Gặp lại những yêu thương

LTS: Nhật báo Người Việt mở mục ‘Bạn đọc viết’ nhằm mời gọi quý thân hữu ‘cùng làm báo’ với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm,… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý bạn đọc vui lòng gởi email: [email protected] 

Huân Cung

Từ trái qua: Tác giả, Tuấn, Lâm -người thương và cõng tác giả nhiều nhất, Thanh Mai, Trang Khanh, và Mai Hương -lớp trưởng, người đã chọn cuộc sống trong tình thương và dâng hiến: (Hình lớp 11, năm 1982 tại Đồi Cù: Tác giả)

Hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe một quãng đời niên thiếu của tôi. Không ngại chuyện mọi người có thể nghĩ rằng tôi khoe khoang hay kể lể, tôi thật sự rất muốn viết về những năm tháng thật đẹp này. Những năm tháng mà tôi, một cậu bé bị polio đã thật là may mắn biết bao khi có được. Đó là một tuổi thơ ngập tràn yêu thương và hạnh phúc!

Tôi viết bài này như một lời tri ân đến tất cả những người đã có mặt trong cuộc đời tôi những năm tháng đó. Những con người rất dễ thương của thành phố Đà Lạt hiền hoà và thơ mộng!

Tôi sinh năm 1969. Năm 1972, khi chưa được 3 tuổi, tôi bị sốt tê liệt (polio). Trong hơn 6 tháng nằm nhà thương Grall ở Sài Gòn, mẹ tôi, một người phụ nữ cương nghị và quyết đoán, ngoài chuyện chống trả với tử thần, giành lại những gì tốt đẹp nhất có thể cứu vãn được trên cơ thể của đứa con trai đầu, mẹ tôi đồng thời đã kiên nhẫn từng bước dạy tôi biết đọc và biết viết sau những giờ cho tôi ăn, ngủ, và uống thuốc.

Khi ra khỏi bệnh viện, hai mẹ con thật sự là những người chiến thắng, mặc dù chân phải của tôi vĩnh viễn bị yếu và nhỏ hơn chân trái, bù lại tôi đã biết đọc và biết viết khi chưa đầy 4 tuổi.

Trong đầu tôi khi ấy đã có rất nhiều những người bạn, đó là những nhân vật của: Trong Gia Đình, Vô Gia Đình, Truyện Cổ Andersen, Truyện Cổ Grimm, Ngàn Lẻ Một Đêm, và Những Tâm Hồn Cao Thượng.

Rồi tôi đi học như bao trẻ em khác. Cuộc đời đưa đẩy, vì công việc mẹ tôi phải đi lại nhiều, mẹ gửi tôi ở nơi nhà Bác gái ở Saigon hơn một năm, rồi tôi lại sống với ông bà ngoại một thời gian ở Sông Pha, một thị trấn nhỏ dưới chân đèo Ngoạn Mục, nơi có nhà máy thuỷ điện Đa Nhim, và cuối cùng là sống với mẹ ở Đà Lạt. Thành ra mặc dù được đi học sớm, tôi bị học đi học lại lớp Một hai ba lần ở hai ba nơi khác nhau.

Tháng Tư, 1975, tôi đang học lớp Hai, thì đất nước thống nhất. Mở đầu niên học mới 1975-1976, tất cả học sinh ở trường tiểu học Xuân An dốc Nhà Chung Đà Lạt đều phải thi kiểm tra Toán và Chính Tả để được học lớp kế tiếp.

Và không hiểu vì những lý do gì, mà trong 5 tháng trước khi mùa học đầu tiên dưới chế độ mới được khai giảng, mẹ tôi, khi ấy đã là cô giáo dạy cấp I và là một cô giáo dạy giỏi và có tiếng… nghiêm khắc ở Đà Lạt, đã làm một quyết định quan trọng. Mẹ tôi đã dạy tôi tất cả những gì mà một học sinh lớp 4 phải biết để có thể học được lớp Năm, tức là toán và chính tả, ngữ pháp của lớp 4, và kể cả kiến thức căn bản về lịch sử hay địa lý. Và thế là sau khi thi kiểm tra và đậu, cùng với sự chấp thuận miễn tuổi của Ty Giáo Dục (qua sự can thiệp nhiệt tình của hai người bạn thân của mẹ đang làm ở Ty), tôi đã làm một cú nhảy lớp… hơi xa này và trở thành học sinh lớp Năm khi mới hơn 6 tuổi.

Trong những năm tháng cắp sách đến trường ấy, từ tiểu học đến cấp II, tôi luôn nhận được những yêu thương trìu mến từ các bạn học cùng lớp, từ các thầy cô trong trường… đó là sự nhường nhịn, yêu thương và giúp đỡ vì tôi là một cậu bé yếu đuối, tật nguyền, và nhỏ tuổi nhất trường, và cũng vì tôi là con của mẹ tôi, một cô giáo nổi tiếng. Sau này tôi hay đùa là vì do nhảy xa như vậy, tôi mới bị… trật chân.

Cứ thế tôi từ từ từng bước học hết lớp Năm ở trường Xuân An và hết cấp II ở trường Quang Trung. Tôi chẳng biết gì ngoài sách vở và chơi đùa như những đứa trẻ dưới 10 tuổi. Tôi xông xáo, tham gia tất cả mọi trò chơi trong xóm, đá banh, nhảy dây, đá cầu, chơi u, chơi keo, đánh tỏng… những trò chơi này, dù bị hạn chế của đôi chân, tôi vẫn được bạn bè trong xóm cho phép tham gia với những sự ưu tiên đặc biệt dành cho tôi. Chẳng hạn khi đá banh, bạn bè và các anh luôn cho tôi làm thủ môn vì tôi không lừa banh được, và còn có quy ước ngầm mà tôi không biết là khi các ‘tiền đạo’ lừa banh xuống khung thành và tôi nhào ra chụp banh, thì các cầu thủ phải ngưng ngay, không được tranh dành banh với tôi, họ không muốn làm tôi đau!

Sự tế nhị dễ thương này còn theo tôi đến hơn chục năm sau, khi nhà tôi dọn ra phố sát rạp xi nê Giải Phóng. Năm 82, khi diễn ra World Cup ở Tây Ban Nha, các anh trong xóm tôi kéo lên khu Hoà Bình dàn trận đá banh trong khi chờ xem World Cup, và tôi lúc nào cũng được chọn làm thủ môn. Và vì quy ước ngầm như vậy, một quy ước xuất phát từ tình thương, mà tôi có tiếng là thủ môn ‘xuất sắc nhất’ của xóm. Lúc đó tôi hãnh diện lắm, cứ ngây thơ nghĩ là nhờ ‘bàn tay vàng’ của mình mà đội nhà ít khi bị thủng lưới. Lớn lên tôi mới hiểu được!

Lên cấp III, tôi đi học ở Thăng Long. Ngày đầu tiên vào lớp, tôi, 11 tuổi, nhỏ xíu, ngồi lọt thỏm trên ghế, chỉ thấy nhô lên nửa khuôn mặt, sau này tôi phải lấy sách kê lên cho cao để có thể viết. Có một chuyện mà tôi đã không nhớ, sau này do chị lớp trưởng của tôi kể lại sau khi tôi kết nối fb được với chị. Ngày đầu đi học, khi một thầy giáo điểm danh trong tiết học đầu tiên của lớp 10, gọi đến tên tôi và khi thấy tôi nhỏ xíu đứng dậy, thầy quát lên “em nào đi học còn dắt theo em vào lớp?!”

Lúc này nhà tôi đã dọn ra đường Phan Đình Phùng, trong hẻm rạp xi nê Giải Phóng (tên cũ là Ngọc Hiệp). Quãng đường từ nhà đến trường khá xa, hơn 2 cây số và đi lên đi xuống 3 con dốc, dốc Minh Mạng, dốc Hoà Bình, và dốc nhà thờ Con Gà. Tôi dậy từ sớm trước giờ học ít nhất một tiếng rưỡi và đi bộ đến trường. Đi khoảng 20 mét thì tôi dừng lại, nghỉ ngơi và… ngắm cảnh. Hết mỏi tay thì đi tiếp. Mỏi tay vì tôi phải dùng bàn tay phải để chống ngay đầu gối chân phải lúc muốn nó thẳng ra trong mỗi bước đi. Sau này khi học lớp 11 thì mẹ tôi mới biết đến và cho tôi mang cái nẹp chân, được làm ở Sài Gòn, tại trung tâm Phục Hồi Chức Năng Lao Động, tôi mới không bị mỏi tay khi đi lại vì chân được mang nẹp, đi được xa hơn, và đỡ mệt hơn rất nhiều.

Trên quãng đường từ nhà đến trường hay từ trường về nhà, các anh học cùng lớp với tôi nếu bắt gặp tôi đang đi, thế nào các anh cũng dừng lại và đòi cõng tôi. Các chị cùng lớp thì sẽ cùng đi chậm lại, dành mang hộ cặp sách cho tôi, và nói chuyện với tôi cho đến khi tới lớp. Nhưng không bao giờ tôi để cho các chị cõng à nha, vì tôi đã biết mắc cỡ! Khi ấy tôi đã là một thiếu niên 11, 12 tuổi rồi, tuổi đã biết mộng mơ và có những mắc cỡ riêng tư.

Thấy hai đứa đang bắn bi, tôi lân la làm quen và xin chơi cùng. (Hình minh hoạ: Thận Nhiên)

Bạn học cùng lớp cấp III của tôi, ai cũng lớn hơn tôi 4 tuổi, vài người hơn tôi 3 hoặc 5 tuổi. Thế nên trong lớp, tôi được xem như em út. Tôi gọi tất cả các bạn nam là anh, trừ hai người là bạn thân của tôi từ hồi lớp 6. Hai thằng bạn này dù không học chung lớp nào với tôi ở cấp II, nhưng trong một lần ra chơi, thấy hai đứa đang bắn bi, tôi lân la làm quen và xin chơi cùng. Thế là thành bạn và tình bạn giữa ba chúng tôi kéo dài cho đến khi học chung với nhau cấp III và đến tận bây giờ. Còn đối với các chị, không hiểu sao lúc ấy tôi cũng ‘ma mãnh’ lắm, nhất định không chịu kêu ai là chị cả, và chỉ xưng tên.

Các chị và các anh trong lớp đều gọi tôi là Minh Huân, các chị thì xưng tên và các anh thì xưng anh với tôi. Có món ăn gì ngon hay đồ chơi gì lạ, các anh các chị đem lên lớp, và người đầu tiên được chia sẻ luôn là tôi. Đi cắm trại ở Đồi Cù, đi chơi đập 3 Đa Thiện, hay đi tham quan ở chỗ nào đó, tôi đều được các anh thay phiên nhau cõng. Tôi khi ấy tinh nghịch còn làm eo, khi thì chỉ để anh Lâm cõng, khi thì muốn anh Đồng hay anh Hân, anh Hoàng cõng. Tôi được miễn tập quân sự hoặc chỉ tham gia hạn chế các sinh hoạt hướng đạo. Những lúc ấy, tôi đều có mặt, ngồi trên cỏ xem và giữ quần áo cho các anh chị và vỗ tay bình luận hay cười lớn khi một anh hay chị ném trái lựu đạn gỗ… quá trật mục tiêu hoặc tư thế ôm súng bò của một anh hay chị nào sao thấy tức cười quá.

Rồi mỗi năm hai lần, trong các buổi cắm trại qua đêm, các anh chị ngồi xung quanh nghe tôi chơi đàn classic trong ánh nắng chiều của Đà Lạt trên đồi Cù. Khi ấy, tôi chỉ biết chơi các bản classic đơn giản, và không biết gì về đệm đàn và hát. Trong khi trong lớp có hai ba anh chị đệm hát rất hay. Nhưng khi muốn thay đổi không khí, thầy cô và các anh chị lại trìu mến bảo: Minh Huân chơi một bản classic cho cả lớp nghe nè!

Minh Huân chơi một bản classic cho cả lớp nghe nè! (Hình minh hoạ: Đa Mi)

Tháng Sáu,1983, chúng tôi tốt nghiệp cấp III. Sau đó một năm thì phải, cả lớp lại tụ họp, lần đó là đông đủ nhất, để tham dự đám cưới của hai anh chị trong lớp. Và rồi từ đó, mỗi người chúng tôi một nơi. Người thì vào đại học hay trung cấp ở Sài Gòn, người thì đi học tận Hà Nội, người thì lăn vào đời kiếm sống, người thì chọn cuộc sống hiến dâng. Lớp chúng tôi, một anh giờ là một hoà thượng ở Đà Lạt, và hai chị là các soeur trong các tu viện ở Đồng Nai và Sài Gòn!

Các anh chị cùng lớp 12B của tôi năm ấy, những thanh niên thiếu nữ 18, 19 tuổi, căng tràn nhựa sống của tuổi trẻ với ước mơ và hoài bão, họ lăn xả vào đời, đầy hăm hở, háo hức.

Còn tôi khi ấy chỉ là một thiếu niên gần 14 tuổi, miệng còn hôi sữa, chẳng biết gì ngoài sách vở và đàn, vẽ, hoặc cờ. Nghe lời mẹ, tôi đi thi đại học Y Dược ngành nha, chẳng có khái niệm gì về nha sĩ, tôi cứ nghe theo lời mẹ. Không chú tâm ôn bài và vì lúc ấy chẳng có một đam mê nghề nghiệp gì, tôi đã thi rớt năm đầu tiên và năm thứ hai cũng vậy. Cả hai lần đều thi vào đại học Y-Dược TP HCM, khoa Răng Hàm Mặt, tôi còn nhớ điểm thi là 7,5 điểm lần đầu và năm sau 12 điểm, dĩ nhiên là rớt, mặc dù khi đi học cấp III, tôi luôn là học sinh tiên tiến, và mặc dù ở lần thi thứ hai, mẹ tôi gửi tôi về Sài Gòn, ở nhà bác gái để luyện thi. Gần một năm trời ở nhà bác, tôi thật sự không học được gì cả, tham gia các lớp luyện thi đại học được vài tuần thì tôi bỏ ngang. Bù lại, tôi biết đi làm, đó là nghề sơn guốc. Tôi biết uống cafe và biết hút thuốc. Tôi tập đàn nhiều hơn và được giới thiệu đi học với guitarist Phùng Tuấn Khanh, anh của danh cầm guitar Phùng Tuấn Vũ, nhưng học được hơn hai tháng thì tôi bỏ ngang vì nhận ra rằng mình không phù hợp với classical guitar.

Và điều tôi nghĩ tôi được lợi nhất trong một năm trời ở nhà bác ‘luyện thi’ đó là Sách, những cuốn sách!

Sách của các chú, em bác rể tôi để lại. (Hình minh hoạ: TL)

Sách của các chú, em bác rể tôi để lại trong hơn chục thùng giấy trên gác lửng mà hai bác cho tôi làm nơi nghỉ ngơi, giang sơn riêng của mình. Trước khi đi nước ngoài, các em trai của bác rể tôi có người là kỹ sư, người đang học đại học, và đa số đều học và trưởng thành trước năm 75. Các sách mà họ để lại và giấu dưới giường trên căn gác lửng là cả một kho tàng vô giá đối với tôi. Tôi biết đến Kim Định, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Krishnamurti, Lê Tôn Nghiêm, Jean Paul Sartre, Antoine de Saint-Exupery, Hermann Hesse… và nhiều tác giả tác phẩm nổi tiếng khác… cũng từ căn gác lửng này…

Trở về lại Đà Lạt khi gần 16 tuổi, vẫn đang tuổi lớn, vẫn chưa biết mình thật sự muốn gì và làm gì. Tôi lại đi học đàn tiếp, lần này tôi học mô-đẹt, học đệm đàn và hát. Học được hơn một năm thì tôi mở lớp dạy đàn ở nhà vì thầy tôi nghỉ dạy và bàn giao cho tôi. Học trò đàn của tôi có rất nhiều các anh chị sinh viên lớn tuổi hơn tôi và họ đang học đại học Đà Lạt. Họ khuyên tôi thi lại đại học. Nghe theo họ, vả lại lúc này tôi đã đủ lớn để biết mình muốn gì, tôi thi đại học lần thứ ba sau hai năm gián đoạn và lần này thì tôi đậu vào khoa Toán với số điểm 21. Trải qua bao ‘thăng trầm’, tôi cuối cùng cũng bước vào đại học năm 18 tuổi.

Tôi vừa học Toán ban ngày ở trường, vừa tiếp tục dạy đàn guitar vào buổi tối. Học được hai năm thì tôi cùng gia đình rời Đà Lạt cuối năm 1988 và đặt chân đến Mỹ năm 1990.

Trong suốt thời gian ở nước ngoài, tôi có dịp về thăm quê nhà được 4 lần. Lần nào tôi cũng chỉ gặp được hai thằng bạn thân nhất của tôi cấp III, lâu lâu hên lắm tôi được gặp lại một hoặc hai người bạn cùng lớp.

Năm 2021, khi mở lại trang facebook được thành lập năm 2014 của tôi (khi ấy tôi chỉ mở để chia sẻ hình ảnh với họ hàng và người thân và sau đó không ngó ngàng gì trong 4 năm), tôi đã xông xáo tìm kiếm để kết nối với các anh chị cùng học cấp III. Và rồi tôi đã may mắn tìm lại và kết nối được với hầu hết các anh chị cùng lớp.

Và năm nay, cuối Tháng Sáu này, chúng tôi sẽ có một cuộc họp mặt kỷ niệm 40 năm ngày ra trường. Chúng tôi sẽ về thăm lại Đà Lạt, thăm lại ngôi trường Thăng Long, thăm lại thầy cô và bạn bè.

Và tôi, người may mắn có tất cả những kỷ niệm đẹp, đầy yêu thương của tuổi thơ với các anh chị cùng lớp, đã rất háo hức mong ngóng đến ngày này từ hơn một năm trước, khi mà kế hoạch họp mặt được phác thảo, đề nghị.

Chỉ còn hai tháng nữa thôi, tôi sẽ gặp lại những khuôn mặt thân quen đầy kỷ niệm ấy. Họ không chỉ là những người bạn học mà còn là những người anh, người chị… luôn thương yêu, quý mến tôi như một đứa em út.

Tuần trước, trong nhóm tin nhắn của lớp tôi, anh Linh có hỏi: Minh Huân có về dự không em?

Tôi trả lời: Dạ, có chứ anh Linh!

Và câu trả lời của anh đã làm tôi cảm động muốn khóc:

‘Cả lớp nhiệt liệt chào đón đứa em út yêu quý của gia đình 12b’

Và câu trả lời của tôi khi ấy chỉ là:

vì tôi không biết nói gì thêm nữa!

Tôi là một người rất may mắn và hạnh phúc!

Chỉ còn hai tháng nữa thôi, các anh, các chị và các bạn!

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT