Gas, điện lên giá, than củi lên đời, rừng chảy máu


Phi Khanh/Người Việt


 


QUẢNG NAM – Từ những năm 1995 trở lại đây, người ta dần bỏ đi những cái bếp củi, từ thành thị cho đến nông thôn, nó trở thành kỷ vật của một thời. Nhưng, hai tháng trở lại đây, bếp củi và lò than trở thành bạn đồng hành của nhiều gia đình.










Vợ chồng anh Lợi đi chở củi bỏ mối, mỗi ngày kiếm được từ 700 ngàn đồng đến 1 triệu đồng, đây là khoản thu nhập không hề nhỏ! (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


Nguyên nhân chính để lò than và bếp củi quay trở lại vẫn là giá gas, giá điện và giá xăng, dầu quá đắt đỏ. Chính cái bếp củi và lò than đã giúp những giá đình có thu nhập không cao dễ thở, đỡ ngột ngạt hơn.


Cô Hà, chủ một nhà hàng tiệc cưới ở Hội An, Quảng Nam, cho biết: “Trước đây không bao lâu, chúng tôi nấu bằng gas một trăm phần trăm, nhưng gần đây, giá gas tăng cao quá, mình phải tiết kiệm bằng mọi giá, và những gì có thể nấu bằng củi được, chúng tôi mang ra cơ sở 2 ở ngoại ô để nấu, sau đó đóng thùng, chờ đủ chuyến chở vào. Có như vậy mới đỡ hao gas, mới có lãi…”


Ông Thuyết, chủ một quán cơm gà khá nổi tiếng ở Tam Kỳ cũng y tâm trạng cô Hà, có khác chăng là: “Thật ra, nấu gas vừa tốn kém mà lại vừa nguy hiểm, nhất là giai đoạn gần đây, bình gas không mấy an toàn, thôi thì cái nào nấu bằng củi được nấu cho nó đỡ tốn mà lại an toàn. Một xe củi hai khối mua có 350 ngàn đồng, nấu ít nhất cũng được một tháng. Nhưng cũng ngần đó tiền, nếu mua gas, nấu chưa được một tuần.”


Bà Tuyển, quán xuyến một gia đình có bốn đứa con ăn học, đứa lớn học lớp 12, đứa út học lớp 3, ông Tuyển đi làm thợ hồ, thu nhập bấp bênh, cho biết: “Trước đây nhà này nấu bếp gas, nhưng gần đây giá gas cao quá, mà tôi thì có chút thời gian rảnh rỗi, hơn nữa ông nhà tôi làm thợ hồ, có thể kiếm một ít ván cốt pha bỏ đi để làm củi, chính vì vậy mà tôi quyết định chuyển sang nấu bằng củi, mỗi tháng dư được gần hai trăm ngàn đồng.”


Do nhu cầu về than, củi tăng vọt, kéo theo không ít những dịch vụ “than củi lâm thời” bởi hiện tại, đây được xem là nghề ăn nên làm ra.


 


Chuyện của những người bán củi


 


Vợ chồng anh Lợi ở Ðiện Bàn, Quảng Nam vốn làm ăn chăm chỉ nhưng làm cách gì cũng không đổi đời được bởi cái nghề thợ hồ của anh và nghề bán trứng vịt lộn của chị. Nhưng chỉ trong vòng chưa đầy một năm nay, mọi sự thay đổi hoàn toàn nhờ vào nghề buôn củi.


Anh Lợi tâm sự: “Làm thợ hồ, mỗi ngày, cao nhất cũng chỉ được trả 150 ngàn đồng, mà với số tiền ấy để nuôi ba đứa con thì khó mà ngóc đầu lên nổi, vợ mình thì đi bán trứng vịt lộn, thu nhập cũng không có gì là cao. Từ lúc chuyển sang bỏ mối củi, mình thấy sống thoải mái ra…”


“Một xe củi, nếu mua tại gốc thì cao nhất là 200 ngàn đồng, nếu biết mua, biết chọn lựa và chia củi theo từng khối, từng xe thì mỗi xe củi tốn hết 150 ngàn đồng, chở đến nhà người ta bán, được 350 ngàn đồng, kiếm lãi từ 150 đến 200 ngàn đồng trên mỗi xe củi là chuyện bình thường. Mỗi ngày mình chở từ 4 đến 5 xe.”










Củi được chất thành đống để đối phó với giá gas, giá điện… (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


“Nói thì nghe dễ ăn vậy nhưng bù vào đó rất là cực khổ, nếu sung sướng thì người ta đã tự đến trại cưa để mua chứ không cần đến mình đâu. Ngày nắng ráo thì chở không sao, chứ mưa bão, người ta gọi điện thoại là mình có mặt ngay, nhiều khi chở xong củi về là lăn ra ngủ, khỏi có ăn cơm luôn!”


Trong huyện chỉ có vợ chồng anh Lợi và một cặp vợ chồng trẻ nữa thỉnh thoảng cũng tranh thủ đi chở củi nên hàng luôn luôn đắt, bao giờ các cuộc điện thoại gọi củi cũng trên 10 cuộc mỗi ngày. Chính vì không thể phục vụ hết mà anh Lợi san sẻ cho cặp vợ chồng trẻ này chở bớt. Ban đầu thì họ nhận lời, nhưng về sau, họ cũng lắc đầu, chịu thua.


Ông Trần Vinh, chủ xưởng cưa ở Câu Lâu, Nam Phước, Duy Xuyên, chia sẻ: “Nói chung, nhiều năm trước đây, khi bếp gas và lò điện chưa thịnh hành, bột cưa và củi bìa là thứ quí hiếm, thậm chí vỏ trấu nữa. Nhưng dần dà về sau này, dường như mỗi năm xưởng cưa của tôi phải đi đổ bãi rác cả trăm tấn. Nhưng gần đây thì khác!”


“Tự dưng, mọi người đổ xô đi mua bột cưa, mua củi, gỗ bìa, ngày trước bỏ hàng đống này đống nọ bây giờ đã sạch sành sanh. Trước đây gỗ dỏm, gỗ non tôi chê, nhưng bây giờ tôi xài tuốt, biến nó thành củi cũng có lãi.”


 


Và rừng chảy máu


 


Câu bộc bạch của ông Trần Vinh khiến cho chúng tôi phải giật mình nghĩ đến những khu rừng đang chảy máu, gỗ già thì bị hạ lấy gỗ, gỗ non đốt lấy than, làm củi… Cứ như vậy, rừng bị cháy do khai thác than và đốn hạ tận gốc ngày càng cao, trở nên trơ trọi…


Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm Lâm Việt Nam: Trong năm qua tại Việt Nam có hơn 5,600 hécta rừng bị cháy, trong chừng 880 vụ cháy rừng. thêm tình hình cháy rừng tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền núi phía bắc và các tỉnh Ðông Nam Bộ.


Phần lớn các vụ cháy rừng chưa thể phát hiện đối tượng gây cháy.


Ngoài tình trạng cháy rừng, nạn chặt phá rừng cũng được cho biết không giảm là bao.










Cái bếp than nhà bà cụ đã bỏ từ lâu, bây giờ bà dùng đỡ thau nhôm để làm bếp, nấu qua mùa đắt đỏ… (Hình: Phi Khanh/Người Việt)


Trong năm qua, số vụ phá trừng được Cục Lâm Nghiệp báo cáo là hơn 3,300 vụ, diện tích rừng bị phá trái pháp luật là 1,674 hécta. Các địa phương nằm trong danh sách có số rừng bị chặt phá trái pháp luật nhiều là Daknông, Lâm Ðồng, Kontum, Ðiện Biên, Bình Phước, Phú Yên…


Ðương nhiên, đây là những con số thống kê được, con số thật không chỉ dừng ở đây!


Có lẽ ông Trần Vinh và nhiều người làm chủ xưởng gỗ khác cũng thừa biết chuyện này, nhưng mối lợi từ khai thác gỗ khiến ông không thể cưỡng lại được, và hơn hết, ông từng trả lời khi chúng tôi đặt vấn đề về nạn chảy máu rừng: “Tui đâu có khai thác, tui chỉ cưa xẻ, chế tác thôi, cái này không phải lỗi của tôi, tôi không làm thì người khác cũng làm!”


Chính những gì đang diễn ra đã khái quát một bài toán hóc búa: Giá điện tăng, bày ra chuyện xây dựng thêm nhiều nhà máy thủy điện, diện tích rừng hẹp lại, giá xăng tăng, lượng củi tiêu thụ tăng theo. Và kết cục, rừng càng ngày càng thu hẹp do xây dựng thủy điện, do lâm tặc phá rừng, do cháy, đốt lấy than… Và khi rừng trơ trọi, thì hậu quả như thế nào?

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT