LTS: Nhật báo Người Việt mở mục “Độc Giả Viết” nhằm mời gọi quý độc giả “cùng làm báo” với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý độc giả vui lòng gởi email: [email protected].
thụyvi

Tôi đang nghe lại những bản nhạc về mùa Thu, với lòng tiếc nuối khi nghĩ đến những tháng ngày ngắn ngủi, nắng gió thênh thang bên ngoài đang qua và thời gian sắp tới sẽ tự giam cầm chính mình trong ngôi nhà, bởi thời tiết lạnh lẽo thật khắc nghiệt của mùa Đông đăng đẳng kéo tới thật mau trên từng nhánh cây chỉ còn trơ lại những cành khẳng khiu đen mốc.
Một bản nhạc quen dễ lay động niềm xúc cảm và câu chuyện chắp nối, khi tôi nhớ tới cứ hàng năm – Tháng Mười Hai, lời mời mọc ân cần của anh, của một tình bạn tri kỷ, chất ngất trượng phu, rất gần gũi bằng sự hiện diện thường xuyên qua những cuộc chuyện trò thân thiết.
Bên kia bờ đại dương, anh còn theo dõi từ những bước chân chập chững của từng đứa cháu tôi. Có lần anh nói: “Hải Đường, hãy bỏ đó, lên máy bay và đến Paris một chuyến.”

Nhắc đến anh, có người sẽ hỏi, là sao với nhau? Có lần, anh đã trả lời chúng tôi quen nhau từ kiếp trước. Hình như có nhiều người không hài lòng với câu trả lời này. Rốt cuộc, tôi phải kể về lời kết nghĩa thông gia của hai bà Mẹ xưa.
Xứ Huế có những gia đình thích nhau, thương nhau rồi đính ước cho hai trẻ lấy nhau. Những lời đính ước của người lớn này có khi đẩy hai đứa trẻ nên duyên vợ chồng, nhưng lại sống trong cảnh oái ăm đồng sàng dị mộng.
Trở lại chuyện xưa, khi tôi đang là hạt bụi đâu đó chưa được tượng hình trong bụng, thì Me tôi đã đặt tôi tên Hải Đường.
Khi tôi ra đời thì anh đã vào trung học và khi tôi lớn chút xíu, thì anh xuất dương qua trời Tây đi học. Khi tôi trở thành thiếu nữ có mối tình đầu, thì anh đang đeo đuổi cô “tóc vàng sợi nhỏ…”
Ngày đó, chúng tôi không có điện thoại, chẳng thấy nhau thường xuyên ngoài mấy tấm hình đen trắng và dĩ nhiên chúng tôi đâu biết nhiều về nhau, nên lời “đính ước” đã… cuốn theo chiều gió hồi nào không hay!
Tôi lập gia đình với người đàn ông từ Mỹ trở về. Và, anh tan đàn xẻ nghé với “bà đầm” tại Paris. Đám cưới tôi, anh bay về dự. Vui nhất khi gặp tôi, anh đã tròn mắt:
– Ôi con bé xinh như ri hè?
Tôi mỉm cười:
– Để em tìm cho anh con bạn xinh hơn em. Anh cười lớn nói thôi thôi và lắc đầu lia lịa…
Kể từ đó, anh, chồng tôi và tôi là ba người bạn rất thân với nhau. Anh chăm sóc tôi như cô em út, có lần ra Eden anh mua những con poupée xinh xinh cho tôi đặt chúng trên cái bàn cạnh giường ngủ.

Anh biết tôi thích du lịch, cho nên khi anh đến nơi đâu cũng gửi những tấm carte postale đầy màu sắc về cho tôi với những dòng chữ viết tay thật bay bướm. Đến sau Tháng Tư, 1975, miền Nam lọt vô tay Cộng Sản thì chúng tôi bặt tin nhau.
Thời gian đó quá khủng khiếp, mọi thứ lộn nhào xuống hết. Chồng tôi vào tù, nhà tôi bị họ tịch thu…Trong khi tôi bơ vơ trong sự kinh hoảng, thì anh xuất hiện như ông Bụt trong thế giới viễn mơ thời hiện đại.
Anh cho tôi biết, anh đã “nhờ” những người bạn trong chính phủ Pháp và Tòa Đại Sứ Pháp sẽ giúp đưa tôi và hai con sang Paris cùng anh. Lời anh đề nghị như một cái phao cứu cấp, khi tôi đang bị chìm lĩm trong tứ bề hiểm ác. Như bình dưỡng khí tiếp hơi cho cơn ngắc ngứ, mà tôi không đủ sức để thở.
Nhưng nhớ tới chồng đang trong cảnh tù đày, vì thế tôi không đành lòng bỏ chồng tôi ở lại một mình. Tôi suy nghĩ vài hôm, và nhất quyết thối thác lời đề nghị nhân đạo rất ân tình của anh. Tôi quyết định chọn con đường cùng với chồng vinh nhục có nhau, nên từ chối, mặc cho anh thuyết phục với viễn ảnh các con có cơ hội vươn lên rồi tôi sẽ đoàn tụ cùng chồng sau này….
Lời từ chối của tôi khiến những người bà con cho tôi là một con điên, có dịp đổi đời mà không muốn. Riêng anh thì im lặng thở dài và quay trở về Pháp.
Tôi tưởng anh sẽ giận và từ mặt, nhưng không, sau đó anh tìm cách tiếp tế cho chúng tôi những nhu cầu cần thiết trong một xã hội hầu như ai cũng đói vàng cả mắt.
Hơn 20 năm sau, tôi cùng gia đình sang Mỹ. Rồi anh bước thêm bước nữa, cưới cô gái xinh đẹp rặc Huế từ Việt Nam sang.
Bây giờ, anh đã có những đứa con thành tài, có đứa đã cho anh những đứa cháu nội, cháu ngoại thật kháu khỉnh.

Sau này, nghe vợ anh kể, vì quý mến tôi, vợ anh có tìm mua bụi hải đường trồng trong sân vườn và cũng chính vợ anh đặt tên cho cây là Thánh Nữ.
Tôi đáp tạ bằng bài Vợ, Người Tình Và Hồng Nhan Tri Kỷ, ngày đó chưa có Internet nên bản thảo tôi viết tay, gửi qua đường bưu điện tặng anh.
Sau đó vài năm, tôi viết thêm bài Trượng Phu Tri Kỷ để mừng Sinh Nhật anh 70.
Thêm 10 năm tiếp theo, tôi có lời hẹn sẽ đến thăm gia đình anh. Tôi từng hẹn với lòng, ngày mai hay ngày kia hay một hôm nào đó trong Tháng Mười Hai, tôi sẽ đến chốn đó thăm anh. Chắc chắn trong những ngày lưu lại, tôi sẽ được ăn món bánh bột lọc trong veo, cái bánh thật dẻo chấm nước mắm ngon dầm với ớt xanh, sẽ ăn tô bún bò thơm mùi ruốc sả do vợ anh đãi. Sẽ được ăn món cháo vịt anh nấu hầm bà lằng mà anh thi vị hóa đặt tên cháo “Hoàng Cung.” Rồi chúng tôi cùng bát phố với nhau như ngày anh về Saigon mừng tôi làm cô dâu. Anh sẽ đưa tôi đi đây đó, chắc chắn anh sẽ đưa tôi tới một nơi rất khích động trí tò mò của tôi bấy lâu, đó chính là… khu Xóm Học trong thơ ông Cung Trầm Tưởng. Nghe nói nơi đó còn có những quán café đã đi vào những tác phẩm văn học nổi tiếng.
Chúng tôi lại đi bên nhau phơi phới, thân thiết, trong lành như nước mưa và cười đùa như trẻ thơ hôm nào.
…
Thêm một Tháng Mười Hai nữa tôi chưa thể nào thực hiện lời hứa, vì cứ bị lúng túng trong vùng lưới bủa vây của đời sống, bị trói buộc hết chuyện này đến chuyện nọ…
Tuy vậy, Paris và thăm anh là nơi tôi phải đến, muốn đến… Nhất định phải đến trước khi mọi sự trễ tràng.
(viết tại Hầm Nắng 2020)






