Nếu Vua Thiệu Trị chọn con trưởng, lịch sử Việt Nam khác đi chăng?




 


Lời nói đầu: Theo lịch sử chúng ta đều biết Vua Thiệu Trị đã chọn hoàng tử thứ 2 là Hồng Nhậm lên nối ngôi, hiệu là Vua Tự Ðức, việc này có ảnh hưởng gì đến vương quốc triều Nguyễn sau này chăng? Vì Vua Tự Ðức làm vua tới 36 năm và không có một người con nào cả (dù có tới 103 bà vợ!)


Hoàng đế Thiệu Trị là vị vua thứ 3 của vương triều Nguyễn, sau Vua Gia Long (1802-1820) và Vua Minh Mạng (1820-1840), Vua Minh Mạng có tới 78 hoàng nam và 64 công chúa (142 người con), Hoàng tử trưởng Khánh Công của Vua Minh Mạng là Miên Tông được lên nối ngôi hiệu là Vua Thiệu Trị (1841-1847), mùa Xuân năm 1842 Vua Thiệu Trị theo bước chân của 2 vị vua tiền triều ra Bắc tiếp sứ nhà Thanh để nhận sắc phong vương của triều đình Mãn Thanh ngay tại Hà Nội! Khi đi ra Bắc vua Thiệu Trị để cho hoàng tử trưởng Hồng Bảo ở lại triều đình Huế để xử lý công việc nước nhà! Còn Hồng Nhậm (người con thứ hai lúc này chỉ mới 14 tuổi) được cho đi theo cùng Vua cha ra Bắc! Thời kỳ xa xưa việc Vua đi xa ra khỏi kinh thành là việc quan trọng đến an ninh quốc gia, vì đường sá xa xôi ngăn trở di chuyển không thuận tiện và thời gian thường là khá dài! (Vua ban bố cho toàn dân biết việc Bắc tuần). Có thể nói Vua Thiệu Trị là vị vua cuối cùng nhận sắc phong của nhà Thanh ở Hà Nội. (Còn đời Vua Tự Ðức thì nhà vua lấy lý do, kinh đô của nước Việt ở Huế chứ không phải là Hà Nội, nên việc tiếp sứ Thanh cũng ở ngay kinh đô triều đình Huế).


Năm 1847, vua Thiệu Trị bệnh nặng và sắp mất, trong khi hoàng tử trưởng Hồng Bảo lại đang vui chơi ở ngoài cung, nhà vua không bằng lòng và lấy lý do Hồng Bảo tuy con trưởng nhưng là con của bà thứ suất (không phải con bà chánh phi Từ Dũ) lại ham chơi nên không nối nghiệp lớn đặng! Còn hoàng tử thứ 2 là Hồng Nhậm thông minh ham học lại là con bà chánh phi Từ Dũ nên cho lên nối ngôi, tức Vua Tự Ðức! (Tháng 10 năm Ðinh Mùi 1847 lúc đó Hồng Nhậm mới 19 tuổi), không biết khi chọn Hồng Nhậm lên kế vị, Vua Thiệu Trị có bị ảnh hưởng bởi 2 quyền thần Phạm Ðăng Hưng (bố vợ Vua Thiệu Trị, và Trương Ðăng Quế “cũng là con rể Phạm Ðăng Hưng” và là anh em cột chèo với Vua Thiệu Trị) không? Chúng ta còn nhớ bệnh viên sản khoa Từ Dũ trước 1975 ở góc đường Hồng Thập Tự và đường Cống Quỳnh quận nhất Saigon, Từ Dũ chính là tên mẹ của Vua Tự Ðức! (Vua Thiệu Trị có 29 hoàng nam và 25 công chúa). Vua Tự Ðức nhỏ người nhưng thông minh hay làm thơ phú, không quyết đoán trong công việc, nhưng lại rất có hiếu với mẹ, ông là vị vua trị vì lâu nhất trong 13 vị vua triều Nguyễn (tới 36 năm từ 1847-1883). Tuy vào những năm cuối đời Tự Ðức, người Pháp đã can thiệp xâm lấn và làm cho nước ta mất chủ quyền từ đó! Nguyễn Trường Tộ đã được ra nước ngoài, về nước đã dâng sớ xin nhà Vua chấn hưng và sáng kiến cải cách (1866), rơi vào chậm tiến và lạc hậu! Việc triều đình nhận ra sự yếu kém về mọi mặt do sự bế quan tỏa cảng của nước nhà, thì phải nói là đã chậm quá rồi!


Nếu Hồng Bảo được lên nối ngôi thì sẽ không có việc Ðoàn Trưng và Ðoàn Trực làm loạn ở kinh thành Huế (Ðoàn Trưng là rể của Tùng Thiện Vương cùng một số bạn hữu lập ra Sơn Ðông Thi Hội, mưu lập Ðinh Ðạo con của Hồng Bảo lên làm Vua). Năm 1866 Tự Ðức thứ 19, nhà vua cho xây Vạn Niên Cơ, dựa vào việc công nhân thợ thầy vất vả cực khổ trong việc xây lăng mộ Vua Tự Ðức, Ðoàn Trưng và đồng bọn lợi dụng sự thán oán của công nhân và binh lính đang xây lăng, với ý định giết chết Vua Tự Ðức để tôn Ðinh Ðạo lên làm vua (Ưng Ðạo sau vụ phản loạn của cha là Hồng Bảo đã phải đổi qua họ mẹ là Ðinh Ðạo).


“Vạn niên là Vạn niên nào?


Thành xây xương lính, hào đào máu dân!”


Nhóm tổ chức lật đổ Vua Tự Ðức lấy lý do yểm trợ con trưởng là Hồng Bảo lên làm Vua, ngày 8 tháng 8, 1866 Ðoàn Trưng đem quân vào cửa Ngọ Môn kinh thành Huế, may nhờ chưởng vệ Hồ Oai đóng kịp cửa Ðiện hô quân bắt được Ðoàn Trưng và đồng bọn (biến loạn này còn gọi là giặc Chày Vôi). Về vụ này Ðoàn Trưng và đồng đảng đều bị tử hình, nhưng vợ Ðoàn Trưng là Công nương Thể Cúc và con Ðoàn Trưng lại không bị giết, cũng như bố vợ là ngài Tùng Thiện Vương (Chú ruột Vua Tự Ðức) chỉ bị phạt về lương bổng mà thôi! Còn Ðinh Ðạo (cháu ruột gọi vua Tự Ðức là chú ruột).


Do không có con, Vua Tự Ðức đã chọn 3 người cháu của mình làm con nuôi để nối ngôi trong mai hậu! Ðó là Ưng Chân, Ưng Ðường và Ưng Ðăng. Ưng Chân là con trưởng của Thái Thượng Vương Hồng Y (con thứ 4 của Vua Thiệu Trị).


Vua Tự Ðức mất ngày 19 tháng 7, 1883, thọ 53 tuổi ở ngôi 36 năm, không có con mặc dù có tới 103 bà vợ. Theo di chiếu Ưng Chân được lên nối ngôi với 3 phụ chánh đại thần là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết (khổ nỗi trong di chiếu nhà Vua lại đề cập những thói hư tật xấu của Ưng Chân!). Trước ngày đăng quang, Ưng Chân đã xin với 3 đại thần sẽ không đọc một đoạn nhận xét bất lợi của vua về mình, cả 3 đại thần đều đồng ý. Khi Trần Tiễn Thành đọc di chiếu thì Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã vin vào cớ đọc bỏ sót di chiếu và các tội khác của Ưng Chân (Vua Dục Ðức) để phế bỏ Vua Dục Ðức với các tội như sau:


-Tự ý cắt bỏ một đoạn trong di chiếu của vua cha!


-Tự tiện đưa 1 số giáo sĩ vào hoàng thành.


-Mặc áo màu xanh trong khi đang có tang vua cha.


-Thông dâm với một số cung nữ của vua cha.


Vua Dục Ðức bị tống giam tại một phòng kín vừa được xây dựng nên ngay trong biệt điện của mình, Vua Dục Ðức bị đối xử như một tù nhân thường, nhờ người lính gác thương tình cho chút thức ăn sống thoi thóp được non 1 tháng thì chết! Xác bị vùi trên một quả đồi, không có cả quan tài, và cũng không được ai đưa tang! (Hơn 20 năm sau, người con trai thứ 7 tức Bửu Lân được lên ngôi tức Vua Thành Thái, mới khôi phục lại Ðế hiệu cho vua cha và tôn là Cung Tôn Huệ Hoàng Ðế!). Vua Dục Ðức chỉ làm vua có 3 ngày, bị giam và bỏ đói cho đến chết. Vua mất ngày 24 tháng 10, 1884 thọ 31 tuổi!


Ðến đây việc phế lập hoàn toàn không theo qui tắc nào cả, em út Vua Tự Ðức là Hồng Dật sanh năm 1847, theo ý của Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường cùng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (mẹ đẻ Vua Tự Ðức), triều đình cử phái đoàn ra Kim Long rước Lăng Quốc Công Hồng Dật vào Ðại Nội chuẩn bị lễ đăng quang, thế là 2 hôm sau Hồng Dật lên ngôi lấy hiệu là Vua Hiệp Hòa! 2 đại thần Tường và Thuyết cậy mình có công trong việc lập vua mới, thâu tóm mọi quyền hành trong triều, không đếm xỉa gì đến nhà vua, Hiệp Hòa giận lắm, ngấm ngầm chống đối, nhà vua điều Thuyết từ Bộ Binh sang Bộ Lại, làm vua được gần 4 tháng, nhận được mật sứ của 2 người thân tín là Hồng Phi (tham chi Bộ Lại con trai của Tùng Thiện Vương) và Hồng Sâm (con trai Tuy Lý Vương). Vua Hiệp Hòa phê vào sớ: giao cho Trần khanh (Trần Tiễn Thành) phụng duyệt, mật chiếu bỏ vào tráp và giao cho thái giám Trần Ðại đem đến cho Trần Tiễn Thành ở Chợ Dinh (có người nói ở Gia Hội), việc bị bại lộ, Tường và Thuyết tìm cách phế bỏ Vua Hiệp Hòa bằng cách nói: Vua Hiệp Hòa, Trần Tiễn Thành, Hồng Phi và Hồng Sâm có âm mưu dựa vào quân Pháp, để giết hại 2 phụ chánh đại thần, với chứng cớ là tờ mật chiếu của Vua Hiệp Hòa. Tường và Thuyết vào Cung Diên Thọ xin ý chỉ của Hoàng Thái Hậu, đồng thời cho người dẫn 50 lính vào Ðiện Càn Thành, bắt Vua Hiệp Hòa phải tự xử mình theo lệ “tam ban triều điển” dành cho các vị đế vương, khanh tướng phạm tội tử hình! Ðang đêm khuya nhà vua mới biết có biến sự thì sự việc đã trễ rồi! Vua sai thái giám đem chiếu nhường ngôi tới và xin được trở về phủ cũ của mình. Tường và Thuyết vờ nhận lời cho người đưa võng vua và cung phi về phủ cũ ở xã Phú Xuân, song lại bí mật dặn riêng Ông Ích Khiêm và Trương Văn Ðể đón ở cửa Hiển Nhơn, chận đường đưa vua đến nhà Hộ Thành, ép vua uống thuốc độc chết! Riêng Trần Tiễn Thành cáo ốm ở nhà cũng bị Tôn Thất Thuyết phái lính đến nhà giết chết ngay đêm đó! (Ðó là một ngày mùa Ðông 29 tháng 11, 1883). Hiệp Hòa làm vua được gần 4 tháng chết năm 37 tuổi, giao cho Tôn Nhơn Phủ chon cất theo nghi lễ Quốc Công!


Ưng Ðăng là con nuôi thứ ba của Vua Tự Ðức, sanh năm 1870, là người con mà lúc sanh thời Vua Tự Ðức rất thương yêu, Tường và Thuyết cho người đón vào cung để lập lên làm vua, Hoàng tử Ðăng trả lời: ta còn bé sợ làm không nổi! 2 phụ chánh Tường và Thuyết nói: Tiên đế (Tự Ðức) đã có ý ấy nhưng chưa kịp làm! Nay mệnh Trời, vậy hoàng tử nên nghĩ đến tôn miếu xã tắc làm trọng! Xong họ truyền lệnh họp triều thần tôn lập vua mới, thế là ngày mồng 1 tháng 12 năm Quý Mùi (1883), Ưng Ðăng lên nối ngôi lúc mới 12 tuổi, hiệu là Vua Kiến Phúc. Nguyên Học Phi Nguyễn Thị Hường là dưỡng mẫu nhận nuôi Ưng Ðăng khi chỉ mới 2 tuổi. Từ ngày Ưng Ðăng lên ngôi thế lực bà Học Phi ngày càng lớn, Nguyễn Văn Tường nhận ra điều này, và Tường hết sức tranh thủ cảm tình của bà Học Phi, dịp may đã đến với Tường, khi nhà vua bị bệnh đậu mùa. Học Phi ngày nào cũng ở cạnh nhà vua bé bỏng của mình! Từ tờ mờ sáng đến tối nửa đêm, thế là phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường tối nào cũng vào chầu Hoàng đế cho đến tận nửa đêm khuya khoắt mới về. Trước thái độ quá ân cần và có chiều lả lơi với dưỡng mẫu Học Phi. Kiến Phúc rất bất bình và lấy làm khó chịu! Có lần thiu thỉu ngủ nghe được câu chuyện tình tứ giữa 2 người, nhà vua liền quát: “Khi nào lành bệnh rồi, tao sẽ chặt đầu cả 3 họ nhà mi!” Tường nghe được lo sợ cho số phận mình, bèn xuống Thái Y Viện lấy thuốc pha chế rồi đưa cho Học Phi, theo lời khuyên của dưỡng mẫu, Kiến Phúc đã uống thuốc đó cho tới sáng hôm sau thì qua đời! (Kiến Phúc mất ngày 31 tháng 7, 1884), làm vua được 8 tháng. Ngay chiều hôm đó, tại buổi thiết triều bất thường, Tường tuyên cáo Vua Kiến Phúc đã băng hà vì bệnh tình biến chuyển đột ngột, và đưa em ruột là Ưng Lịch lên ngôi, còn nhỏ chỉ mới 13 tuổi (1883) lấy hiệu là Vua Hàm Nghi! Mọi việc triều chính đều ở trong tay Tường và Thuyết. Sự lộng hành và chuyên quyền của 2 ông Tường và Thuyết trong việc phế lập 3 vị vua nói trên làm cho lòng người càng thêm chán ghét! Trong dân gian có câu vè sau dành cho 2 ông phụ chánh đại thần:


“Nhất giang lưỡng Quốc nan phân THUYẾT,


Tứ nguyệt tam Vương điệu bất TƯỜNG!”


Làm sao Thuyết minh được khi chỉ cách một dòng sông (Hương) mà bên tả ngạn là triều đình Huế của Việt Nam, còn bên hữu ngạn là Tòa Khâm Sứ của Pháp quốc! Chỉ trong có 4 tháng mà có tới 3 vị vua bị phế lập và chết một cách mờ ám, không phải là điềm bất Tường chăng!


Vì sự lộng quyền của Tường và Thuyết trong việc phế lập 3 vua nói ở trên, cũng như lễ đăng quang Vua Hàm Nghi ngày mồng 1 tháng 8 năm Giáp Thân (1884) không được Nam triều thông báo cho Tòa Khâm Sứ Pháp tại Trung Kỳ, do thế Pháp đã không thừa nhận vua mới (Vua Hàm Nghi). Khâm sứ Pháp yêu cầu các Ðại thần Cơ Mật Viện sang tòa khâm sứ Pháp để bàn định việc gặp gỡ giữa Vua Hàm Nghi và đại diện tối cao chính phủ Pháp, song Tôn Thất Thuyết từ chối!


Việc Tôn Thất Thuyết từ chối không chịu để Vua Hàm Nghi và đại diện tối cao Pháp gặp gỡ, Tướng De Courcy dọa sẽ đem quân sang bắt! Trước tình thế không thể trì hoãn, nên đêm 22 rạng 23 tháng 5 năm Át Dậu (1885) Tôn Thất Thuyết ra lệnh tấn công bất ngờ vào đồn Mang Cá và đồn Pháp cạnh Tòa Khâm Sứ Pháp, quân ta ban đầu đánh rất hăng hái, song vì vũ khí quá thô sơ và giao liên quá non kém, nên chỉ sau mấy giờ lâm trận quân ta hoàn toàn thất bại! Kinh thành Huế bị thất thủ, dân chúng chạy tán loạn và bị chết rất nhiều! (Sau đó người dân Huế có tục lệ cúng cô hồn vào ngày 23 tháng 5 âm lịch hằng năm, như một hình thức tưởng nhớ những người đã chết oan!). Thuyết hạ lệnh tập hợp tàn quân chực sẵn ở Cửa Chương Ðức rồi vào Cung rước Vua Hàm Nghi và Tam Cung chạy khỏi Hoàng thành! Xa giá nhà vua và Tam Cung đi ra Quảng Trị, Ngự Ðạo có hơn cả ngàn người, qua 2 ngày đi đường đoàn Ngự đạo đã ra đến Quảng Trị. Theo ý Từ Dũ Thái Hậu, Thuyết chia Ðạo Ngự ra làm 2, đoàn thứ nhất theo Từ Dũ trở lại Huế gồm Hoàng Thân quốc thích, phụ nữ và quan lại già yếu gánh nặng gia đình, đoàn thứ 2 theo Vua Hàm Nghi ra Tân Sở (phía Tây Quảng Trị giáp giới Lào) xây dựng căn cứ tiếp tục chống Pháp! Ở đây Tôn Thất Thuyết thuyết phục Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, dân chúng và sĩ phu theo khá đông! Pháp vô cùng lúng túng vì phong trào Cần Vương lớn mạnh! Pháp nghĩ kế ly gián tìm cách bắt Vua Hàm Nghi để dẹp phong trào Cần Vương từ đầu não! Pháp dùng kế phản gián, mua chuộc Trương Quang Ngọc bắt được Vua Hàm Nghi và giao cho Pháp, ở căn cứ Hà Tĩnh đưa xuống thuyền vào Huế ngày 14 tháng 11 năm Mậu Thân (1888), bấy giờ vua chỉ mới 17 tuổi! Pháp tìm cách thuyết phục mua chuộc nhưng nhà vua khăng khăng từ chối! Thực dân Pháp đành đày vua đưa an trí ở Algerie! Ở đây vua thích hội họa và âm nhạc với một gia đình nhỏ gồm vợ người Pháp, con của một vương chức thương chính tên là Lalauer, nhà vua có 3 con: Hoàng tử Minh Ðức và 2 công chúa Như Mai, Như Lý, nhà vua ở đây 47 năm và thọ được 64 tuổi!


Còn về phần của 2 ông Tường và Thuyết như sau:


Nguyễn Văn Tường ra đầu thú với Pháp tại Tòa Khâm Sứ Pháp, sau đó bị Pháp đày đi đảo Tahiti, ở đây Tường bị bệnh ung thư cổ, không ăn uống được gì, Tường chết ngày 30 tháng 7, 1886.


Còn Tôn Thất Thuyết trước sự truy tầm gắt gao của Pháp, Thuyết phải để vua ở lại Quảng Bình với 2 con trai của mình là Tôn Thất Ðàm và Tôn Thất Thiệp để tìm đường ra Bắc, rồi trốn sang Trung Hoa, Thuyết nương thân ở đây cho tới ngày qua đời!


Sau khi Vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở như nói trên, ngai vàng xem như bị bỏ trống! Pháp bàn với đại thần Nguyễn Hữu Ðộ và Phan Ðình Bình lập Ưng Ðường (Con nuôi Vua Tự Ðức) lên ngôi hiệu là Vua Ðồng Khánh (1885) lúc vua mới 20 tuổi. Riêng Phan Ðình Bình thì ưng lập Hoàng tử Bửu Lân (Con của Vua Dục Ðức mà sau này là Vua Thành Thái), vì lẽ Phan Ðình Bình chính là bố vợ Vua Dục Ðức hay nói khác đi là Ông ngoại của Hoàng tử Bửu Lân! Còn đại thần Nguyễn Hữu Ðộ đã từng giữ nhiều chức vụ lớn ở Bắc Kỳ cũng như ở triều đình Huế, lại nữa ông ta có con gái làm Chánh phi Vua Ðồng Khánh (tức ông là bố vợ Vua Ðồng Khánh). Kể từ đời Ðồng Khánh có thể nói là vị vua thân với nhà nước bảo hộ Pháp nhất! Vua mong như vậy để cứu sự suy sụp của nước nhà! Vua Ðồng Khánh thường tiếp đón Khâm Sứ Pháp tại Ðiện Thái Hòa. Trong ban giao với Pháp, uy quyền Pháp càng tăng thì uy quyền Nam triều càng tụt giảm! Lúc còn là hoàng tử, Ưng Ðường cũng ham học, và hay nghiên cứu về các loại sách kinh dịch và bói toán. Hoàng tử thường lên đền Ngọc Trản soi bóng bên dòng sông Hương thơ mộng để lễ bái (còn gọi là Ðiện Hòn Chén) cầu xin Nữ thần Po Na-gar (Thiên Y Ana) cho được nối ngôi triều Nguyễn, và hỏi thần đến bao giờ thì mình được toại nguyện! Theo truyền thuyết dân gian thì Nữ thần đã tiên đoán đúng ngày đăng quang và cho biết nhà vua chỉ trị vì được 3 năm mà thôi! Sau khi lên ngôi, nhà vua đã cho đổi tên Ðền Ngọc Trản thành Huệ Nam Ðiện để tạ ơn Thánh Mẫu (biểu dương ân huệ của Nữ thần!) Bắt đầu ngày 12 tháng 11, 1888 nhà vua bệnh nặng, đến ngày 18 tháng 1, 1889 thì nhà vua băng hà! Vua Ðồng Khánh có 6 con trai và 2 con gái, nhưng chỉ nuôi được có 1 trai đó chính là Hoàng tử Bửu Ðảo (mà sau này tức Vua Khải Ðịnh và là thân phụ của Vua Bảo Ðại). Vua Ðồng Khánh cũng như Vua Hàm Nghi đều là con của Kiến Thái Vương Hồng Cai (Hồng Cai là con thứ 26 của Vua Thiệu Trị). Ðồng Khánh sanh 1864 còn Hàm Nghi sanh 1871 nhỏ hơn 7 tuổi! Nhưng điều trớ trêu của lịch sử là 2 anh em một nhà lại trở thành kẻ thù địch, Vua Ðồng Khánh theo Pháp chống lại Vua Hàm Nghi cầm đầu phong trào Cần Vương! Nói về Kiến Thái Vương Hồng Cai có 3 người con đều làm vua nên dân gian có câu hát:


“Một nhà sanh đặng ba Vua,


Vua còn, Vua mất, Vua thua chạy dài!”


(Vua còn là Vua Ðồng Khánh, Vua mất là Vua Kiến Phúc và Vua Hàm Nghi là Vua thua chạy dài, hay Vua thua đi đày cũng thế!)


Ðọc sử ta thấy rằng, Vua Minh Mạng chọn con trưởng là Dong (tức Hoàng tử trưởng Khánh Công), Dong được sanh ra có 13 ngày thì mẹ mất, mẹ của Dong tức vợ Vua Minh Mạng mang họ Hồ (Con của công thần Hồ Văn Bơi quê tỉnh Biên Hòa), vì mẹ mất sớm nên Dong đã được các cung nữ nuôi dưỡng và có tên mới là Miên Tông! (Là con trưởng trong số 78 hoàng nam của Vua Minh Mạng)! Thế nhưng Vua Thiệu Trị đã không theo lệ Vua cha Minh Mạng, mà lại chọn con trai thứ là Hồng Nhậm (Tự Ðức) lên nối ngôi, mà bỏ con trưởng Hồng Bảo, gây nên biết bao chuyện như đã nói tới ở trên, từ vụ Hồng Bảo, cho đến vụ Ðoàn Trưng khởi loạn (giặc Chày Vôi) để lập Ưng Ðạo con của Hồng Bảo, Vua Tự Ðúc có nhiều vợ nhưng không có người con đẻ nào, làm Vua lâu tới 36 năm, quan lại triều đình nhất là Trương Ðăng Quế có nhiều quyền hành hơn cả! Triều đình thì quá trì trệ bảo thủ, Trương Ðăng Quế là anh em cột chèo với Vua Thiệu Trị! (Bà Từ Dũ là chị em ruột với vợ Trương Ðăng Quế, không biết khi chọn con thứ Hồng Nhậm, (Vua Thiệu Trị có bị Trương Ðăng Quế ảnh hưởng gì hay không?) Khi Tự Ðức truyền ngôi cho con nuôi, (Ưng Chân Dục Ðức) thì trong di chiếu lại có những câu khó nghe, không được đọc lên làm cho 2 đại thần Tường và Thuyết vin cớ để tự tiện phế lập vua, lộng quyền và chuyên quyền như đã thấy nói ở trên! Nếu Vua Thiệu Trị chọn con trưởng thì đã không có vụ Hồng Nhậm (Tự Ðức), lại chẳng có vụ Tường và Thuyết không biết lịch sử nước Việt khác đi thế nào?


Ngoài ra có một nguồn dư luận cho rằng Hồng Nhậm (Tự Ðức) không phải là con đẻ của Vua Thiệu Trị, xin cũng được nói ra đây để cùng nhau suy luận: việc này do ông Minh Vũ Hồ Văn Châm viết trên báo Bút Việt số 1052 ngày 5 tháng 3, 2004 (tôi không rõ đây có phải là B/S Châm người Huế làm tổng trưởng Chiêu Hồi thời VNCH không?). Theo ông Châm thì trong lúc vui miệng ông Tôn Thất Dương Kỵ (ông Tôn Thất Dương Kỵ này hẳn các bạn đã không quên với 1 người khác nửa tôi không nhớ tên có khuynh hướng Cộng Sản nên đã được nhà cầm quyền VNCH đưa ra Bắc qua cầu Hiền Lương ở Vĩ tuyến 17 Bến Hải trước 1975) Giáo Sư Dương Kỵ dạy sử địa có kể như sau: Rằng Tổ Tiên nhà Nguyễn rất linh thiêng, đã khiến cho Vua Tự Ðức tuy làm vua tới 36 năm có tới 103 bà vợ nhưng không có một người con đẻ nào cả, vua Tự Ðức cũng thừa nhận tội lớn nhất của mình là không có con đẻ nối dõi tông đường! Nguyên Trương Ðăng Quế (tước Tuy Thịnh Quận Công), và Vua Thiệu Trị đều là con rể của Ðức Quốc Công Phạm Ðăng Hưng, Vua Thiệu Trị kết hôn với bà chị tức bà Từ Dũ, còn Trương Ðăng Quế kết hôn với bà em. Bản thân Phạm Ðăng Hưng vốn là đệ nhất quyền thần, đã giữ chức Thái Sư trải 3 triều Vua, nay con gái (Từ Dũ) ở chức Mẫu Nghi thiên hạ! Con rể (Trương Ðăng Quế) kế nghiệp đứng đầu trăm quan, quyền uy họ Phạm, họ Trương quả là quá lớn! Ngặt một nỗi chính cung Từ Dũ vẫn chưa có con trai, trong lúc các bà thứ phi khác thì đã có con trai (hoàng nam), vạn nhất nếu Vua Thiệu Trị có mệnh hệ gì thì địa vị của 2 họ Phạm và Trương sẽ bị đe dọa! Do vậy kịp lúc 2 chị em bà Từ Dũ cùng mang thai, 2 bà mới bí mật bàn định nhau, nếu bà Từ Dũ mà sanh con gái và bà Quế sanh con trai thì 2 bà sẽ tráo con cho nhau! Sự việc diễn ra đúng như dự kiến. Do vậy con trai Trương Ðăng Quế (gốc người huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi) trở thành con Vua Thiệu Trị (Tự Ðức). Lại nữa Vua Tự Ðức người nhỏ nhắn thiếu chiều cao, có phần gần gũi với tầm vóc người xứ mía đường Quảng Ngãi, còn dòng dõi hoàng tộc triều Nguyễn quê quán gốc gác Thanh Hóa thường dong dỏng cao! Lại nửa phần đông hoàng tộc Nguyễn con cái thường đông đúc! Chính sử triều Nguyễn không thấy nói gì về việc này!


 


Xứ Vạn Hồ (Minnesota) mùa Ðông Giáng Sinh năm 2011


Hoàng Thân Vinh

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT