Trí Nguyên
SPRINGFIELD, Virginia (NV) – Sau nửa thế kỷ sinh sống ở hải ngoại, nhiều người ngày càng lo rằng chúng ta không còn có thể giữ được cái gốc đa…

Trong quyển sách về toàn cầu hóa “The Lexus and The Olive Tree” ra đời năm 1999, nhà bình luận Thomas Friedman đã đưa ra hình ảnh sống động về sự tương phản giữa chiếc xe hạng sang Lexus và cây olive. Theo ông Friedman, trong khi ngày càng nỗ lực vươn lên để sở hữu chiếc Lexus (bằng chứng của đời sống kinh tế vật chất cao), người ta cũng đồng thời muốn duy trì sự yên bình dưới bóng mát cành olive (hình ảnh của cội nguồn dân tộc).
Người Việt không có cái bóng cây olive. Chúng ta chỉ có bóng tre, giếng nước, gốc đa. Nhưng!
“Mất gốc” rồi chăng?
Trong các dịp Tết cổ truyền, như bao cái Tết xa quê khác hàng bao chục năm nay, người ta vẫn thấy áo dài, vẫn nghe tiếng pháo đì đùng, vẫn ăn bánh chưng bánh tét, vẫn cuốn bánh tráng với thịt kho hột vịt… Nhưng những hình ảnh đó có phải là bằng chứng cho việc cái gốc và cội nguồn vẫn được duy trì và vẫn mạnh? Liệu con cái chúng ta vẫn sáng sáng đi ăn phở là bằng chứng cho thấy chúng chưa bị “mất gốc?” Có không ít người, thậm chí rất nhiều, hoài nghi điều đó.
Xét ở một góc độ, món ăn truyền thống rõ ràng không hẳn là dấu chỉ cho thấy sợi dây kết nối duy trì cội nguồn. Những đứa trẻ Việt sinh ở Mỹ ăn thịt kho cũng như taco thôi. Thật khó có thể nói cứ mỗi lần ăn thịt kho tàu thì tâm thức chúng lại liên tưởng đến giá trị truyền thống ẩm thực Việt.
Nói cách khác, bằng vào việc căn cứ rằng thế hệ trẻ Việt sinh ở nước ngoài còn biết đến bánh chưng hay bún mắm là còn biết cội nguồn thì có phần khiên cưỡng – nhiều người khẳng định như vậy. Thông qua ẩm thực, liệu có thể níu kéo bọn trẻ “trở về cội nguồn” được chăng, đặc biệt khi mà ở cái xứ “melting pot” như Mỹ, ẩm thực đa quốc gia là một đặc điểm, và chuyện ăn uống thuần túy chỉ là thưởng thức.
Hai chữ Việt Nam, với nhiều đứa trẻ sinh ở Mỹ, thật ra chỉ là “another country.” Bạn bè tôi, rất nhiều người, thường than thở giống nhau: Bây giờ rủ tụi nhỏ về Việt Nam, chúng giãy nảy như đĩa phải vôi. “Con đi mấy lần rồi, con không muốn đi nữa. Việt Nam đâu có gì đâu.”
Việt Nam “đâu có gì đâu,” (thì) ngoài cái nghĩa du lịch Việt Nam chẳng có gì thú vị, còn có nghĩa Việt Nam “đối với con” không có, hoặc có rất ít, ý nghĩa cội nguồn. “Nó” là quê hương của cha mẹ, không phải của con. Con sinh ra ở đất nước này (Mỹ), con mang quốc tịch đất nước này, con nói tiếng “mẹ đẻ” của đất nước này, con đi làm, đóng thuế và hưởng những phúc lợi của đất nước này. Việt Nam là “gì?!”

Tôi có một người quen sống ở Mỹ từ năm 1982. Con cái ông ấy đều trưởng thành và lập gia đình ở Mỹ. Ông ấy kể mình từng níu kéo bầy con ngồi dưới bóng cây đa – một “bóng đa” ở Mỹ – và “tiêm nhiễm” vào đầu chúng những đặc điểm văn hóa truyền thống “của tôi” vào cái văn hóa được Mỹ hóa “của chúng.”
Ông ấy ép chúng phải nói tiếng Việt trong nhà. Tuy nhiên, ông ấy thất bại. Nhiều người bạn khác của tôi cũng thất bại. Cái không gian gia đình của chúng ta là quá nhỏ bé và lạc lõng trong cái không gian xã hội bên ngoài. Chúng đi học, rồi đi làm, chúng sống nhiều hơn với bạn bè của chúng. Làm sao có thể bắt và trói chúng ngồi dưới gốc cây đa “của tôi.”
Ngôn ngữ là thứ mà người ta tin rằng giúp duy trì cội nguồn. Nhưng cái gọi là “ngôn ngữ” ở đây nên được hiểu như thế nào? Là ngôn ngữ giao tiếp hay ngôn ngữ sách vở văn chương?
Chỉ với vài câu chào hỏi và vài từ ngữ sinh hoạt thông dụng thì e rằng nhiêu đó không đủ và không thể được coi là cái neo để con cái chúng ta còn bám được vào cái gốc. Chúng có đọc báo tiếng Việt không? Không đời nào! Chúng có đọc sách văn học tiếng Việt không? Càng không bao giờ. Chỉ với vài câu đơn giản như “ba ăn cơm chưa?” thì có khác gì chúng biết vài câu xã giao trong tiếng Spanish hoặc tiếng Nhật.
Có đáng lo không?
Để cái gốc cây đa không bị mối mọt theo thời gian, nhất thiết văn hóa truyền thống cộng đồng phải mạnh. Sức mạnh này đến từ việc phủ sóng và truyền lại những giá trị văn hóa dân tộc thông qua nền tảng của văn hóa là chữ nghĩa. Trong khi đó, báo chí Việt Ngữ ngày càng suy yếu và thậm chí bỏ lơ ngọn cờ văn hóa. Nhiều tờ báo lớn hải ngoại một thời giờ chỉ đăng toàn mẩu tin lụn vụn có khi tào lao để câu khách.
Cùng lúc, những gương mặt đại diện văn hóa cộng đồng đã lần lượt mất đi. Những năm 1980-1990, sự vẫy vùng của họ còn mang lại sinh khí văn hóa cho cộng đồng. Bây giờ, sự thiếu vắng của họ cho thấy không gian văn hóa cộng đồng trống hụt như thế nào, khi mà thế hệ kế thừa hoàn toàn không đủ sức vun bồi văn hóa truyền thống cho mai sau. Vài năm nữa, những ông già bà cả cũng “theo ông bà” đi hết, cái gốc đa trong cộng đồng người Việt hải ngoại cũng sẽ khô héo mà lụi tàn?

Nhiều người buồn bã nói, cuộc khủng hoảng văn hóa truyền thống trong cộng đồng người Việt hải ngoại nói chung đang trầm trọng. Khoảng cách và sự không thông hiểu lẫn nhau giữa thế hệ trẻ và thế hệ già ngày càng rộng. Nếp sống văn hóa trong môi trường Mỹ đã tạo ra khoảng cách trong tư duy và tất nhiên thể hiện trong sinh hoạt.
Rào cản ngôn ngữ tiếp tục dẫn tới nhiều áp lực và mâu thuẫn thế hệ trong gia đình. Tất cả chúng ta đang chứng kiến điều này với sự bất lực. Và không chỉ ở Mỹ. Cộng đồng người Việt ở Úc, Canada hay gần như bất cứ nơi nào khác – mà tôi có dịp trao đổi và tâm sự – đều gặp tình trạng tương tự. Hai thế hệ già-trẻ như hai dòng nước chảy ngược.
Vấn đề lớn nhất chính là ở chỗ “chảy ngược.” Rất nhiều người, dù sống ở Mỹ cả hàng chục năm, vẫn không hòa nhập thực sự vào cái “melting pot.” Họ không chỉ không bước ra ngoài mà còn tự vây họ bằng những bụi tre chặn kín luồng văn hóa đa dạng bên ngoài. Họ xây dựng pháo đài cho một kiểu Việt Nam riêng của họ. Hậu quả là con cái họ ngày càng tránh xa họ vì chúng thấy cha mẹ quá khác biệt với mình (trong khi cha mẹ chúng thì nghĩ rằng chúng quá chướng mắt với họ). Trong bất lực, họ than thở, “mất gốc” hết rồi!
Thực tế là vậy. Nhưng điều này có thật sự đáng lo và giải pháp là gì? Để duy trì văn hóa truyền thống ở hải ngoại, đừng gây sức ép, đừng cưỡng cầu. Cần phải nhìn vấn đề rộng và mở hơn. Cần hiểu rằng văn hóa truyền thống ở một đất nước không thuộc quê hương chỉ có thể duy trì bằng việc bắt cầu cho nó liên thông với văn hóa đa dạng bên ngoài. Chỉ vậy mới có thể tránh được những mâu thuẫn với thế hệ sau, chỉ vậy mới có thể thuyết phục thế hệ sau rằng văn hóa cội nguồn của chúng ta cũng có những giá trị cao và đáng gìn giữ tương tự như văn hóa các quốc gia khác.
Đừng ép thế hệ trẻ theo “cách của mình.” Hãy để tự chúng tìm đến và được chinh phục. Hãy tiếp tục kiến tạo niềm tự hào dân tộc bằng việc lập ra nhiều hơn những trung tâm Việt Ngữ, tổ chức nhiều hơn những cuộc thi tiếng Việt, dựng nên nhiều hơn những bảo tàng văn hóa Việt, và đặc biệt hãy gắn kết với nhau nhiều hơn để làm gương cho thế hệ trẻ nhằm cho chúng thấy cái cộng đồng này là nơi mà chúng đáng để thuộc về.
Ở một góc độ tích cực, 50 năm qua, cộng đồng người Việt hải ngoại nói chung vẫn đang làm điều đó. Nỗ lực này được duy trì ngay cả ở thế hệ trẻ hiện tại.
Sự kiện 1975 có lẽ là biến cố kinh khủng nhất của lịch sử thời hiện đại khi hàng triệu người Việt phải bỏ nước ra đi và tạo nên một cộng đồng hải ngoại đa dạng như thấy hiện nay sau 50 năm. Dù vậy, lịch sử cho thấy thế giới chẳng bao giờ ngưng dịch chuyển. Những cuộc di cư vẫn xảy ra, từ thượng cổ đến ngày nay. Chỉ khác là, thời toàn cầu hóa cùng những biến động chính trị, dòng người dịch chuyển ngày càng nhiều hơn và dữ dội hơn.

Tuy nhiên, dù ở đâu và được sinh ra nơi nào, con người vẫn không thể “bứng” được cái gốc rễ cội nguồn được “thiết kế” sâu thẳm tận bên trong “DNA” của mình. Có thể “ID dân tộc tính” mờ nhạt trong một số trường hợp nhưng những cụm từ chẳng hạn “người Canada gốc Nhật” hoặc “người Mỹ gốc Việt” chưa bao giờ biến mất trên hành tinh qua bao thế kỷ. Toàn cầu hóa cho thấy sự hội nhập văn hóa đang diễn ra, chứ không phải sự xóa bỏ định tính dân tộc (và “mã di truyền dân tộc”) đã hình thành.
Việc một đứa trẻ trong một gia đình Việt sinh ở Mỹ không biết nói tiếng Việt không hề có nghĩa nó không phải người Việt và nó không thuộc gốc gác Việt Nam. Chính nhờ những đứa trẻ “mất gốc” mà thế giới tiếp tục biết đến “người Việt,” qua cụm từ “Vietnamese American” hoặc “Vietnamese Canadian.”
Hình ảnh cô vận động viên gốc Việt Jaedyn Shaw với tà áo dài – một trong những gương mặt nổi bật tại Thế Vận Hội Paris 2024 – đã trở thành niềm tự hào thật sự đối với người Việt hải ngoại.
Báo chí Mỹ vẫn thường xuyên nhắc những văn sĩ lừng lẫy gốc Việt như Ocean Vương. Và cộng đồng vẫn tự hào với những vị tướng gốc Việt trong quân đội Hoa Kỳ cũng như vô số gương mặt gốc Việt khác trong đủ lĩnh vực…
Sau 50 năm hải ngoại, niềm hãnh diện dân tộc với việc chứng kiến các thế hệ nối tiếp nhau không làm lu mờ hai chữ Việt Nam, trong thực tế, chưa bao giờ biến mất.
Nhắc đến điều này, tôi chưa quên niềm xúc động khi chứng kiến các em nhỏ trong một Hội Chợ Tết ở Nam California. Mặc trang phục dân tộc (áo tứ thân, chít khăn mỏ quạ), các em không rành tiếng Việt, nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh, vậy nhưng vẫn hát “Cái Trống Cơm” bằng tiếng Việt với niềm hân hoan khó tả, một cách trong sáng tự nhiên.
Cái “gốc” vẫn nằm sâu trong tim và tâm hồn các em. Không ai bứng nổi. Suy cho cùng, bất luận là người Việt hay người thuộc cộng đồng thiểu số ở một quốc gia khác ngoài quê hương mình, thì việc sống tử tế lương thiện, nhân cách tốt, có tấm lòng nhân ái và trắc ẩn với đồng loại, vẫn là thứ quan trọng hàng đầu trong tất cả những điều đáng nói nhất của một con người. (Trí Nguyên) [qd]





























































