Bài và hình: Nguyễn Ðạt/Người Việt
Chùa Gò, ngôi chùa cổ nổi tiếng ở Sài Gòn; thời gian khoảng năm, bảy năm trước đây có tình hình phức tạp, nhiều khách thập phương ngần ngại khi vào thăm viếng chùa.
Phía trước chùa Gò.
Nay trở lại chùa Gò, chúng tôi nhận thấy cảnh tượng ngôi chùa khác hẳn. Toàn cảnh ngôi chùa sáng hẳn lên, tạo niềm tin tưởng cho mọi người tới thăm viếng ngôi chùa cổ mang đậm những giá trị của văn hóa Phật Giáo Nam Bộ.
Chùa Gò có tên gọi chính thức là chùa Phụng Sơn-Phụng Sơn Tự, tọa lạc tại số 1408 đường 3 tháng 2, phường 2, quận 11. Chùa Gò do Thiền sư Liễu Thông lập nên, trong triều đại vua Gia Long (1802-1820), trên nền một ngôi chùa Chân Lạp cổ ở gò cao như trái đồi.
Thầy Trí Ðịnh, trụ trì chùa Gò hiện nay, đã kể tường tận cho chúng tôi nghe sự tích chùa Gò. Thiền sư Liễu Thông (1754-1840) khi vào phủ Gia Ðịnh, thấy cảnh trí nơi này thích hợp, lại vốn là nơi đã từng có ngôi chùa, nên thiền sư dựng một chùa nhỏ bằng tranh tại đây. Dựng xong, chưa đặt tên, một hôm thiền sư thấy con chim phụng bay tới đậu trên cành cây trước chùa, cất tiếng gáy. Thiền sư liền đặt tên chùa là Phụng Sơn Tự (chùa trên núi có chim phụng). Người dân ở gần quanh thì gọi bằng tên dân dã là chùa Gò, trở thành tên gọi quen thuộc từ thuở ấy tới ngày nay. Chùa bằng tranh được xây dựng lại vào đầu thế kỷ XX. Kể từ thuở ấy tới ngày nay, chùa Gò được trùng tu lớn vài lần; đặc biệt vào năm 1963, cổng tam quan của chùa Gò được xây lại, do kiến trúc sư tài danh Nguyễn Bá Lăng thiết kế. Mặc dù qua vài lần trùng tu lớn, chùa Gò vẫn theo phong cách kiến trúc cổ, duy trì bộ khung chùa bằng gỗ và mái lợp ngói âm dương.
Chùa Gò được xây theo hình chữ đều đặn như chữ quốc của Hán tự; bề rộng khoảng 20 mét, bề dài khoảng 40 mét. Trong ngôi chùa, phía trước là chính điện, phía sau là nhà giảng; có sân lộ thiên ở giữa. Trong sân lộ thiên đặt tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, hòn non bộ và cây cảnh. Ở chính điện thờ Phật, chúng tôi nhận thấy các cột dựng đều được làm bằng danh mộc, ngày càng bóng ngời với thời gian; nhiều tượng Phật xưa cổ bằng gỗ, chạm trổ rất công phu mỹ thuật. Thầy Trí Ðịnh cho biết, chùa Gò hiện còn lưu giữ được 40 bức tượng thờ. Ða số tượng thờ này do nhóm thợ điêu khắc lành nghề từ Sa Ðéc tạo tác; Hòa thượng Huệ Minh, trụ trì chùa Gò thời gian đầu thế kỷ XX, đã mời họ tới chùa thực hiện.
Trước 30 tháng 4, 1975, khu vực chùa Gò vắng lặng tịch mịch, khác hẳn hiện nay. Thuở đó khuôn viên chùa rộng rãi hơn nhiều, có bàu sen và hào nước bao quanh ngôi chùa. Sau này, khuôn viên chùa Gò bị lấn chiếm lần hồi, nhà cửa của người dân tới ngụ cư mọc lên dày đặc, bàu sen hào nước bị lấp cạn; cảnh trí thiên nhiên của chùa Gò đã bị hư hao mất mát khá nhiều.
Bàu Chuông chùa Gò
Như đã nói ở trên, chùa Gò cách đây năm, bảy năm có tình hình phức tạp, từ những tệ nạn xảy ra ở khu vực dân cư lấn chiếm đất chùa. Thầy Trí Ðịnh đã góp công vãn hồi tình trạng tiêu cực, trả lại sự thanh tịnh cho chốn cửa thiền. Từ đó, có thể lấy dấu mốc năm 2008, tới hôm nay, bà con quanh vùng cũng như khách thập phương an tâm lui tới thăm viếng, thắp nhang thờ cúng ở ngôi chùa cổ mang đậm nét tín ngưỡng dân gian này. Chúng tôi nhận thấy chùa Gò là ngôi chùa điển hình cho tín ngưỡng của người dân Nam Bộ: điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu, vị nữ thần được người miền Nam tôn kính thờ tự, đặt ngay bên hành lang chính điện. Chùa Gò cũng lưu lại dấu vết quá trình sinh sống của dân tộc Khmer trên vùng đất Chân Lạp cổ. Ðó là ngôi miếu nhỏ thờ Neak Tà – người Việt gọi là Ông Tà, đặt bên những ngôi tháp Tổ của chùa Gò. Miếu thờ Neak Tà là dạng tín ngưỡng, văn hóa của cư dân Khmer.
Cũng trong năm 2008, thầy Trí Ðịnh đã quyết định đặt một bức tượng khá lớn, làm biểu tượng của tích sử Bàu Chuông trong khuôn viên chùa Gò.
Ðó là bức tượng voi trắng, mang trên lưng tượng Phật và chuông đồng. Trên tấm bia đặt ở chân bức tượng có ghi: “Ðời vua Gia Long triều Nguyễn (1802-1820) người Khmer ra đi, bỏ lại chùa hoang, còn tượng Phật và chuông được chất lên bạch tượng; đi hướng Tây Bắc thì bị sụp chân làm đổ tượng và rớt chuông xuống bàu ao quanh chùa. Sau đó mọi người đem pho tượng Phật bằng đồng vào thờ trong chùa đến ngày hôm nay; riêng chuông mặc dù khổ công tìm kiếm vẫn chưa gặp; và từ đó vào những giờ lành ngày kiết mỗi tháng, quanh vùng thường nghe tiếng chuông từ dưới bàu ấy vang lên mà không thấy; Bàu Chuông do người dân đặt tên từ đó. Khi người dân xây lấn chiếm đất, chất thải xuống Bàu Chuông làm ô uế, và mọi người không còn nghe tiếng chuông nữa. (Mậu Tý-2008. Tỳ kheo Thích Trí Ðịnh).”
Bạch tượng chở tượng Phật và chuông đồng.
Trở lại chùa Gò, chúng tôi còn được ngắm nhìn hình tượng thầy trò Ðường Tam Tạng đi thỉnh kinh ở Tây Vực; thầy Trí Ðịnh đã cho thực hiện, theo (phim) truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Bốn bức tượng – thầy Huyền Trang (Ðường Tam Tạng), Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng – xếp dọc theo lối đi bên hàng cây, trong khuôn viên chùa Gò.


























































































































































