Luật Sư LyLy Nguyễn
Luật Sư LyLy Nguyễn chuyên về Luật Khánh Tận Chương 7, 11, 13 cho cá nhân và cơ sở thương mại, xóa hết các loại nợ, tranh tụng trước Tòa Khánh Tận và khai phá sản hủy bỏ nợ thuế. Về Hoạch Định Tài Sản, Luật Sư LyLy chuyên thảo di chúc và tín mục (trust), ủy quyền điều hành tất cả tài sản, dặn dò săn sóc y tế khi bất lực và hoạch định kế nghiệp. Về Luật Thuế, Luật Sư LyLy đại diện cho thân chủ trường hợp bị kiểm thuế, xin ngưng tịch thâu tài sản vì thiếu thuế, đại diện biện hộ trước Tòa Án Thuế và điều đình xin giảm nợ thuế. Về Luật Thương Mại, Luật Sư LyLy giúp thành lập công ty và tổ hợp hùn hạp. Ngoài ra Luật Sư LyLy còn rất giàu kinh nghiệm về thuế lợi tức cá nhân, thuế trả nhân công, thuế mua bán và thuế tài sản ở hai cấp liên bang và tiểu bang. Luật Sư LyLy Nguyễn được chứng nhận hành nghề tại Supreme Court of California, United States District Court, United States Court of Appeals for the Ninth Circuit và United States Tax Court. Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, California 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. website: www.lylylaw.com.
“Luật Sức Khỏe” (Health Law) đặt ra những luật lệ giúp người đã có bảo hiểm sức khỏe vào được cơ sở cung cấp dịch vụ khi cần đến. “Cơ sở cung cấp dịch vụ săn sóc sức khỏe” ở đây có nghĩa là mọi bệnh viện, bác sĩ cùng cơ sở chuyên môn khác về y khoa.
Thông thường bệnh nhân có bảo hiểm sức khỏe ít khi bị bệnh viện không nhận điều trị tuy rằng cũng có trường hợp bị từ chối. Cả luật lệ liên bang lẫn tiểu bang bao hàm kỹ nghệ y tế đều có điều khoản rõ ràng cấm chỉ các “cơ sở cung cấp dịch vụ săn sóc sức khỏe” (”healthcare provider”) không được kỳ thị khi lập quyết định điều trị cho người bệnh. Cơ quan thuế vụ liên bang IRS cũng qui định mọi cơ sở y tế muốn được miễn thuế thì bắt buộc phải thu nhận bất cứ bệnh nhân nào có trả tiền. Một đạo luật khác có tên là Hill-Burton Act vốn thường là nguồn trợ cấp tài chánh cho nhiều dự án thực nghiệm y khoa cũng đặt điều kiện nơi nào muốn nhận trợ cấp thì phải nhận mọi người bệnh có trả tiền. Medicare và Medicaid cũng qui định bệnh viện và y sĩ phải chấp nhận người thụ hưởng Medicare và Medicaid.
May thay phần nhiều các luật bảo đảm vào cơ sở săn sóc sức khỏe ít khi bị gác lại và phần nhiều các bệnh viện và bác sĩ khá sốt sắng thâu nhận người bệnh. Tuy nhiên đôi khi cũng thường thấy một số cơ sở y tế vì thành kiến hoặc vì lo không được bồi hoàn nên có thái độ khó khăn trong việc nhận các bệnh nhân Medicare và Medicaid khiến họ phải thưa kiện lung tung. Ngoài ra có những nguyên cớ khác đưa đến quyết định từ khước thí dụ không nhận người mắc bệnh truyền nhiễm AIDS vì nhà thương lo lắng tới khoản tiền chi phí điều trị khổng lồ mà chắc chắn bệnh nhân khó lòng trả nổi, hoặc lo bệnh sẽ truyền nhiễm lan rộng ra hoặc có ý chống đối lối sống bất bình thường đưa đến hậu quả mắc phải căn bệnh hiểm nghèo này. Đây là một điều mà các nhà cung cấp dịch vụ y tế nên đặc biệt lưu ý các luật lệ liên quan và cần nhận thức rằng từ chối thâu nhận và điều trị bệnh nhân là vi phạm luật pháp có thể bị truy tố.
Khi một cá nhân có bảo hiểm sức khỏe thì luật pháp bảo đảm cho người ấy một số quyền hạn và đặt bổn phận và trách nhiệm cho cơ sở cung cấp dịch vụ săn sóc sức khỏe. Nói chung mọi người đều có quyền chọn lựa một cơ sở chăm sóc y tế theo ý mình, kể cả việc được thông báo rõ ai sẽ trách nhiệm chạy chữa cho mình. Ngoài ra bệnh nhân cũng có quyền đồng ý nhận hoặc từ chối việc điều trị cùng quyền tham khảo hồ sơ bệnh lý của mình cũng như quyền giữ kín tin tức về bệnh trạng của mình.
Tổng quát ra bác sĩ sẽ không chẩn bệnh hay chữa trị nếu không có sự đồng ý của bệnh nhân về những tin liên hệ mà bác sĩ thông báo cho người đó. Điều này có nghĩa là người ấy chấp nhận được điều trị sau khi đã được bác sĩ cho biết mọi tin tức liên quan đến việc chữa trị, kể cả những nguy cơ có thể gặp phải. Nếu không có sự đồng ý của bệnh nhân sau khi được thông báo chi tiết về sự điều trị thì vô tình bác sĩ có thể bị kết vào các tội bạo hành, xâm phạm đời tư, hoặc bất cẩn.
Trong vài hoàn cảnh không cần đến sự thỏa thuận của người bệnh. Nếu bệnh nhân không tự quyết định được cho chính mình, thì người bảo hộ hay thân nhân gần có thể cho phép chữa trị. Trong trường hợp khẩn cấp thì người đứng đầu cơ sở y tế có quyền chấp thuận nếu không liên lạc được với thân nhân gần nhất. Bệnh nhân có thể coi như bằng lòng điều trị nếu trong tình trạng khẩn cấp mà người ấy không biểu thị được sự đồng ý hoặc bác sĩ không có thì giờ giải thích mọi nguy cơ và các biện pháp chữa chạy thay thế. Trẻ vị thành niên thường phải có sự đồng ý của cha mẹ hay người giám hộ trước khi giải phẫu hay làm một phương cách y khoa. Phần đông các bác sĩ biết rõ luật này nên thường ít có tranh luận hay khiếu nại về vấn đề bệnh nhân có đồng ý cho chữa trị hay không. Phần lớn khiếu nại nằm ở vấn đề bác sĩ không thông báo đầy đủ chi tiết hoặc bác sĩ đi quá ra ngoài phạm vi chạy chữa đã thỏa thuận trước.
Theo luật lệ hiện hành bệnh nhân phải được thông báo trước về những kết quả trị liệu mà vị y sĩ có thể tiên đoán trước được cùng những nguy cơ có thể gặp phải khi thi hành tiến trình điều trị cùng những biện pháp thay thế hữu lý. Vị y sĩ không bắt buộc phải tiết lộ mọi nguy cơ có thể xảy ra mà tùy thuộc quyết định của vị này muốn nói gì với bệnh nhân căn cứ theo những gì người ấy mong muốn. Mọi điều này phải được thông báo rõ ràng bằng ngôn ngữ mà người bệnh nhân có thể hiểu được. Các cuộc thí nghiệm hoặc nghiên cứu sẽ không được thi hành nếu không có sự đồng ý trước của bệnh nhân.
Luật pháp đồng thời cũng cho người bệnh quyền hạn từ chối không nhận sự chữa trị hoặc thuốc men. Người từ khước biện pháp điều trị do bác sĩ đề nghị sẽ được thông báo hậu quả về bệnh lý và hậu quả tâm lý có thể xẩy ra như thế nào do sự từ chối gây ra. Những điều này phải được viết thành văn bản và lưu trong hồ sơ bệnh lý của cá nhân đó. Quyền hạn của cha mẹ từ chối không cho bác sĩ chữa trị cho con cái càng bị giới hạn.
Tại tiểu bang California, bệnh nhân có quyền xem hồ sơ y khoa cá nhân của mình. Luật pháp định rằng nếu người nào muốn biết hồ sơ thì phải viết thư tới cơ sở cung cấp dịch vụ y tế cho mình. Nơi nhận phải gửi hồ sơ đó cho người yêu cầu trong vòng 5 ngày sau khi nhận thư và người ấy phải trả tiền chi phí sao chép hay lệ phí hành chánh nếu có.
Nội dung hồ sơ bệnh lý và điều trị của bệnh nhân với những tin tức chi tiết về bệnh trạng hoặc thương tích gồm có:
– Triệu chứng chính hoặc nguyên cớ mắc bệnh hay thương tích theo lời khai của bệnh nhân
– Tin tức liên quan đến kết quả trị liệu của các bác sĩ khác
– Kết quả chẩn bệnh (diagnosis)
– Phương pháp chữa trị kể cả thuốc thang đã cho toa cùng kết quả đạt được.
– Chẩn đoán và hậu trị liệu (prognosis)
– Kết quả tiến trình thử nghiệm
– Tổng kết giải nhiệm (discharge) và cho bệnh nhân về nhà.
– Những điều tìm thấy trong lần tái khám thí dụ như kết quả của phòng thí nghiệm, áp huyết, và cân nặng.
Luật California qui định rằng các cơ sở cung cấp dịch vụ y tế bắt buộc phải giữ kín hồ sơ y tế của bệnh nhân cùng tất cả những tin tức liên quan khác do chính bệnh nhân tiết lộ. Các điều luật về bằng chứng (evidentiary rules) cấm chỉ việc trưng ra tòa án những tin tức trao đổi kín giữa bệnh nhân và cơ sở cung cấp dịch vụ y tế.
Cũng theo luật định một cơ sở cung cấp dịch vụ săn sóc sức khỏe muốn tiết lộ hồ sơ y tế của một bệnh nhân cho người khác phải có sự chấp thuận của người ấy. Tuy nhiên luật chung không qui định trường hợp một bác sĩ tiết lộ hồ sơ bệnh lý của bệnh nhân cho một bác sĩ khác trong trường hợp khẩn cấp cần cứu chữa đương sự. Đồng thời luật cũng không cấm bác sĩ tiết lộ hồ sơ bệnh nhân cho nhân viên y tế của chính phủ.
Cả hai điều luật bảo vệ hồ sơ bệnh nhân đề cập ở trên đều bị hủy bỏ nếu có mẫu thuẫn với những chính sách công khác. Lấy thí dụ một bác sĩ được bệnh nhân cho biết là sắp giết người thì vị bác sĩ này có nghĩa vụ phải báo cho người bị dọa biết mà đề phòng. Đồng thời bác sĩ cũng phải báo cho giới chức cảnh sát trường hợp những người tới xin chữa vết thương đáng ngờ như vết đạn bắn hay vết dao đâm. Luật giữ kín cũng bị vô hiệu hóa đối với những người mắc vi khuẩn HIV dương tính (HIV-positive). Tiểu bang California có luật qui định rằng cá nhân nào chẩn bệnh có HIV dương tính đều bắt buộc phải báo cáo cho giới chức y tế tại quận hạt (county health officer). Y sĩ tại California cũng có quyền thông báo tình trạng bệnh nhân có HIV dương tính cho người nào mà vị bác sĩ tin một cách hợp lý có liên hệ tình dục với bệnh nhân thí dụ như vợ hoặc chồng, người tình, hoặc người bị nghi ngờ xài chung kim chích. Mặc dầu theo luật, y sĩ bắt buộc phải có sự đồng ý của bệnh nhân trước khi cho tin này nhưng ngược lại vị y sĩ đó sẽ không sợ bị liên đới hình sự hay dân sự vì lý do tiết lộ.
Chúng tôi sẽ giải thích thêm chi tiết về luật sức khỏe của tiểu bang California trong kỳ tới. Cũng như thường lệ người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quí độc giả một vài kiến thức tổng quát về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề liên quan đến luật, quí độc giả vẫn cần thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quí vị.
Nếu cần tham khảo riêng xin liên lạc với Luật Sư LyLy Nguyễn tại văn phòng ở địa chỉ 10221 Slater Avenue, Suite 216, Fountain Valley, CA 92708. Điện thoại: (714) 531-7080. Website:lylylaw.com.























































































