LTS: Nhật báo Người Việt mở mục ‘Bạn đọc viết’ nhằm mời gọi quý thân hữu ‘cùng làm báo’ với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm,… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý bạn đọc vui lòng gởi email: [email protected]
Hạ Âu

Ông Cư về làng sau năm mươi năm xa cách. Ông đi cùng con trai và vợ chồng con rể. Cậu con rể người Pháp, nói tiếng Việt bập bẹ. Cả ba dừng taxi trước cổng làng rồi đi bộ. Buổi trưa, đường làng vắng lặng. Có tiếng người mẹ ru con làm ông Cư không cầm được nước mắt. Tiếng ru như xói vào tâm trí ông, gợi nhớ về ông bao nhiêu là kỷ niệm:
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…
Năm đó, làng đói lắm, mẹ ông ôm ba đứa con nhỏ đi tìm nhà dì Mùi tá túc. Cha ông đi làm ăn xa đã lâu không tin tức. Ba mẹ con vừa đi vừa tìm miếng ăn dọc đường, đồ ăn mang theo đã hết mà đường đến nhà dì Mùi còn xa. Rồi mẹ ông phải gửi ông, anh cả của hai người em mới lên ba và hai tuổi để dễ bề xoay sở. Hôm đó, cả ba đều đã đói lả, họ vào một ngôi nhà nọ trông có vẻ khá giả xin ăn. Chủ nhà, sau khi cho họ ăn thì nhận cu Tỵ (tên thủa nhỏ của ông Cư) ở lại. Năm đó, ông mười tuổi.
Cái đói năm Ất Dậu 1945 đã làm gia đình họ chia đàn xẻ nghé. Năm 1954, cha mẹ nuôi của ông di cư vào nam và năm 1975 thì ông di cư sang Mỹ. Năm nay, lần đầu tiên ông về lại quê nhà. Cơ duyên cho chuyến về quê này đến từ một buổi gặp mặt Kiều bào. Lần đó, ông cùng con gái tham dự buổi gặp mặt của đại sứ quán Việt Nam ở Pháp. Con gái ông lấy chồng người Pháp. Thỉnh thoảng có mời ông sang chơi, ông là người thân của khách mời nên cũng là khách mời hôm đó.
Làng Bè của ông nằm bên sông Mã, sở dĩ có tên làng Bè vì nhiều người trong làng làm nghề buôn bè. Hàng năm, sau những vụ mùa, họ rủ nhau lên miền ngược mua cây luồng kết thành bè rồi theo dòng sông Mã về xuôi. Làng Bè ít ruộng và phần lớn là ruộng xấu. Dân làng phần lớn ít học, cha ông cũng vậy, hơn mười tuổi đã biết đi bè. Lần đó, ông đi đã mấy tháng mà không về nhà, mẹ con ông phải dắt díu nhau lên nhà dì Mùi kiếm miếng ăn cho qua trận đói. Dì Mùi là chị gái của mẹ. Dì lấy chồng xa nhà, một gia đình gia thế có của. Số dì Mùi sướng. Mẹ ông hay nói thế. Ông ngoại có mẹ, hai dì và một cậu. Dì Mùi là con gái thứ, mẹ là con út. Năm 18 tuổi, dì Mùi ra thị xã bán hàng cho một chủ tiệm buôn người cùng làng. Cơ duyên đưa đẩy, gặp dượng Thân rồi nên duyên chồng vợ. Dượng Thân là người có học, bạn với con trai chủ nhà nơi dì Mùi làm thuê. Dì Mùi không đẹp nhưng có duyên lại hát hay, biết đọc, biết viết. Hôm đó, thấy dì Mùi đọc sách, dượng Thân bắt chuyện làm quen rồi tặng dì Mùi tập thơ của dượng. Họ tỏ ra tâm đầu ý hợp rồi nên duyên chồng vợ. Nhà dì Mùi ở làng Xuân Thi, một nửa làng là dân công giáo. Dượng là nhà thơ, nhà giáo, dạy ở trường huyện. Tập thơ đầu tay của dượng có tên Mơ Trưa…, dày 99 trang in hơn 90 bài thơ. Bài thơ mà ông Cư nhớ nhất là bài Mơ Trưa nói về một mong ước…

Sau này, ông Cư mới hiểu đó là lòng yêu nước thầm kín của dượng Thân gửi gắm vào thơ. Cái đói năm Dậu, nhiều người nhớ, nhưng với cậu bé Cư ngày đó, in đậm vào tâm trí ông là hình ảnh một đứa trẻ mới sinh nhìn người qua lại như van xin, nhưng không ai cưu mang nó được. Ai cũng đang lo cho bản thân mình. Nghe nói, sau này nó chết mà ánh mắt thì như xoáy vào những người đã bắt gặp nó. Về sau, cứ mỗi lần thấy trẻ con ăn xin là ông Cư cho tiền, dù đó là ai. Ông nói với con cháu: – Người ăn xin, dù thật hay giả đều là bất đắc dĩ. Về nhà mới, cậu bé Cư chăn trâu và được đi học. Gia đình này hiếm muộn. Họ tin rằng: “Nếu có con nuôi thì sẽ không hữu sinh vô dưỡng nữa.” Nên khi gặp mẹ con nhà cậu bé Cư, họ đặt vấn đề xin Cư làm con nuôi. Cũng may là Cư được người khác xin làm con nuôi, không thì cả ba mẹ con đều chết đói. Sau dịp đó, mẹ Cư có mấy lần đến thăm con, thấy con có cuộc sống tốt, thêm vào đó bà đã cam kết cho hẳn con, nên dù thương con thắt ruột cũng không thể chuộc con lại được. Cha mẹ nuôi của Cư sinh thêm một trai hai gái. Năm 1954, trước cải cách ruộng đất, để tránh bị đấu tố, họ dắt nhau di cư vào nam. Khi đi, Cư không kịp gặp mẹ và các em.
-Cây đa làng này bao nhiêu tuổi, ba?
Tiếng hỏi của cậu con rể làm cụ Cư trở về với thực tại. Năm đó, Cư cùng bạn chơi dưới gốc cây thì có một anh đến treo lên ngọn cây một lá cờ đỏ. Sau đó, anh bị bắt và bị xử ngay dưới gốc cây. Quanh gốc cây, bao kỷ niệm ùa về mà nhớ nhất là những lần chơi trận giả. Hai bên chia phe rồi ẩn nấp, ai gọi đúng tên đối phương thì người đó bị loại ra cuộc chơi, cứ thế, bên thắng là bên có người cuối cùng không bị phát hiện đúng danh tính hoặc nơi ẩn nấp.
-Cây đa này bao nhiêu tuổi, ba?
Cậu rể hỏi thêm lần nữa khiến cụ Cư dứt hẳn dòng hồi tưởng.
-Ba cũng không biết, chỉ biết khi lớn lên thì nó đã sừng sửng rồi.
Cây đa cách họ hai trăm mét nhưng đã thấy rõ mồn một. Bên gốc cây vắng bóng người. Họ nghỉ chân dưới gốc cây. Đường vào làng đã thay đổi nhiều, chỉ có cây đa là còn nguyên dáng cũ. Buổi trưa mùa xuân, trời se se lạnh. Họ tranh thủ ăn lót dạ. Tiếng gà gáy trưa gần đó. Một người đàn bà xuất hiện. Chị ta đi lại gần cây đa. Cụ Cư nhìn kỹ, một thanh nữ. Trời lạnh nhưng vẫn mặc váy, đi giày cao gót.
-Chị ơi, cho hỏi chút ạ?
-Vâng, bác cứ hỏi.
-Nhà ông Định gần đây không ạ?
-Bác hỏi Định nào? ở đây có ba người tên Định bác ạ.
-Là tôi hỏi ông Định khoảng hơn năm mươi tuổi.
Định mà ông Cư vừa nhắc là em giữa của ông Cư. Năm 1945, Định ba tuổi. Hai anh em sau dó không còn gặp nhau. Cụ Cư (Tỵ) thì còn nhớ em, nhưng em thì không còn nhớ anh được nữa. Cậu em út thì càng không.
Nhà ông Định ở cuối làng. Một mảnh vườn trồng rau và cây ăn trái như nhiều gia đình khác. Con sông Mã cách nhà hơn năm trăm mét. Những chiếc bè nằm bên bến. Nghề cũ của làng vẫn còn, ông Cư thầm nghĩ. Một người đàn ông dắt xe máy ra cổng thì gặp họ. Người dẫn đường giới thiệu: – Đây là anh Định mà bác cần tìm còn đây là ông Cư…
-Định, em đó ư? Anh là Tỵ đây mà…
Những dòng nước mắt không thể ngăn được chảy dàn dụa trên khuôn mặt đã nhiều nếp nhăn của ông Cư. Họ không nói được nhiều chỉ cầm tay rồi ôm nhau mà khóc. Hai người con của ông Cư nhìn họ không khỏi bồi hồi. Trong nhà, vợ con ông Định cũng đã kịp ra chứng kiến mà chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra. Giây phút bịn rịn cũng qua. Họ vào nhà. Một ngôi nhà gỗ xây kiểu mới. Trên bàn thờ là di ảnh của ba người. Ông Cư nhận ra bố, mẹ và ảnh của chính mình. Tấm ảnh của ông Cư chụp trước lúc vào Nam năm 1954, năm đó ông 19 tuổi, trước khi đi, như linh cảm điều gì, ông đã kịp gửi về cho mẹ. Tấm ảnh được nhanh chóng gỡ xuống.
-Mẹ mất hai mươi năm rồi anh ạ.
Trước khi mất, mẹ vẫn ấy náy là không biết anh có thực đã mất không? Năm 1975, bố mẹ có vào Nam tìm con nhưng thông tin nói, Cư vượt biên bị đắm tàu và mất ngoài biển. Họ đã lập bàn thờ cúng người đang còn sống.
-Sao bây giờ anh mới về?

Nhiều nguyên nhân lắm em ạ. Vào Nam năm 1954, ông Cư trở thành sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Chuyện của họ cứ chắp nối trong nỗi niềm nghẹn ngào, mãi đến hơn năm giờ chiều thì mới tạm dứt. Lần này anh về làng, ngoài thăm anh em bà con, thắp hương tổ tiên ông bà cha mẹ ra thì anh còn có dự định gì nữa không? Định hỏi ông Cư khi hai người di dạo quanh làng.
-Anh tính thế này, anh sẽ xây lại nhà thờ ông bà để em ở nhà hương khói. Ngoài ra, anh định viết một cuốn sách có tựa đề là: “Phía trước là làng.” Tự truyện em ạ. Có câu nói của một danh nhân như thế này: cái đích đến của những người ra đi là quê nhà. Anh đi đã bao nhiêu năm rồi, thỉnh thoảng anh nằm mơ về làng, tỉnh dậy lại bồi hồi. Bây giờ, anh đã về rồi nhưng làng trong anh vẫn còn có khoảng cách…
Ông Cư trả lời mà không biết mình đang đi trên con đường năm xưa ông cùng mẹ dắt díu nhau đến nhà dì Mùi nhờ cứu đói… đã bao nhiêu năm rồi, cái trận đói lịch sử đó vẫn còn ám ảnh ông.

































































