Người xưa hòa giải

LTS: Nhật báo Người Việt mở mục “Độc Giả Viết” nhằm mời gọi quý độc giả “cùng làm báo” với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý độc giả vui lòng gởi email: [email protected].

 

Thi Lê

Dưới triều Minh Mạng, Việt Nam thực hiện chính sách trung ương tập quyền. (Hình: Facebook Thi Le)

Lịch sử luôn để lại những bài học thấm thía. Vấn đề là chúng ta có chịu đọc sử và noi gương người xưa hay không. Câu chuyện của gần 200 năm trước là một bài học đắt giá cho chúng ta ngày hôm nay.

Minh Mạng là hoàng đế thứ hai của triều Nguyễn trị vì từ năm 1820-1840. Ông là vị vua năng động và quyết đoán, đã đưa ra hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao.

Dưới triều Minh Mạng, Việt Nam thực hiện chính sách trung ương tập quyền. Ông bãi bỏ hai chức Tổng Trấn Bắc Hành và Gia Định Thành, đổi các trấn thành tỉnh, trực thuộc trực tiếp vào triều đình.

Ở kinh đô Huế, ông cho lập thêm nội các là cơ quan giúp việc cho nhà vua chuyên trách giải quyết các công việc về văn thư, giấy tờ, Cơ Mật Viện chuyên tư vấn cho nhà vua các vấn đề về chính trị, ngoại giao và những vấn đề mang tính cơ mật quốc gia.

Hành pháp chia làm lục bộ: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công. Định lại quan chế, phẩm trật, biên chế ở các cơ quan. Quân đội được chia thành năm binh chủng bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo binh.

Nhà vua cho lập Tôn Nhơn Phủ để lo việc hoàng tộc.

Minh Mạng là người tinh thông Nho Học, coi trọng việc học hành thi cử. Dưới thời Minh Mạng, hai khoa thi Hội và thi Đình được khôi phục để chọn nhân tài. Lãnh thổ Việt Nam dưới thời Minh Mạng được mở rộng nhất trong các thời đại vươn sang tận Trấn Ninh (Lào) và Tây Thành (Cambodia) làm chủ cả các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Thời Minh Mạng là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nhà Nguyễn.

Nhưng có một việc làm của Minh Mạng ít được nhắc đến làm chúng ta phải suy nghĩ, đó là việc thực hiện hòa hợp, hòa giải giữa hai miền ngay sau ngày lên ngôi vua, nhằm huy động sức lực của toàn dân xây dựng đất nước. Điều này đã được ghi lại rất cụ thể trong sách Minh Mạng Chính Yếu.

Di tích thành cổ Quảng Trị và Quảng Bình quan- Một phần của hệ thống Lũy Thầy. (Hình: Facebook Thi Le)

“Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) nhà vua ngự giá Bắc tuần. Đi đến hành cung (nơi ở cho vua khi đi tuần du-LT) Quảng Bình, hoàng đế trèo lên thành, nhìn xem lũy xưa (Lũy Thầy do Đào Duy Từ đắp từ năm 1630-1633 dài 34 km chạy từ núi Đâu Mâu đến cửa sông Nhật Lệ- LT) nói chuyện với quần thần về việc ngày xưa nước nhà gặp nạn Nam-Bắc phân tranh. Nhân việc ấy, ngài cho làm lễ tế các tướng sĩ miền Nam và các tướng sĩ miền Bắc đã tử trận.

Hoàng đế ban dụ rằng: “Khi liệt thánh mới khai sáng, nơi đây là chiến địa. Các tướng sĩ vì nước đã bỏ mình, vùi thây trong bãi chiến trường. Người Miền Bắc chống quân ta, tiến lên không thể không thêm khí thế dữ dội. Nhưng khi ấy, ai cũng vì chủ của mình mới quyết hy sinh. Nay truyền lệnh cho Doanh thần (Người đứng đầu doanh Quảng Bình- Đến năm 1831, doanh mới được đổi lại thành tỉnh-LT) bày ra hai đàn Nam Bắc, nhưng đặt lễ phẩm (đồ cúng-LT) tại đàn Miền Nam hậu hơn, để tỏ ý long trọng.”

Hoàng đế khiến (sai) các quan khâm mệnh (theo lệnh vua), tế hai đàn ấy.” (Tập 2, Nxb Thuận Hóa, Huế, năm 1994, các trang 131,132).

Nhiều người vẫn đinh ninh sự phát triển rực rỡ của Việt Nam dưới triều Minh Mạng có liên quan mật thiết với chủ trương hòa giải, hòa hợp dân tộc của nhà vua. Có lẽ việc này nên để các nhà sử học kết luận.

Quảng Trị là tỉnh có hoàn cảnh lịch sử với nhiều nét giống Quảng Bình trước đó hơn 200 năm. Lâu nay, nhiều người vẫn mong đợi một đàn tế trên cầu Hiền Lương hay cổ thành Quảng Trị giống như đàn tế ở thành Quảng Bình dưới thời Minh Mạng vào năm 1821, nhưng vẫn chưa thấy. Không biết do chúng ta còn “bảo thủ” hay vì người xưa “thoáng quá?”

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT