Nhìn lại phong trào tranh đấu bất bạo động của Gandhi
Bất bạo động, bất hợp tác hay vũ trang?
Việt Nguyên
Hội nghị ASEAN kết thúc với kết quả không bất ngờ đối với những nhà phân tích thời cuộc. Số báo Economist đầu năm đã tiên đoán, với Campuchia năm 2012 giữ vai trò chủ tịch luân phiên, ASEAN sẽ bị Bắc Kinh khống chế. Mô hình Trung Quốc của đảng cộng sản Việt Nam cho thấy sự hèn kém của đảng khi đối đầu với kẻ thù chung của dân tộc, nhưng thẳng tay với những người yêu nước, vì quyền lợi cá nhân của các nhà lãnh đạo đảng.
Những cuộc biểu tình bất bạo động chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa và Trường Sa tiếp tục bị đàn áp nhưng sự ngạo mạn của đảng CSVN bước qua giai đoạn mới. Từ năm 1975 đến 1995 trước khi bang giao với Hoa Kỳ, đảng CSVN ngạo mạn trong sự ngu dốt, từ sau 1995, đảng CSVN ngạo mạn trong quyền lực và năm 2012, đảng CSVN đang ngạo mạn trong sợ hãi, sợ hãi với dân và sợ bóng ma.
Một bóng ma VNCH đã ám ảnh Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng với lời tuyên bố: “Hoàng Sa lúc ấy đã nằm dưới sự quản lý của VNCH. VNCH đã phản đối hành động xâm lược của TQ và đề nghị LHQ can thiệp,” sợ bóng ma của một quốc gia có chủ quyền được Liên Hiệp Quốc công nhận, đảng còn sợ đến bóng ma của các chiến sĩ VNCH khi thình lình thu hồi CD “Tàu Ðêm Năm Cũ” của ca sĩ Vi Thảo với 9 bài ca, trong đó lời nhạc của Trúc Phương: “Trời đêm dần tàn, tôi đến sân ga đưa tiễn người trai lính về ngàn” như lời kêu gọi tình tự dân tộc.
Mô hình đấu tranh bất bạo động? Những cuộc biểu tình chống Trung Cộng của dân Việt Nam đang tiếp diễn có hình thức giống như mô hình tranh đấu của bà Ang San Suu Kyi ở Miến Ðiện trong giai đoạn đầu khi chính quyền từ chối đối thoại với đối lập. Những nhà đấu tranh đã nhắc đến Thánh Gandhi một hình ảnh tranh đấu bất hợp tác và bất bạo động của Ấn Ðộ, cuộc tranh đấu của Mahatma Gandhi là một trong những bài học cho những nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam.
Cuộc đấu tranh giành độc lập của Mohandras Karamchan Gandhi bắt đầu năm 1915 ở Bombay khi ông trở về từ Nam Phi sau 21 năm hành nghề luật sư, tranh đấu dân quyền cho cộng đồng người Ấn (Luật Sư Gandhi bị kỳ thị da màu, bị tống xuống xe lửa) ở Nam Phi. Là một lãnh tụ không sợ hãi trước quyền lực nhưng thiếu kinh nghiệm chính trị, đem chiến thuật và phương pháp tranh đấu cùng kinh nghiệm cá nhân học từ Nam Phi ông ủng hộ tranh đấu của dân lao động vào năm thế chiến thứ nhất chấm dứt ở tỉnh Bihar, nông dân và công nhân nhà máy dệt ở Gujarat. Tiếng tăm vang khắp nước sau hai năm, ông thay đổi bộ mặt chính trị Ấn Ðộ làm rung chuyển quyền lực chính trị của người Anh và thay đổi đảng Nghị Hội Ấn Ðộ.
Gandhi là một nhà lãnh đạo chính trị thu hút quần chúng, mặc dù không hùng biện. Ông có tài tổ chức, tạo ra được tinh thần quốc gia yêu nước cho dân Ấn. Ông làm việc chăm chỉ, có hiệu quả, có tài gây quỹ, nhờ vậy mà xây dựng lại đảng Nghị Hội từ trên xuống dưới, từ cấp lãnh đạo đảng xuống đến tỉnh, quận và làng xóm. Vì không thèm để ý đến quyền lực và chức vị nên ông luôn luôn thành công trung gian giải hòa giữa các phe nhóm trong đảng.
Phương pháp tranh đấu của Gandhi đề ra cho đảng là bất bạo động, bất hợp tác, chống đối thụ động, quan niệm học từ nhà văn Nga Leo Tolstoy (tác giả Chiến Tranh và Hòa Bình). Năm 1908, nhà văn Tolstoy viết cuốn “Lá thơ gởi Ấn Ðộ” (Letter to India) trong đó ông chủ trương dùng tình thương trong phương pháp chống đối thụ động. Gandhi xin phép Tolstoy in lại sách ở Ấn Ðộ. Trong khi Tolstoy ăn chay và theo chủ thuyết hòa bình vẫn giữ đạo Thiên Chúa thì Gandhi sống khổ hạnh và theo đạo Ấn Hindu, thay đổi chủ trương của Tolstoy Sự Thật không Thụ Ðộng, nó là sức mạnh từ đó Gandhi dùng chữ Satyagraha (ông dịch là Sự Thật – Sức Mạnh hay Sức Mạnh từ Sự Thật). Ông bị ảnh hưởng của cuốn Ramayana (kinh Hindu), được ông xem là cuốn sách vĩ đại hơn tất cả kinh sách khác và cũng như tất cả các người Ấn Ðộ ông giữ tinh thần quốc gia, thờ thần khỉ Rama, thời kỳ vàng son của Ấn Giáo Ramarajya, truyền thuyết 2000 năm trọng đó thần Rama chiến thắng quỷ Ravana. Phương pháp bất hợp tác của Gandhi đi lên bốn bước nếu chính quyền bảo hộ Anh Raj không nhượng bộ:
1) Từ bỏ chức tước chính quyền ban
2) Từ chức, ra khỏi chính quyền dân sự
3) Từ chức ra khỏi cảnh sát, quân đội
4) Không đóng thuế.
Nổi tiếng nhất là vụ chống thuế muối ngày 5 tháng 4 năm 1930 ở làng Dandi với hơn 50,000 dân làng theo ông. Chủ trương tẩy chay bầu cử từ tòa án đến trường học và hội đồng đại biểu các cấp của đảng đã làm cả nước Ấn kích động, đưa đến những tổ chức tự nguyện, gây ra áp lực cho toàn quyền Anh và rối loạn trong thời kỳ kinh tế khó khăn với giá thực phẩm gia tăng. Các nghiệp đoàn công nhân được thành lập, đình công bãi thị xảy ra tại các thủ đô lớn Bombay và Calcutta. Vũ khí lớn nhất vẫn là từ chối đóng thuế đất, chính Gandhi từ chối đóng thuế thổ sản ngày 1 tháng 2, 1922 tại quận Bordell tỉnh Gujarat nơi ông cư ngụ. Bốn ngày sau cảnh sát thành phố Chauri Chaura bắn vào đám đông biểu tình phản đối giá thực phẩm gia tăng, giết 3 người biểu tình khiến Gandhi ngồi tuyệt thực năm ngày. Hình ảnh Thánh Gandhi ngồi bên bánh xe dệt vải, ở trần quấn xà rông trắng in đậm vào lòng dân và trên đồng bạc Ấn đã tượng trưng cho phong trào bất bạo động nhưng phương pháp bất bạo động là huyền thoại.
Thời kỳ Gandhi ở Nam Phi, ông đã tình nguyện đi lính cho thực dân Anh, khiêng băng ca trong trận chiến Boer và trong trận chiến tiêu diệt kháng chiến quân Zulu năm 1906. Trong Thế Chiến Thứ Nhất ông tổ chức xe cứu thương cho quân đội Anh. Năm 1918, ông tuyển mộ quân cho Anh ở Flanders và Bihar, ông chủ trương dùng bạo lực nếu cần, thực hành Ahimsa (biết cách giết người) đánh nhau vô điều kiện cho đến chết, những điều dạy trong cuốn sách nổi tiếng của Hindu “Bhagavad Gita.” Nhờ cá tính và ý chí sắt, nhất là tài truyền đạt (ông đã viết thơ, sách, các bài xã luận tổng cộng lên đến 50,000 trang tuyển tập bỏ xa Marx và Lenin nói chi là Mao Trạch Ðông và Hồ Chí Minh) đảng của ông từ 80,000 đảng viên năm 1928 lên đến 450,000 năm 1929. Ông vào tù ra khám sau những vụ biểu tình bất bạo động. Năm 1932, phong trào bị đàn áp nhưng năm 1934 chính quyền bảo hộ bỏ lệnh cấm Nghị Hội hoạt động giúp phong trào phát triển nhanh hơn và tư tưởng của Gandhi cũng thay đổi. Năm 1940 ông tuyên bố: “Chúng ta phải chấp nhận bạo động một nghìn lần hơn là chấp nhận sự rủi ro diệt chủng, chấp nhận bạo động để phá vòng nô lệ.” Năm 1942, ông tuyên bố với báo chí “máu đổ đầy các sông Ấn có thể là giá phải trả cho tự do.” Năm 1946, con người ôn hòa bất bạo động đập bàn nói với quan toàn quyền: “Nếu Ấn Ðộ muốn tắm máu, Ấn Ðộ sẽ làm được!”
Rạn nứt vì tôn giáo
Phong trào tranh đấu của đảng Nghị Hội do Gandhi lãnh đạo thay đổi chiến thuật theo thời gian. Giai đoạn đầu Gandhi không chủ trương đòi độc lập cho Ấn Ðộ, năm 1922 ông chủ trương Ấn Ðộ cần nằm trong liên hiệp Anh như Nam Phi, năm 1928 ông nói hẳn chủ trương của ông là chống lại một nước Ấn Ðộ độc lập đối với Anh khi bị áp lực của thế hệ trẻ trong đảng, chủ trương bất hợp tác của Gandhi không đồng nghĩa với sự đòi hỏi đuổi người Anh về nước. Ông muốn có một sự ổn định cho Ấn Ðộ hơn là nhìn thấy cuộc cách mạng vô sản. Nghị Hội tập trung các thành phần kỹ nghệ gia, doanh thương, giới nông dân giàu, những người có nghề nghiệp nhưng không chấp nhận đấu tranh giai cấp. Ông chủ trương phải bảo vệ tài sản tư nhân nhưng mặt khác ông lại chống nền văn minh Tây Phương. Những cái nhìn vào thời kỳ đầu rất quá độ như Marx Lenin: xe lửa là phương tiện truyền bệnh dịch hạch, bệnh viện là nơi phát triển tội lỗi của con người, nông dân không nên biết văn chương, văn học chỉ khiến nông dân bất mãn với đời sống với cái chòi bên thửa ruộng, dân không cần học cao, cái học không làm nên con người nó chỉ là phương tiện truyền bá nền văn minh quỷ quái phương Tây.
Chủ trương của Thánh Gandhi dựa trên niềm tin tôn giáo, Ấn Giáo đa số ở Ấn Ðộ, đã gây nên rạn nứt giữa Ấn và Hồi Giáo. Ông xem tôn giáo quan trọng hơn chính trị và tôn giáo của Mahatma Gandhi (Mahatma có nghĩa là linh hồn vĩ đại) sau này lẫn lộn giữa đạo Jain (đạo xem trọng sinh vật, các ông đạo ngồi kiết già ở truồng, quét sạch sâu bọ trước khi ngồi dễ lầm với đạo Phật) Ấn Giáo, cùng Thần Trí (Theosophy) của bà Blavotsky người Nga và Thiên Chúa Giáo (phái bí truyền Cơ Ðốc liên minh). Ông tin vào nghiệp, vào luân hồi, sống khắc kỷ, nhắm đến sự toàn thiện đưa đến sự kết hợp giữa linh hồn và thể xác. Ông thay đổi thuyết Ấn Giáo qua thuyết tâm linh Tây phương nhằm đạt đến trạng thái MOKSHA (trạng thái toàn thiện không còn tái sinh, linh hồn kết với Thượng đế) MOKSHA là nước Trời của Thiên Chúa, sống khổ hạnh của ông được ví như là bị đóng thánh giá để con người có thể đối diện với Thượng Ðế, để rồi con người toàn thiện không khác với Thượng Ðế. Ðóng Thánh giá của ông phải thực hành nhiều hơn là chỉ ăn chay, ông chủ trương phải bỏ sắc dục, không làm tình giữa nam và nữ, chủ trương phối hợp giữa Thiên Chúa Giáo (xem việc làm tình là một tội) và Ấn Giáo (xuất tinh làm ô nhiễm). Lấy vợ năm 13 tuổi, nhưng Gandhi chủ trương những người thật sự phục vụ cho xứ sở phải độc thân, con người phải tự chủ (SWAJAT), độc thân không dẫn đến diệt chủng nhưng đưa con người đến một nơi cao hơn. Năm 1920 ông chủ trương cả xứ Ấn Ðộ phải bỏ tình dục để đưa đến tiến bộ quốc gia. Năm 77 tuổi, Thánh Gandhi thực hành giống như các ông đạo Jain, nằm ngủ trần truồng với cô cháu nội cho cả nước thấy ông không còn dục vọng!
Thánh Gandhi đưa Ấn Giáo vào chính trị, giữ bốn đẳng cấp của Ấn Giáo, không cần phải cho ngồi ăn chung, uống cùng giếng hay lấy nhau giữa các đẳng cấp vì bỏ đẳng cấp là làm tu sĩ Brahmin bị nhục mạ. Khi Gandhi nhận lãnh đảng Nghị Hội, ông đưa tôn giáo vào chính trị khiến Hồi Giáo bất mãn, sau này những vùng ở Punjab (Ngũ Giang, nơi có năm con sông lớn) tách ra thành Hồi Quốc (Pakistan). Ở mức độ cá nhân ông xem các tôn giáo bình đẳng, ở mức độ quốc gia Thánh Gandhi luôn đặt Ấn Giáo lên trên. Ông chủ trương cấm ăn thịt bò, vì Ấn Giáo không ăn bò thiêng, và cấm con ông lấy vợ Hồi Giáo vì Hồi Giáo ăn thịt bò không ăn thịt heo dơ bẩn. Thời gian gần Thế Chiến Thứ Hai, Thánh Gandhi thay đổi thái độ chính trị. Năm 1942, ông phát động phong trào Ði khỏi Ấn (Quit India) đòi người Anh về nước, không chỉ không đóng thuế mà còn dùng vũ lực, làm loạn, tấn công đồn cảnh sát, phá đường rày xe lửa. Quân đội Ấn hai triệu người đàn áp biểu tình, 60,000 người bị bắt, 4,000 người bị giết. Ðợt ba của phong trào bị thất bại hoàn toàn. Gandhi phạm hai lỗi lầm quan trọng. Lỗi thứ nhất là ông ái mộ Hitler, nguyên nhân là ông không còn có kiến thức về thế giới bên ngoài, ông xem Hitler giống ông là một nhà khổ hạnh, không vợ, làm việc chăm chỉ ở nhà, một người có cá tính tốt! Lỗi thứ hai là ông không có tinh thần dân chủ. Khi phái tả trong đảng, ông Subhas Chandra Bose đánh bại đối thủ của ông đưa ra trong kỳ bầu cử chủ tịch đầu tiên của đảng, ông đã đứng ra lật đổ và đuổi ông Bose ra khỏi đảng!
Ngày 30 tháng 1, 1948, Gandhi bị Nathuram Godse ám sát, ông được phong thánh. Ông không nhìn thấy Ấn Ðộ độc lập. Satyagraha thất bại. Thành công lớn nhất của ông là tạo ra được một đảng phái quốc gia mạnh. Nước Ấn Ðộ dân chủ nhờ người Anh tổ chức bầu cử tự do từ năm 1909 đến 1919. Từ 1937 đến 1938 đảng của Gandhi thắng cử đa số và một yếu tố khác đưa đến độc lập ngoài ước lượng của cả Anh và phong trào tranh đấu bất bạo động: Nhật Bản. Ðế Quốc Nhật xâm lăng Ðông Nam Á vào cuối Thế Chiến Thứ Hai, đuổi Pháp, Ðức, Anh ra khỏi vùng Ðông Nam Á, Miến Ðiện và Ấn gây chiến tranh vùng Thái Bình Dương. (Ðảng Nghị Hội với Gandhi lại tin Nhật sẽ thắng!).
Thắng trận, chính quyền Anh Churchill chủ trương trả chủ quyền cho Ấn và các nước thuộc địa. Hồ sơ sau này cũng cho thấy chính quyền Pháp cũng chủ trương giao quyền dần lại cho Việt Nam, ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã gây một cuộc chiến tranh Nam Bắc vô ích với chủ nghĩa cộng sản. Lịch sử là một sự kiện khó tiên đoán cũng như lòng tham của đảng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam vô hạn, liệu có một chiến tranh Thái Bình Dương mới?
(20 tháng 7, 2012)

































































