trường Quảng Ngãi và một số chiến trường khác, năm 1975 ông đã từng mang hơn 2,500 người Việt tị nạn vào Hoa Kỳ; ông Lacy Weight, làm việc tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Việt Nam năm 1975, với tư cách là nhân viên cao cấp của chính quyền Hoa Kỳ, ông đã tham gia nhiều công tác lớn, đặc biệt là việc di tản các nhân viên Việt Nam đến Hoa Kỳ.

Dân Biểu Tạ Đức Trí (Cộng Hòa-Địa Hạt 70) được mời phát biểu, ông nói: “Rất vui khi gần 50 năm qua, người Việt tị nạn vẫn tiếp tục tranh đấu cho tự do dân chủ. Cho đến giờ phút này, ngọn lửa tranh đấu từ các thế hệ đi trước vẫn tiếp tục được gìn giữ và trao truyền cho thế hệ sau. Những buổi họp mặt như thế này là cơ hội để các thế hệ có thể ngồi lại cùng chia sẻ và cảm thông, và chúng tôi sẽ cố gắng tiếp tục gìn giữ lưu truyền mãi mãi. Quan trọng nhất là những thế hệ tiếp nối gìn giữ những sứ mạng, hoài bão và ước mơ, chia sẻ và cảm thông, từ thế hệ này sang thế hệ khác.”
Trong buổi hội ngộ cũng có sự chia sẻ của các vị giáo sư của trường OCS Fort Benning năm xưa, khi Sinh Viên Sĩ Quan Thủ Đức các khóa được qua Mỹ dự học ở trường, trong đó có ông Chu Tất Tiến. Cùng lúc là các câu chuyện kể về thời chinh chiến, sống chết trên chiến trường của các chàng trai trẻ xuất thân từ trường Bộ Binh Thủ Đức.
Bác Sĩ Mũ Xanh Phạm Vũ Bằng, đại diện các anh em Thủy Quân Lục Chiến (TQLC), kể lại có bốn Lữ Đoàn TQLC đánh giặc từ Cà Mau đến Bến Hải, và có hai trận đánh đáng kể là Đồi Phượng Hoàng và trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị năm 1972.

“Trong trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị, khi Việt Cộng mang một trung đoàn tử thủ cổ thành, chung quanh có hai sư đoàn địch bảo vệ cổ thành. TQLC tấn công vào cổ thành, ở phía Bắc có Lữ Đoàn 147 với mũi nhọn là Tiểu Đoàn 3, và ở phía Nam có Lữ Đoàn 258 với mũi nhọn là Tiểu Đoàn 6,” ông kể.
“Trong đêm 14 Tháng Chín, 1972, Tiểu Đoàn 3 TQLC đánh xuyên qua những công sự phòng thủ của địch, và ngày 15 Tháng Chín đã dựng lá cờ VNCH đầu tiên trên cửa thành phía Bắc cổ thành Quảng Trị,” ông nhớ lại.
Theo lịch sử thì tại cửa chính Tây cổ thành Quảng Trị, sáu chiến sĩ thuộc Tiểu Đoàn 6 TQLC cũng đã dựng lá cờ VNCH chiến thắng lên cao. Trận đánh giành lại cổ thành Quảng Trị là một chiến tích lừng lẫy, đánh đổi quá nhiều xương máu các chiến sĩ VNCH.
Ông Hà Mộng Bắc, biệt danh Bắc Đẩu, cựu SVSQ Khóa 27 Thủ Đức, kể thêm về trận Đồi Phượng Hoàng: “Đây là trận đánh ngay căn cứ Phượng Hoàng, một căn cứ ngày xưa của Mỹ bàn giao lại cho Việt Nam, nằm ở Ái Tử, phía Bắc sông Thạch Hãn. Vào khoảng Tháng Tư đến Tháng Năm chúng tôi đánh tới Hải Lăng, và Tháng Sáu, 1972, TQLC đánh đến chân cổ thành Quảng Trị.”

“Năm 1972 tôi là đại đội phó, quyền đại đội trưởng, chỉ huy bốn trung đội 1, 2, 3, 4 của các Thiếu Úy Trần Dốc, Trần Hiền, Lý Khen, và trung đội trưởng Trần Đức Đạo. Tất cả ở tiền đồn, ngày 9 Tháng Tư, 1972, đơn vị tôi bị một trung đoàn Thiết Giáp và Pháo Binh Việt Cộng tấn công, trong khi Trung Đội 3 của tôi nằm trong căn cứ Phượng Hoàng, ba trung đội kia ở ngoài vì phải phân tán lực lượng để tránh pháo binh địch,” ông kể.
Ông kể tiếp: “Khoảng 4 giờ sáng, căn cứ Phượng Hoàng bị pháo kích dữ dội, sau đó địch tấn công bằng chiến xa, chúng tôi bất ngờ khi bị chiến xa địch vượt vòng rào tấn công, bắn đạn 12 ly 7 như mưa, kể cả đại bác. Khoảng 30 phút sau, tôi trấn tĩnh anh em lại, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, đúng lúc chiếc xe tăng đầu tiên của chúng lọt vào ngay rãnh vòng rào căn cứ Phượng Hoàng, bị vướng kẽm gai nên loanh quanh tìm cách thoát ra.”
“Một chiến hữu đưa cho tôi cây M72, loại súng diệt xe tăng khá hữu hiệu, tôi nhắm bắn thẳng trực tiếp vào chúng trong cự ly rất gần, khoảng 50, 60 mét. Chiếc đầu tiên bốc cháy ngay lập tức, hai chiếc theo sau hoảng hốt quay đầu bỏ chạy. Nhưng mấy tên Việt Cộng lại nhảy ra khỏi chiến xa, thế là chúng tôi bắt sống thêm được hai chiếc còn nguyên vẹn, trong khi những tên bỏ chạy tán loạn bị anh em ta tiêu diệt. Kết quả là tất cả các đơn vị khác bắn cháy tổng cộng 30 chiến xa địch. Đây là chiến thắng đầu tiên của TQLC trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972,” ông nhớ lại.

“Khóa chúng tôi thời ấy khi ra trường Bộ Binh Thủ Đức đa số còn rất trẻ khoảng 22 tuổi, chỉ biết lên đường chiến đấu để bảo vệ đất nước, và lực lượng TQLC cũng như nhiều lực lượng khác thuộc tổng trừ bị, đều là những sĩ quan tình nguyện, với lòng quyết tâm chiến đấu hết mình, bảo vệ tự do cho miền Nam Việt Nam,” ông tự hào kể.
Buổi họp mặt các SVSQ tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức và trường OCS Fort Benning với nhiều niềm vui hội ngộ pha lẫn nỗi buồn phải chia xa các bạn bè chiến hữu đã hy sinh, cùng với chương trình văn nghệ cây nhà lá vườn.
Theo ban tổ chức, đầu thập niên 1950, sau khi sáp nhập hai quân trường Sĩ Quan Nam Định và Sĩ Quan Thủ Đức, trường Bộ Binh Thủ Đức được thành lập, giao phó thêm nhiệm vụ đào tạo chuyên viên các ngành trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, như Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân Cụ, Thông Vận Binh (Quân Vận sau này) và Quân Chính, và được cải danh là Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức.
Năm 1962, Đại Tá Lam Sơn về làm chỉ huy trưởng, ông lấy phương châm của trường Bộ Binh Thủ Đức là “Cư An Tư Nguy” để ghi trên phù hiệu và quân kỳ của các khóa sinh, có nghĩa là “Muốn sống yên ổn, phải nghĩ đến lúc hiểm nguy,” cũng có nghĩa là “Muốn có hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh.”

Một số SVSQ trường Bộ Binh Thủ Đức được gởi sang Mỹ học khóa Bộ Binh ở trường OCS Fort Benning, tiểu bang Georgia, kéo dài 24 tuần lễ.
Tháng Tám, 1963, Bộ Tổng Tham Mưu VNCH quyết định nhiệm vụ của trường là đào tạo sĩ quan trừ bị cho quân đội, nên được đổi tên là trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Sau đó được đổi tên là trường Bộ Binh Thủ Đức cho đến ngày tàn cuộc chiến. Vị chỉ huy trưởng cuối cùng là Đại Tá Trần Đức Minh, Khóa 1 Nam Định. (Văn Lan) [qd]












































































