Danh hiệu: Á quân World Cup 1966. Hạng 3 World Cup 1970. Vô địch Châu Âu 1972. Vô địch thế giới 1974. HLV vô địch thế giới 1990.
Franz là một con người khoa học trong môn chơi thể thao đá bóng. Khi chọn anh vào đội tuyển, ông Schoen cắt đặt anh ở vị trí trung ứng, chủ chốt đảm nhiệm vai trò phòng ngự.

Nhưng Franz, từ vị trí này anh trở nên linh động, sáng tạo vai trò con thoi, lên về giữa sân nhà và sân đối phương. Khi thực hiện các đợt tấn công, Franz trở thành một nhà kiến thiết bóng, chuyền bóng và tổ chức tấn công.
Lúc ở trong tình thế bị đối phương áp đảo, Franz lùi về phần sân mình, tổ chức phòng ngự từ kèm người đến kiểm soát khu vực. Với một vai trò mới mẻ, rất linh động Franz đã làm khán giả ngạc nhiên, và được báo chí khen ngợi.
Chính anh là người phá bỏ chiến thuật cổ điển. Trong chiến thuật này mỗi cầu thủ, chỉ hạn chế phần hoạt động trách nhiệm của mình thôi. Cũng từ vai trò của anh, bóng đá ngày càng thay đổi, càng hiện đại, và cho thấy, cầu thủ đá tiền vệ con thoi là bản lề mà huấn luyện viên rất cần có cho đội tuyển.
Thế nhưng, Franz thể hiện ở vị trí đứng và chơi bóng qua vai trò của mình, còn tùy thuộc ở đẳng cấp của đối thủ.
Dự ba kỳ giải World Cup liên tiếp, 1966, 1970, 1974, Franz thể hiện mỗi cách chơi bóng khác nhau. 1966, Franz đảm nhận nhiều hơn cả trong vai trò tấn công, ngay cả ở trận chung kết gặp đội chủ nhà Anh quốc.
Trong giải đấu này, đá 7 trận, Franz ghi được 4 bàn thắng, đặc biệt là hai bàn thắng ở trận tứ kết và bán kết. Ở trận tứ kết, từ sân nhà, Franz thực hiện một pha đi bóng cá nhân, qua khỏi hàng phòng ngự Uruguay, đối diện trước thủ môn và ghi bàn thắng làm vui mắt, hứng thú cho khán giả ở cầu trường. Ở trận bán kết, thủ môn Lev Iachin là con chim đại bàng vậy mà, từ khoảng cách 20 mét, bằng cú sút chân trái, Franz đã tung lưới, Lev Iachin chỉ quay đầu nhìn theo hướng quả bóng đã lọt vào trong khung thành.
Năm 1970, đội tuyển Tây Ðức có một cặp tiền đạo xuất sắc là Gerd Muller và Uwe Seeler, nên Franz chỉ đảm nhận vai trò kiến thiết bóng, và mở rộng hai cánh cho đồng đội tấn công.
Năm 1974, trận chung kết gặp đội Hòa Lan rất mạnh, đối phương áp dụng chiến thuật tổng lực nên Franz phải luôn ở trên sân nhà để chỉ huy phòng ngự.
Trong trận chung kết này, Franz giải vây được nhiều đợt tấn công như vũ bão của trung phong Cruyff và toàn đội Hòa Lan.
Khi tiếng còi trọng tài Anh, Jack Taylor thổi chấm dứt trận đấu, Franz và đồng đội vui mừng đạt tới vinh quang. Là thủ quân của đội tuyển, anh hướng dẫn các cầu thủ dự trận đấu lên khai đài, với một vinh dự lớn là thưởng thức hương vị chiến thắng qua chiếc Cúp vàng mới đầu tiên. Trong đội tuyển Tây Ðức, Franz và Overath là cầu thủ cùng đá ba World Cup liên tiếp, và cùng đoạt ba danh hiệu trong ba giải này: Hạng nhì, hạng ba, và vô địch.
Franz có lối chơi bóng thật điềm tĩnh, thản nhiên khó tin được. Trong một vài tình huống, dù có đối thủ xuất hiện, nhưng Franz điều khiển bóng như ở trong cữ tập dượt. Và, sau đó, bất thần anh dốc bóng với một tốc độ nước rút tràn qua phần sân đối phương, và tới một khoảng cách, đúng trong tầm sút là cú sút của Franz sẽ chuyển thành bàn thắng. Về kỹ thuật giải vây và phòng ngự, Franz là một cầu thủ giàu kinh nghiệm đệ nhất trong giới bóng đá.
Trận chung kết 1974, nếu Tây Ðức thiếu Franz chỉ huy tuyến phòng ngự, chắc chắn Hòa Lan sẽ cho bom nổ tung cả vận động trường Munich.
Bức ảnh Franz tung cú song phi giải vây một pha bóng cách khung thành thủ môn Maier có 5 mét được đăng trên các báo, và một pha đối đầu giữa Franz và Cruyff đã làm cho cả cầu trường nín hơi thở. Khi Vogts dùng tốc độ xuống bóng tấn công nhưng bị phá, Haan tiền vệ Hòa Lan chuyền một đường dài qua phần sân Tây Ðức, Cruyff lao nhanh theo bóng, từ giữa sân, Franz vội lùi về, vừa đối đầu một phía trực tiếp với Cruyff, một phía khác còn canh chừng Rep bên cánh trái đang di chuyển lên tiếp ứng cho Cruyff.
Kinh nghiệm phòng thủ của Franz trong tình huống đó, là không tới gần kèm áp sát, mà giữ một khoảng cách trong nửa mét để vừa kìm tốc độ di chuyển bóng của Cruyff, vừa không cho Cruyff dễ lừa bóng qua khỏi chân mình. Không đột phá nổi, bị chùn lại, vừa lúng túng, Cruyff liền chuyền nhanh quả bóng qua cánh trái cho Rep, nhưng thủ môn Sepp Maier đoán được lao nhanh ra ngoài truy cản, cùng lúc ấy, Franz thật lẹ làng, bay về khung thành trống bảo vệ cho Maier đã ra ngoài.
Franz và Maier giải vây được pha bóng tấn công thần tốc của hai đối thủ Hòa Lan làm khán giả ở cầu trường nhiệt liệt vỗ tay tán thưởng.
Cũng như Pelé, suốt đời cầu thủ của Franz dù có phạm lỗi kỹ thuật nhưng anh không bao giờ bị thẻ vàng. Không những vậy, anh luôn thể hiện một nhân cách lớn của người cầu thủ trên sân đấu, là không bao giờ tham dự vào các tranh chấp, cãi vã với trọng tài, với đối phương trong những trường hợp hai bên có xô xát. Ở những trường hợp này, Franz luôn đóng vai trò người giải hòa.
Sẽ là một thiếu sót không nhỏ, nếu nói về Franz mà quên đi rằng anh là một chuyên gia sút phạt. Pelé khi sút phạt thường dùng uy lực và tốc độ cú sút bóng xuyên phá hàng rào. Với Franz thì lại khắc, cú sút phạt của Franz quả bóng luôn vượt hàng rào xoáy vào hai phía góc thượng bên trái và phải của khung thành, thủ môn khó lòng với tay kịp.
Năm 1974, có hai ký giả nổi tiếng ở các nhật báo Sài Gòn là Huyền Vũ và Phan Như Mỹ được FIFA gởi giấy mời dự xem giải đấu World Cup. Khi trở về nước, trên tuần báo Nguồn Sống, ký giả Huyền Vũ có biết bài tường thuật trận chung kết Hòa Lan-Tây Ðức. Ở phút thứ 30, do hậu vệ Hòa Lan phạm lỗi truy cản trái phép tiền đạo Holzenbein, Tây Ðức hưởng quả phạt trực cách khung thành 20 mét. Hoenes và Franz cùng đứng trước bóng ngay điểm chấm phạt. Bằng động tác giả Hoenes chạy vòng ra phía trước quả bóng, ngay sau đó, Franz tung liền cú sút chính xác bóng nhắm đúng vào góc cao bên trái khung thành, Jonbloed rất may mắn, trong cái thế đang mất đà, anh với tay đẩy được quả bóng vượt khỏi xà ngang chịu quả phạt góc. Cruyff đứng trong hàng rào ngoái đầu nhìn, tưởng chừng thấy là thua.
Sau 1974, rồi qua Cúp Châu Âu 1976 kết thúc, Franz và một số đồng đội nữa giã từ đội tuyển quốc gia. Năm 1984, Franz được Liên Ðoàn Bóng Ðá Tây Ðức mời làm huấn luyện viên. Anh góp thêm một công lớn nữa là đưa đội Tây Ðức vào hai trận chung kết 1986, rồi 1990. Cả hai trận, đối thủ là Argentina. Trận 1986 thua 2-3, trận 1990 thắng 1-0, Tây Ðức đoạt Cúp vô địch.

















































































