Henry Mancini trong lãng quên

Tạp Ghi Quỳnh Giao

 

 

Nếu hỏi các khán thính giả Việt Nam rằng Henry Mancini là ai thì có lẽ ít người trả lời được. Thật ra, chúng ta cũng giống khá nhiều người Hoa Kỳ đời nay trong sự mơ hồ này.

Nhưng nếu nghe thấy đâu đó giai điệu lãng mạn của bài “Moon River” hay nhịp tiết nghịch ngợm của “The Pink Panther,” con báo màu hồng, thì nhiều người trong chúng ta có thể lâm râm theo tiếng nhạc hoặc nhớ lại rằng mình đã biết các điệu này. Chúng ta có thể là “fans,” là khách mộ điệu, của Henry Mancini mà chẳng biết. Lý do đơn giản là người nhạc sĩ tài hoa này ít xuất hiện và khuôn mặt của ông không là một dấu ấn của nhạc để trở thành tiết mục quảng cáo.

Henry Mancini không ưa quảng cáo. Biết đâu, ông chẳng cần quảng cáo qua các “talk show” trên truyền hình như nhiều nghệ sĩ khác. Ông soạn nhạc rồi để tác phẩm tự chinh phục người nghe. Nhìn theo khía cạnh nào đó, ông cũng giống Dương Thiệu Tước hay Vũ Thành của chúng ta.

Thật ra, trên đài danh vọng của các ngôi sao nổi tiếng nhất như Elvis Presley, Frank Sinatra hay các ban hợp ca The Beatles và Rolling Stones, nhạc của Henry Mancini đã đứng riêng một cõi rất cao.

Ông được tuyển 72 lần cho giải Grammy, một kỷ lục, và đoạt 20 giải, Ðược tuyển 18 lần cho giải Oscar về nhạc phim, ông ôm về nhà bốn pho tượng vàng. Ngoài ra, ông còn đoạt một giải Golden Globe và được tuyển vào hai giải Emmy. Dù sinh thời ông là người kín đáo, năm 2004, Bưu Ðiện Hoa Kỳ đã phát hành một cái tem tưởng niệm với hình ảnh người nhạc trưởng đang điều khiển dàn nhạc cho các bộ phim hay chương trình truyền hình nổi tiếng của mình.

Mà Henry Mancini là ai vậy?

Là con trai gia đình di dân gốc Ý Ðại Lợi, Enrico Nicolas Mancini sinh năm 1924 trong khu phố Ý của thành phố Cleveland ở Ohio rồi cùng cha mẹ qua sinh sống tại một trung tâm sản xuất thép gần Pittsburgh, nơi người cha làm công nhân ngành thép. May cho cậu bé là ông bố lại có máu nghệ sĩ, thích nhạc và ngạc nhiên vì thấy con trai tự học nhạc bằng cách viết ra giấy những cảm nghĩ của mình khi được nghe các đĩa nhạc cổ điển. Chính người cha đã bấm bụng cho con đi học dương cầm với một ông thầy gốc Ðức, trước sự cảm thông dịu dàng của bà mẹ.

Nhưng cậu con trai đam mê hơn vậy và rất khoái dàn nhạc Glenn Miller nên muốn học đòi. Có lần cậu còn lẻn vào rạp hát để trình cho nhạc trưởng Max Adkins những khám phá của mình. Nhờ vậy mà được ông ta dạy thêm về căn bản phối khí, và cả cách ăn nói cư xử trong một xã hội văn minh của nghệ thuật.

Sau đó, Mancini được học trong ngôi trường nhạc khét tiếng là Julliard nhưng chỉ được một năm là nhập ngũ vào năm 1943, rồi tham gia giải phóng miền Nam nước Ðức vào năm 1945.

Khi chiến tranh kết thúc, nhờ là cựu chiến binh, Mancini được học bổng G.I. Bill để vào trường Westlake School of Music. Nơi đây, ông học với các bậc thầy theo lối chân truyền. Alfred Sendry, một bạn học của Bela Bartok thì dạy về lý thuyết và hòa âm. Con rể Gustav Mahler là Ernst Krenek dạy ông về soạn nhạc cho một ban hòa tấu. Sắc thái đa diện và tài hoa của Henry Mancini kết tụ từ đấy và tỏa hương thơm sang các lãnh vực điện ảnh, nhạc kịch và truyền hình.

Về Henry Mancini, một nhạc trưởng đã để lại câu nói đáng nhớ. Rằng “tất cả các nhạc sĩ viết nhạc phim đều phải chiêm bái bàn thờ của Ông Mancini!” Mà người nhạc trưởng này cũng thuộc loại xuất chúng. Ðó là John Barry.

Ông là nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng nổi tiếng người Anh, đã viết 12 nhạc phim James Bond trong 15 năm và đoạt giải âm nhạc trong các tác phẩm thời danh như Midnight Cowboy, Dances With Wolves, The Lion in Winter và Out of Africa. Dù đã vĩnh viễn sống tại Mỹ, người nhạc sĩ này được quê nhà phong tước nhưng vẫn có lời ngưỡng mộ nhất dành cho Henry Mancini.

Khi đọc truyện, chúng ta ưa lối “phục bút” của nhà văn. Nếu chịu khó nghe kỹ, mình cũng có thể cảm thấy cách “phục nhạc” của Mancini. Trong lối viết bằng ký âm pháp, hình như Henry Mancini còn có cả… dấu hỏi.

Ông giải thích rằng giai điệu của ông khiến người nghe phải tự hỏi, đầu tiên là “nhạc gì vậy ta?”

Rồi mới là câu hỏi “cái gì sẽ xảy ra vậy?” Khi đã tò mò như vậy rồi, người nghe lại thường đoán sai vì nhạc dẫn qua ngả khác nên họ mới càng thích. Cho nên, nếu có nói Mancini soạn nhạc như nhà văn viết truyện trinh thám thì cũng không quá lời. Phải chăng vì vậy, chúng ta còn ưa mãi nhạc phim của Arabesque hay Charade, là hai cuốn trinh thám rất vui với nhạc của Mancini? Nếu có cơ hội, xin quý vị nêm xem và nghe lại hai cuốn phim đó…

Thế thì vì sao kỳ này Quỳnh Giao lại tạp ghi về Mancini? Vì sự lãng quên của người đời chăng?

Sau mấy chục năm sáng chói, sự nghiệp của Henry Mancini bắt đầu đổ dốc từ đầu thập niên 80.

Vì sau đấy, nghệ sĩ soạn ra loại nhạc ồn ào và dễ dãi hơn cho một quần chúng đông đảo ưa thích lối nghẹn ngào hay gào thét trên sân khấu. Viết nhạc trau chuốt như Henry Mancini, với lời từ thật đẹp của một người như Johnny Mercier, đã trở thành chuyện xa xỉ hoặc xa lạ.

Hình như trong tiềm thức, các nghệ sĩ lớn đều có phút tiên tri. Mancini có cả một ca khúc về chuyện này.

Năm 1979, Henry Mancini soạn nhạc cho cuốn phim có tên rất lạ là “10” của đạo diễn Blake Edwards. Cốt truyện là về một nhạc sĩ hết còn khả năng viết ca khúc! Mancini soạn ra bài “It’s Easy To Say” nhưng ca khúc đã chẳng dễ hát lại còn bị chìm trong nhạc phim lấy chủ đề từ bài “Boléro” lừng danh của Maurice Ravel. Từ đấy, ông lui dần vào lãng quên cho đến khi tạ thế vì ung thư lá lách, ở tuổi bảy mươi vào năm 1994 khi ông đang soạn nhạc cho vở nhạc kịch Victoria/Victoria mà không được xem trên sân khấu Broadway.

Mở đầu bài này, người viết nhắc đến Dương Thiệu Tước và Vũ Thành. Thật ra, đấy là hoàn cảnh của nhiều nhạc sĩ khác của chúng ta khi còn sống mà đã hết muốn viết. Nhái lại lời của Nguyễn Khuyến, “viết cho ai, ai hát mà nghe?”

Ðến Henry Mancini mà còn như vậy thì mình cũng chẳng nên buồn. Hãy tự an ủi với bài “Moon River” bất hủ của Mancini trong phim Breakfast at Tiffany’s và câu “…after the rainbow’s end…”

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT