Lâm Hoài Thạch/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) – Chàng thanh niên Trần Văn Giỏi, cựu học sinh trung học công lập Cần Đước, Long An, tình nguyện vào quân đội, và trúng tuyển tân Sinh Viên Sĩ Quan (SVSQ) Khóa 26 của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.

Khóa khai giảng vào ngày 24 Tháng Mười Hai, 1969, và ra trường ngày 18 Tháng Giêng, 1974. Sau khi ra trường, ông về phục vụ Sư Đoàn 25 Bộ Binh cho đến ngày 30 Tháng Tư, 1975.
Phóng viên nhật báo Người Việt có dịp gặp cựu chiến sĩ Trần Văn Giỏi tại vùng Little Saigon, nơi có cộng đồng người Việt lớn nhất hải ngoại, và ông đã kể lại cuộc đời sáu năm binh nghiệp của mình, từ trong quân trường Võ Bị cho đến ngày tàn cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam.
Ông cho biết: “Lý do tôi gia nhập trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, vì quân trường này là nơi đào tạo những chàng trai yêu nước có lý tưởng quốc gia dân tộc. Chẳng những thế, quân trường này đã gắn liền với lịch sử cận đại của dân tộc, của chiến tranh Việt Nam nói chung và của dòng Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) nói riêng.”
“Theo tài liệu Quân Sử VNCH, năm 1945, dân tộc Việt Nam đang đón chào một nền hòa bình thật sự từ sự đổ vỡ của ngoại bang. Lúc bấy giờ, người dân Việt Nam vẫn âm thầm chiến đấu để đòi hỏi sự độc lập và hòa bình thật sự cho quốc gia dân tộc, nên người dân vừa chiến đấu với ngoại bang, vừa chống trả với những thủ đoạn gian manh lừa đảo của tập đoàn Cộng Sản Quốc Tế,” ông nói thêm.
Lịch sử quân trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam
Kể từ năm 1948 qua Hiệp Ước Vịnh Hạ Long, chính quyền thực dân Pháp phải công nhận Việt Nam được độc lập, nhưng vẫn còn trong khuôn khổ của Liên Hiệp Pháp. Cũng trong thời điểm này, Quân Đội Quốc Gia Việt Nam sơ khai được thành lập, nhưng vẫn còn bị chi phối của người Pháp. Tuy thế, chính phủ Việt Nam lúc bấy giờ đã thành lập quân trường Sĩ Quan Việt Nam ở Đập Đá bên cạnh sông Hương, Huế. Quân trường này, nhằm đào tạo các sĩ quan hiện dịch nòng cốt cho Quân Đội Việt Nam.
Hai năm sau, Trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế được di chuyển về Đà Lạt, vì nơi đây có đầy đủ các điều kiện về khí hậu lẫn địa thế trong các chương trình huấn luyện. Sau khi ra trường, các tân sĩ quan này sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ tổ quốc trong mọi tình thế tại chiến trường đương thời và mai sau. Ít lâu sau, quân trường này được cải tổ toàn diện và được cải danh thành Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt.
Ông cho biết thêm: “Đến năm 1955, thực dân Pháp chính thức không còn đô hộ Việt Nam. Tại miền Nam Việt Nam, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Hòa và quân đội miền Nam với danh xưng Quân Đội VNCH để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền của lãnh thổ miền Nam.”
Quân trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt một lần nữa được cải danh là Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, do Nghị Định 317/QP/TT được Tổng Thống Ngô Đình Diệm ấn ký vào ngày 29 Tháng Bảy, 1959. Đến năm 1960, Tổng Thống Diệm là người đã đặt viên đá đầu tiên để xây dựng quân trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam rất khang trang tọa lạc tại đồi 1515, gần Hồ Than Thở, và cách trung tâm thị xã Đà Lạt khoảng 5 km về hướng Bắc.
Năm 1959, quân Cộng Sản Bắc Việt bắt đầu len lén xâm nhập miền Nam, vì do nhu cầu chiến trường, chương trình huấn luyện các khóa của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam cấp thời thay đổi những thời gian thụ huấn của các khóa sinh, có lúc gần bốn năm, có khi hai năm. Bắt đầu từ năm 1966 thì phương pháp huấn luyện và chương trình thụ huấn được phỏng theo các tiêu chuẩn đào tạo các SVSQ của Trường Võ Bị West Point, Hoa Kỳ. Rồi cũng kể từ đó, thời gian huấn luyện của các khóa là bốn năm.

Những thời gian đầu tại quân trường Võ Bị
Khóa 26 Võ Bị với danh xưng là Khóa Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh.
Ông Trần Văn Giỏi nhớ lại: “Tổng số SVSQ Khóa 26 Võ Bị được trúng tuyển và có đủ điều kiện về thể chất là 196 tân SVSQ. Đến khi lễ mãn khóa ngày 18 Tháng Giêng, 1974 thì có 175 tân sĩ quan hiện dịch được tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy. Trước đó, gồm các khóa đàn anh và khóa của chúng tôi, trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam có trách nhiệm đào tạo các sĩ quan hiện dịch nòng cốt cho các quân, binh chủng Quân Lực VNCH. Sau thời gian thụ huấn, các tân sĩ quan này đều có khả năng chỉ huy, chiến đấu trong thời chiến, và trình độ kiến thức của họ được đào luyện đến bậc đại học, để sau này, họ có thể phục vụ đất nước trong thời chiến tranh cũng như thời bình.”
“Vì thế, về mặt quân sự, chương trình huấn luyện luôn được cập nhật nhiều kiến thức mới cũng như các chiến thuật mới, bao gồm các chiến thuật tác chiến cấp trung đội và cấp đại đội. Để sau khi tốt nghiệp, đến lúc ra đơn vị chiến đấu, họ sẵn sàng đảm trách chức vụ trung đội trưởng tác chiến, và sau đó họ có thể đảm trách nhiệm vụ chỉ huy cao hơn trong các đơn vị tác chiến,” ông nói tiếp.
“Cho nên, các tân sĩ quan mới ra trường, họ sẽ được thụ huấn thêm các khóa học chuyên ngành khác theo quân, binh chủng của họ được về phục vụ. Tuy rằng chương trình huấn luyện quân sự của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam không khác nhiều so với các trường huấn luyện sĩ quan khác, nhưng khi qua thời gian dài đào luyện, các tân sĩ quan đã được trường Võ Bị huấn luyện rất kỹ lưỡng, để những tân sĩ quan, những người con yêu của tổ quốc sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ để phục vụ tổ quốc và dân tộc Việt Nam trong mọi tình huống sau này,” ông cho hay.
Trường Võ Bị gồm tất cả những căn nhà được kiến trúc bắt đầu từ năm 1961. Các SVSQ cư ngụ hai hoặc ba người trong một phòng ngủ của bốn doanh trại, mỗi doanh trại gồm 100 phòng ngủ. Một phận xá rộng lớn có khả năng dọn ăn cho 1,200 người một lúc. SVSQ được tổ chức thành Trung Đoàn SVSQ gồm hai tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có năm đại đội. Ngoài ra còn có Hệ Thống Chỉ Huy và chương trình huấn nhục cho tân sinh viên giống như chương trình tương tự tại West Point.
Suốt hơn bốn năm tại quân trường Võ Bị, các SVSQ của Khóa 26 phải trải qua nhiều giai đoạn thụ huấn đầy gian khổ theo tiêu chuẩn “Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.”
Chương trình huấn luyện các SVSQ Khóa 26 của năm đầu tiên
Theo ông Trần Văn Giỏi kể, chương trình huấn luyện trong năm thứ nhất (1970), bao gồm: Giai đoạn từ 24 Tháng Mười Hai, 1969 đến 18 Tháng Hai, 1970. Các sinh viên trúng tuyển đến trình diện quân trường Võ Bị là 227 ứng viên. Nhưng tổng số ứng viên hội đủ điều kiện về thể chất được gia nhập tân khóa sinh của Khóa 26 là 196 người.
Ngày đầu tiên nhập khóa, các tân SVSQ Khóa 26 được đàn anh Khóa 23, thuộc Tiểu Đoàn 1 Khóa Sinh đón tiếp tại phi trường Cam Ly. Ngày 24 Tháng Mười Hai, 1969 vào dịp lễ Giáng Sinh, 196 tân khóa sinh Khóa 26 được các SVSQ cán bộ của Khóa 23 thuộc Tiểu Đoàn 1 Khóa Sinh đón tiếp tại Cổng Nam Quan của quân trường Võ Bị, với nghi lễ truyền thống.
Đầu tiên, các môn sinh của Khóa 26 phải trải qua tám tuần lễ huấn nhục. Rồi cũng kể từ đó là chuỗi thời gian dài nối tiếp trong các chương trình thụ huấn tại đồi 1515.
Cựu SVSQ Trần Văn Giỏi nhớ lại: “Ngày 28 Tháng Hai, 1970, Tiểu Đoàn Tân Khóa Sinh Khóa 26 kết thúc Mùa Tân Khóa Sinh gian khổ bằng đợt leo núi. Đó là chúng tôi phải chinh phục đỉnh Lapbe Nord, cao 1,732 mét, và đỉnh Lapbe Sud, cao 1,702 mét. Đúng ra chúng tôi phải chinh phục đỉnh núi Lâm Viên theo truyền thống, nhưng vì tình hình an ninh tại địa phương, và cũng vì có một số tân khóa sinh do tình trạng sức khỏe không thể đáp ứng với mọi thử thách, nên quân trường cho chúng tôi chinh phục hai đỉnh núi như đã nêu trên. Sau đó, có bảy tân khóa sinh của Khóa 26, vì tình trạng sức khỏe không thể tiếp tục các chương trình thụ huấn sau này, nên họ được quân trường cho về đời sống dân sự.”

Lễ gắn Alpha
Đêm 28 Tháng Hai, 1970 là lễ gắn Alpha tại Vũ Đình Trường Lê Lợi. Có 189 tân khóa sinh Khóa 26 được gắn Alpha Đỏ và chính thức trở thành những SVSQ của Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam.
Sau lễ gắn Alpha là đến chương trình huấn luyện của Mùa Văn Hóa Vụ. Hải Quân Đại Tá Nguyễn Vân là Văn Hóa Vụ Trưởng.
Mùa Văn Hóa bắt đầu vào Tháng Ba, 1970 và kéo dài cho đến giữa Tháng Mười Hai, 1970. Khối Văn Hóa Vụ được chia làm chín phân khoa, bao gồm các Khoa: Sinh Ngữ, Nhân Văn, Khoa Học Xã Hội, Toán, Khoa Học, Cơ Khí, Công Chánh, Kỹ Thuật Điện và Kỹ Thuật Canh Nông. Mỗi mùa Văn Hóa được chia làm hai lục cá nguyệt. Mỗi lục cá nguyệt có ba giai đoạn, và mỗi giai đoạn kéo dài sáu tuần lễ, và có bài sát hạch hằng tuần trong mỗi cuối giai đoạn, mỗi cuối lục cá nguyệt và cuối mùa văn hóa.
Các phương tiện hỗ trợ việc giảng dạy của môn Văn Hóa Vụ gồm có thư viện, phòng thính thị Anh Ngữ, phòng thí nghiệm Hóa Học, phòng thí nghiệm Vật Lý, phòng thí nghiệm nặng, nhà in sách giáo khoa…
Các môn học năm thứ nhất bao gồm: Giải Tích 1A, 1B, 2A, 2B, Hóa Học Vô Cơ, Hóa Học Hữu Cơ, Sử Âu Mỹ, Sử Á Việt, Anh Ngữ 1, Anh Ngữ 2, Văn Chương Việt Nam 1, Văn Chương Việt Nam 2.
SVSQ phải đạt điểm trung bình 2.5 đến 4.0 để có đủ tiêu chuẩn lên lớp, và trong bốn năm thụ huấn chỉ được ở lại một lần. Trong Mùa Văn Hóa, ngoài 4 giờ thể thao hằng tuần, SVSQ Khóa 26 còn được học thêm môn Quyền Anh (boxing) 2 giờ trong tuần do võ sư Văn Đại hướng dẫn.
Việt Cộng tấn công quân trường Võ Bị
Ông Trần Văn Giỏi kể: “Trong năm thứ nhất, ngoài vấn đề thụ huấn các môn học, các SVSQ Khóa 26 còn có nhiệm vụ canh gác và giữ an ninh tại Cổng Nam Quan của quân trường. Tôi còn nhớ trong đêm 29 Tháng Tư, 1970, Việt Cộng bất ngờ đột kích tấn công quân trường Võ Bị. Trong lúc giao tranh với địch quân, SVSQ Bùi Lễ (G26) đã bắn hạ một tên Việt Cộng tại vọng gác bên hông Bộ Chỉ Huy Quân Trường Võ Bị, anh này được cấp trên tưởng thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao đồng.”
“Vào khoảng Tháng Sáu, 1970, Việt Cộng lại đột kích lần nữa. Trong cuộc giao tranh này, địch phá hàng rào phòng thủ trên đường mòn dẫn đến hội quán Huỳnh Kim Quang, nhưng chúng đã bị phát giác từ bên ngoài vòng rào và bị các toán kích cơ hữu của trường Võ Bị tiêu diệt,” ông kể thêm.
Ngày 18 Tháng Mười Hai, 1970, SVSQ Khóa 26 cùng với các SVSQ Khóa 24 và Khóa 25 tham dự Lễ Mãn Khóa của đàn anh Khóa 23. (Lâm Hoài Thạch) [qd]





























































