Thủ đô Brussels của Bỉ (kỳ 3)


Bài và hình: Trịnh Hảo Tâm

Brussels (tiếng Pháp Bruxelles) thủ đô của vương quốc Bỉ đồng thời cũng được xem là thủ đô của Âu Châu vì các cơ quan và văn phòng của Liên Hiệp Âu Châu (EU) cũng như khối NATO đều đặt tại thành phố này. Brussels có nhiều công viên lá xanh hoa thắm, những dinh thự, hoàng cung nguy nga hoành tráng và khu phố cổ gợi lại cảnh sắc Âu Châu thời Trung Cổ.


Tòa thị chính Brussels xây từ 1402 với cửa chính bị lệch.

Quảng trường Grand Place

“Là một trong những quảng trường thành phố đẹp nhất Âu Châu nếu không nói là cả thế giới,” đó là nhận xét của du khách để diễn tả nét đẹp kiêu sa thanh lịch của quảng trường ngày xưa nơi mỗi ngày họp chợ ở trung tâm thành phố. Người nói tiếng Pháp gọi nó là “Grand Place” trong khi người nói tiếng Hòa Lan gọi là “de grote Markt.” Du khách ở thế kỷ 21 bây giờ không phải là những người đơn lẻ khi tán dương nét đẹp vì xưa kia Công Chúa Isabella con gái Vua Filip II của Tây Ban Nha đã viết như sau khi viếng Brussels vào ngày 5 Tháng Chín 1599: “Tôi chưa bao giờ thấy cảnh nào đẹp và sắc sảo như ở quảng trường chính của thành phố này, nơi tòa thị chính cao vút lên bầu trời còn những phố xá thì trang hoàng rất ấn tượng!”

Khởi thủy Grand Place rất khiêm nhường, chỉ là một điểm mua bán trên gò cao nơi giao nhau giữa 2 con lạch nhỏ từ núi đổ xuống để chảy vào sông Senne. Sau đó ngôi chợ được gọi với cái tên là “Niedermerckt” có nghĩa là “chợ dưới.” Rồi đến thế kỷ 12 Brussels trở thành điểm hẹn của thương buôn giữa các thành phố Bruges, Cologne và Pháp, len Ăng lê, rượu vang Pháp và bia Ðức tràn ngập dưới thuyền ở bến sông và cả trên chợ. Thời Trung Cổ nhiều ngôi nhà gỗ đã dựng lên, đến năm 1402 bắt đầu xây tòa thị chính và mãi đến năm 1455 mới hoàn tất với ngọn tháp cao vút như ta thấy ngày nay. Tuy nhiên đến ngày 13 Tháng Tám 1695 khu phố ở quảng trường bị thiêu rụi do quân Pháp xâm lăng theo lịnh của vua Louis 14. Ngọn tháp cũng như tòa thị chính bị thiệt hại nặng nhưng vài năm sau người Pháp xây dựng trở lại với kiểu dáng nguyên thủy.

Ông trưởng đoàn du lịch Luigi Saba người đảo Sardinia nước Ý hỏi chúng tôi thấy gì khác lạ ở ngôi nhà Tòa Thị Chính không? Ông ta chỉ cho thấy chiếc cửa chính tòa nhà nằm lệch với trục tâm thẳng đứng của tòa nhà. Dù không ảnh hưởng gì mấy đến sự vững chắc nhưng là một khiếm khuyết khiến dư luận chê bai cười cợt. Kiến trúc sư tòa nhà “hình như” là Jacob van Thienen [vì quá xưa (1402) nên người ta truy tìm tài liệu không biết chính xác ai là người thiết kế tòa nhà] tìm cách sửa chữa nhưng không được vì di dời cột này đi thì lại lệch các nơi khác, cuối cùng ông ta đã tự tử chết chỉ vì cái cánh cửa vô duyên này! Ông này chắc có dòng máu Nhật, chuyện gì cũng có thể tự tử được!

Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê
Cao chê ngổng, thấp chê lùn
Béo chê, béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống, xương sườn phơi ra!
(Ca dao)

Mỗi năm vào Tháng Bảy người ta sẽ làm tấm thảm bằng hoa tươi ở quảng trường Grand Place này gọi là lễ hội Ommegang để thu hút khách du lịch. Brussels mưa nhiều (hơn 200 ngày mưa trong một năm) gần biển nhiều hơi nước nên hoa rất đẹp.

Tượng “Manneken Pis”


Tượng “Manneken Pis,” biểu tượng của Brussels.

Tòa Thị Chính nằm ở cạnh Nam quảng trường, phía sau là con đường Stoof cũng đi về hướng Nam qua 2 con đường là đến tượng thằng bé đứng tè Manneken Pis (tiếng Hòa Lan có nghĩa “người nhỏ tiểu”). Tưởng là tượng lớn lắm nhưng đến nơi thấy bé tí xịu cao khoảng chừng 2 feet, tượng thằng bé bằng đồng đen trần truồng đứng tiểu xuống một bệ nước. Có nhiều truyền thuyết về lai lịch pho tượng. Một trong những truyền thuyết là vào thế kỷ 14, thành Brussels bị giặc ngoại xâm bao vây ngoài thành. Một thằng bé tên là Juliaanske từ trong thành ra len lỏi dọ thám địch quân. Nó thấy quân địch đặt chất nổ để phá sập tường thành, bèn tè vào ngòi nổ đang cháy và cứu được… nguyên cả thành không rơi vào tay giặc! Từ đó người ta đúc tượng để ghi công thằng bé. Tượng ngày xưa làm bằng đá vào khoảng thế kỷ 15 và bị đánh cắp nhiều lần. Năm 1619 được thay thế bằng tượng đồng do ông Jerome Duquesnoy đúc và được giữ gìn cẩn thận cho đến ngày nay. Có nhiều dịp lễ hội tượng thằng bé được mặc áo quần và nước tè ra được thay thế bằng bia cho du khách tha hồ đưa ly cối vào hứng uống no say!

Tượng tuy không hoành tráng nhưng ngộ nghĩnh dễ thương nên được thiên hạ ưa thích và khi tôi đến vài bó hoa tươi đặt dưới hàng rào. Cạnh bức tượng thằng bé có một tiệm bán bánh Waffle, sau tủ kính hai cô gái đồng phục đang nướng bánh rồi chế xi rô hay nặn kem ngọt lên trên. Cách đó vài căn là tiệm Chocolates, đề giá 3 Euro cho 100 gram, tôi mua thử 100 gram đếm được 8 thỏi nhỏ. Ðây là món đặc sản nổi tiếng của Brussels, nếm thử thì cũng không khác gì Chocolates hiệu See’s mua ở Cali nhưng nghe nói có hiệu “Mary” rất ngon, tiền nào của nấy.

Chúng tôi đi bộ trở lại quảng trường Grand Place và vào con đường nhiều quán ăn ở phía Bắc cạnh quảng trường. Ðây là khu ẩm thực về đêm của Brussels chuyên bán cho du khách với món đặc sản là sò chem chép (mussels) hấp với một vài loại rau gia vị trong một nồi chứa bơ và rượu trắng. Món này ăn với khoai tây chiên và uống bia Bỉ. Bia Bỉ độ rượu nặng hơn bia Hoa Kỳ và có đến hơn 500 loại bia mùi vị khác nhau. Trên con phố ẩm thực này, các nhà hàng san sát nhau, dưới ánh đèn họ bày trí sò ốc, rau cải rất đẹp mắt và thực khách ngồi ăn uống ngoài trời, hàn huyên nói cười trong lúc nhâm nhi bia rượu rất thanh thản nhàn hạ. Thực đơn chem chép tôi thấy đề giá tiền là 18 Euros cho món này. Trong con phố ẩm thực có một nhà hàng chủ nhân là một cô gái Trung Hoa, cô ta đứng ra mời chào khách nhưng không thấy ai ăn trong quán cô ta trong khi các quán khác của người Âu thì thực khách khá đông. Có lẽ thực khách nghĩ rằng món đặc sản địa phương này phải do chính người địa phương nấu nướng thì mới đúng điệu trong khi ở Bolsa món phở hoặc bánh xèo nhiều nơi các anh chàng Mễ “Amigo” đứng nấu nhưng khách vẫn ăn đông.


Khu ẩm thực về đêm ở trung tâm thành phố.

Chúng tôi rời khu ẩm thực đi xa về hướng Tây bắt gặp một đại lộ rất lớn có tên là Boulevard Anspach, hai bên là những dãy phố lầu người đi và xe cộ tấp nập. Có một khu chuyên môn bán món ăn Thổ Nhĩ Kỳ với các bảng hiệu thường màu vàng đỏ và trưng hình những món ăn. Bên trong là những khay để thức ăn đã nấu sẵn thường là cà ri hay những món rất nhiều ớt và nghệ. Luôn luôn có một cây thịt bò tròn dựng đứng lên và hai bên là lò nướng chạy bằng điện. Món này có tên Kabab, khi kêu món bê nướng này thì người bán cầm con dao bén thái từng lát thịt cho vào dĩa. Chúng tôi ăn ở nhà hàng fast food Thổ Nhĩ Kỳ với món gà nướng và xà lách. Mỗi dĩa nửa con gà kèm theo khoai hay cơm trộn nghệ vàng và một dĩa xà lách giá là 7 Euros. Vừa hợp khẩu vị vừa rẻ tiền so với vật giá vùng Tây Âu này. Có món trừu nướng cũng rất ngon nhưng sợ đó là dê, không bao giờ ăn thịt… ông thầy! Xà lách không có những loại Dressing (Ranch, Italian…) như ở Mỹ mà chỉ có chai dầu Olive và chai giấm đen Balsamic (không phải Bolsamic đâu nhé). Ở Âu Châu nhiều ngày chuyên ăn xà lách với dầu giấm như vậy thấy cũng ngon nên khi trở về Cali đôi khi tôi cũng ăn theo kiểu này để nhớ phong cách Âu Châu.

Ðêm Brussels không muôn ngàn ánh đèn sáng rực như Paris, không nhộn nhịp như Luân Ðôn nhưng êm đềm, thanh vắng, ánh sáng lung linh, khung cảnh huyền hoặc và lãng mạn. Nếu một mình lang thang trong khu quảng trường chắc bạn sẽ gặp ma nhưng là ma… nữ tóc vàng sợi nhỏ, sẵn sàng để bạn mời đi ăn nhưng đoạn kết có… hậu hay không thì người viết du lịch không bảo đảm.

Thành phố Brussels cũng có rất nhiều người Việt định cư, ước tính khoảng 15 ngàn người, một số là sinh viên du học thời Việt Nam Cộng Hòa trước 1975, lúc đó xin du học Bỉ dễ hơn là xin du học bên Pháp, do tình hình bang giao không mấy tốt đẹp giữa hai nước. Những người Việt này hoàn toàn hội nhập vào xã hội Bỉ và sau đó họ bảo lãnh thân nhân sang định cư sau khi miền Nam thất thủ. Tôi cũng có một người bà con định cư tại đây, hôm Brussels bị khủng bố đặt bom, từ Cali tôi gọi điện thoại sang hỏi thăm. Người bà con cho biết cả gia đình bình an nhưng dân chúng địa phương hãy còn bàng hoàng lo sợ, cảm thấy cuộc sống nơi đây bắt đầu bất an. Riêng người bà con tôi thì có cảm giác như sống ở Sài Gòn thời trước 1975 lo sợ những vụ đặt bom những nơi công cộng hay pháo kích vào thành phố.


Sách du lịch Trịnh Hảo Tâm đã xuất bản 8 quyển ký sự du lịch:

1. Trên Những Nẻo Ðường Việt Nam
2. Miền Tây Hoa Kỳ
3. Ký Sự Du Lịch Trung Quốc
4. Mùa Thu Ðông Âu
5. Tây Âu Cổ Kính
6. Miền Ðông Nước Mỹ Và Canada
7. Hành Hương Thánh Ðịa Do Thái
8. Nhật Bản, Hồng Kông-Macau, Thái Lan.

Tất cả đều dầy trên 300 trang trình bày đẹp, mỗi quyển đồng giá 15 USD (bao cước phí trong nước Mỹ) xin liên lạc: Trịnh Hảo Tâm (714) 528-1413. Email: [email protected].


CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT