Trần Doãn Nho/Người Việt
KENNEDALE, Texas (NV) – Trong văn chương Á Đông, đề tài “tái giá” tuy khá hiếm, nhưng không phải là điều cấm kỵ. Nhà văn Bình Nguyên Lộc có đến hai truyện ngắn viết về đề tài này, một là “Mẹ Tôi Tái Giá” và hai là “Lại Mẹ Tôi Tái Giá.” Trong khi “Mẹ Lấy Chồng” của Vũ Thị Huyền Trang hoàn toàn khác.

Trong “Mẹ Tôi Tái Giá” của Bình Nguyên Lộc hai yếu tố “mẹ” và “tái giá” vừa để mô tả hiện thực (một người mẹ tái giá), nhưng đồng thời cũng mang tính cách ẩn dụ (xem rừng hoang như một bài mẹ nuôi bị một tay chủ đồn điền người Pháp khai phá để trồng cây cao su). “Lại Mẹ Tôi Tái Giá” cũng của Bình Nguyên Lộc hoàn toàn hiện thực, lấy chuyện tái giá của người mẹ để mô tả tâm tình phức tạp của đứa con trai khi phải sống chung với một người đàn ông không phải là cha ruột mình.
Nhưng “Mẹ Lấy Chồng” của Vũ Thị Huyền Trang dựng nên câu chuyện tái giá của một bà mẹ dưới góc nhìn của cô con gái xưng “tôi,” với những chi tiết sống động bất ngờ. Với giọng văn mềm mại, nhiều hình ảnh, lại đượm mùi nữ tính, chỉ vỏn vẹn chưa tới 2,400 chữ, câu chuyện dẫn ta đi qua chuyến “hành trình” trắc trở kiếm tìm hạnh phúc trong cuộc đời của một người phụ nữ, với một lần lấy chồng và… ba lần tái giá.
Đặc biệt, trong cả bốn lần lên xe hoa, cô con gái đều có mặt, chứng kiến từ đầu đến cuối các câu chuyện tình của mẹ mình. Mỗi một đám cưới diễn ra trong những khung cảnh, hoàn cảnh và xúc cảm khác nhau, đối với người mẹ cũng như đối với người con. Dù được hình thành bằng trí tưởng tượng phong phú của Vũ Thị Huyền Trang, tất cả những sự kiện diễn ra, dẫu hiếm tìm thấy trong xã hội, nhưng hoàn toàn gắn liền với hiện thực đời sống.
Trong lần lấy chồng đầu tiên, cô con gái dự đám cưới của mẹ với tư cách một… bào thai 6 tháng. Lúc đó, người mẹ đang còn là một thiếu nữ tràn trề xuân sắc, “ngượng nghịu nép sau lưng bố,” và lúc nào cũng ôm khư khư cái nón để “che đi bụng bầu” trước hàng trăm con mắt tò mò. Đám cưới nhà nghèo, nên không mâm cao cỗ đầy, chỉ có “cau trầu, bánh kẹo và nước chè đặc sánh.” Về nhà chồng rồi, dù đứng ở nhà chồng vẫn có thể trông thấy nhà mẹ đẻ, ấy thế mà người mẹ có cảm giác như xa cách nghìn trùng, mắt cứ nhìn “ra ngõ dài len lén lau nước mắt.” Nhưng bất hạnh thay, cuộc hôn nhân đầu tiên này khá ngắn ngủi. Chỉ ăn ở với nhau có sáu năm, thì chồng mất. Ngày đưa đám, “mẹ mặc chiếc áo lụa ngả vàng trong ngày cưới, đầu đội khăn tang trắng đến lạnh lòng.”
Chỉ một thời gian sau, vơi sầu, người mẹ tái giá, lúc cô con đang còn nhỏ dại. Ngày cưới, cô bé ham chơi, mải mê theo buôn bán với lũ bạn, chẳng mấy quan tâm đến chuyện sắp phải xa mẹ, không khóc cũng chẳng thèm tức giận mỗi khi bị tụi bạn trêu chọc. Khác với lần trước, lần này bà lấy được một ông chồng giàu có. Cỗ cưới dồi dào, người đến dự vừa được ăn uống no nê, lại còn được chia thêm đồ ăn mang về. Sung sướng và hãnh diện, người mẹ “diện váy cưới ren trắng,” “đẹp rạng rỡ như một điều kì diệu,” tươi cười vui vẻ với tất cả mọi người. Có điều, tướng mạo của người chồng mới này có nét bất thường, với “chiếc mũi diều hâu,” “vừa cười vừa hít vào khìn khịt.” Đã thế, ông ta chẳng tỏ ra chút thân thiện nào với đứa con riêng của vợ. “Ông bốc cho tôi một nắm kẹo xanh đỏ, xoa đầu tôi vài cái. Rồi thản nhiên đón mẹ tôi đi.” Mấy chi tiết này, tuy vặt vãnh, nhưng báo trước điều không hay. Quả thật thế, cuộc hôn nhân thứ hai này hoàn toàn không mang lại cho người mẹ chút hạnh phúc nào, vì bà bị gia đình nhà chồng hành hạ, và cuối cùng, bị đánh đuổi ra đường. Thế là, sau sáu năm chịu đựng, người mẹ đành phải trở về nhà cũ với khuôn mặt “đầy vết thâm tím, mắt sưng mọng, trên tay là chiếc ba lô đựng hành lí nhẹ tênh ngày mẹ theo chồng.”
Ấy thế mà rồi, nguôi ngoai chuyện cũ, người mẹ lại tái giá. Tuổi đã lớn, lại trải qua hai cuộc hôn nhân không như ý, bà bây giờ khác trước, da dẻ xanh xao, khuôn mặt gầy, lốm đốm tàn nhang, mắt đượm buồn. Dẫu vậy, ngày cưới, bà vẫn “bẽn lẽn cười hạnh phúc” trong chiếc áo dài trắng. Chồng của bà lần này là một nông dân đứng tuổi, “đầu lơ thơ vài sợi bạc,” gia cảnh nghèo nàn với bàn chân “lội ruộng vàng khè đang cố co lại giấu trong đôi dép xăng đan chật chội.” Ông mặc một chiếc áo bạc màu, “gấu quần vải căng đầy bọng cát,” cử chỉ lóng ngóng, vụng về khi làm lễ gia tiên.
Tưởng lấy chồng nghèo ở nông thôn thì yên thân, không ngờ, cuộc hôn nhân này cũng chẳng kéo dài lâu. Sau một thời gian chung sống, ông qua đời sau một vụ tai nạn xe hơi. Nhan sắc héo úa tàn tạ, nhà cửa để lại bị anh em nhà chồng tranh nhau xâu xé, người mẹ lại phải trở về nhà cũ, chẳng mang theo được tài sản gì, ngoài vành tang trắng và di ảnh người quá cố giấu trong trong ba lô. Nhà bây giờ thế là có hai bàn thờ, một của chồng cũ và một dành cho chồng mới. Lúc đó, cô con đã trải qua mối tình đầu, nên bắt đầu cảm thông được nỗi đau mất mát của mẹ. Hai mẹ con bây giờ có thể nhìn thẳng vào mắt nhau, cùng chia xẻ nỗi đa đoan của kiếp đàn bà. “Mẹ giờ như dòng sông cạn đáy mỏi mệt sau một đời người miên miết chảy. Từng cuộc hôn nhân tan vỡ, mẹ trở về nhà lầm lũi sống. Đó là khoảng thời gian hiếm hoi mẹ dành cho tôi tuyệt đối.”
Trải qua ba cuộc hôn nhân không ra gì, tưởng người mẹ đã chán chê chuyện lấy chồng. Nhưng không. Bà tái giá một lần nữa, khi đã bước vào tuổi 60. Lần này, chồng là một người đàn ông ở thành phố, đã từng có một đời vợ. Trước ngày cưới, người mẹ ngủ cùng cô con gái.
“Tôi ba mươi, hiểu đến từng tiếng trở mình của mẹ. Nửa đêm nghe mưa xuân rớt lạnh ngoài cửa sổ, mẹ thở dài hỏi:
-Có phải vì mẹ mà con không chịu lấy chồng?
-Con ở lại để canh mai nở. Lỡ mẹ có về…”
Người mẹ chuẩn bị cho lần lấy chồng này chu đáo. Trước ngày cưới, “mẹ quét tước cửa nhà tinh tươm, hái nốt đợt chè xuân, lót sẵn ổ rơm cho mấy con gà mái.” Tiễn mẹ, ngoài một bữa cơm đạm bạc với rau má, canh cá và đĩa tép khô, cô con “lén bỏ vào vài hộp thuốc hoạt huyết, thuốc bổ mắt, thuốc trợ tim và chiếc kính lão.” Và dẫu không có “hoa cưới cầm tay,” nhưng người mẹ già vẫn còn cái bẽn lẽn thông thường của một cô dâu. Còn cô con gái thì “ngồi dưới gốc mai nhìn theo chiếc xe máy đang trôi dần xuống dốc. Nhìn cho đến khi cô dâu, chú rể chỉ còn là chấm nhỏ lấp lánh ánh hoàng hôn vàng như một bông mai.” Và cô ước mong “lần này là lần cuối mẹ làm cô dâu.”

Câu chuyện chỉ có thế. Tuy nhiên, một câu chuyện mà thành nhiều câu chuyện, chuyện này dính đến chuyện kia, tất cả đều nói lên thân phận của người phụ nữ dưới góc độ của những cuộc hôn nhân không trọn vẹn.
Trong cuộc đời thực, nhất là vào thời đại nam nữ tương đối bình quyền hiện nay, một người đàn bà tái giá đến ba lần hay hơn nữa có lẽ không phải là điều bất thường hay hiếm thấy. Trong truyện này, nhân vật người mẹ rõ ra không hề thuộc típ sống theo trào lưu hiện đại, mà ngược lại, là người phụ nữ truyền thống. Bà có đầy đủ đức hạnh của một phụ nữ Á Đông điển hình, tuy trải qua nhiều đời chồng, nhưng không thuộc hạng lăng loàn, trắc nết. Trong ba lần tái giá, thì hai lần là vì chồng chết, một lần vì bị nhà chồng đuổi đi. Chính vì thế, bà vẫn được người mẹ chồng đầu tiên (tức bà nội của tác giả) yêu quý.
“Hôm nội mất mẹ không về kịp. Tim đã ngừng đập nhưng mắt nội vẫn còn ngóng đợi, cho đến khi những ngón tay của mẹ chạm vào nội mới thật sự thanh thản đi về cõi khác. Bởi nội hiểu không ai thương nội nhiều như mẹ. Từng ấy năm chịu bao phận làm dâu, nhưng trong lòng mẹ nội vẫn là bến bờ bình yên nhất. Mẹ chắt chiu từng đồng quà tấm bánh, từng manh áo ấm, từng viên thuốc bổ gửi về biếu nội.”
Cô con gái cũng thế, không hề trách mẹ, vì cô cho rằng “Người đàn bà nào cũng có quyền hạnh phúc. Mà mẹ tôi lại là người tha thiết kiếm tìm hạnh phúc, điều đó có gì sai?” Một mặt khác, phải thừa nhận rằng, đó là một phụ nữ bản lĩnh, thứ bản lĩnh mang ít nhiều hơi hướm nữ quyền là trào lưu xuất hiện ở phương trời Tây giữa thế kỷ 20, mà có lẽ bà không hề biết. Bà sống đức hạnh, nhưng biết chọn lựa và quyết định cách sống của chính mình và cho chính mình. “Mẹ chắc cũng đã nghe đủ lời cay nghiệt từ miệng lưỡi thế gian. Họ nói thứ đàn bà quạ mổ bỏ con theo giai không biết bao nhiêu bận. Thứ đàn bà bất hiếu mới không ở vậy phụng dưỡng mẹ chồng. Bao nhiêu cay đắng mẹ giữ trong lòng, ngạo nghễ đáp lại đời bằng nụ cười trong ngày cưới.”
Nhìn lại hành trình gian nan của người mẹ, Vũ Thị Huyền Trang rút ra một kết luận đượm mùi triết lý: “Trên con đường kiếm tìm hạnh phúc mẹ vẫn như đứa trẻ tập đi bị vấp ngã nhiều lần. Cách tốt nhất là để tự mẹ xoay xở đứng lên còn hơn là để nỗi đau đó vỡ òa trong sự thương xót của người thân.”
Ý niệm này không có gì mới. Nhưng nó xuất phát từ một câu chuyện đời rất lạ và rất mới. (Trần Doãn Nho) [qd]
Vũ Thị Huyền Trang sinh năm 1987, ở Phú Thọ. Tốt nghiệp đại học, ngành “Lý luận và Phê bình văn học.”
Các tác phẩm đã xuất bản gầm có: “Cỗ Xe Mây” (tập truyện ngắn), “Khi Không Có Bà” (truyện dài), “Giặc Bên Ngô” (tập truyện ngắn), “Chỉ Cần Nhắm Chặt Mắt” (tập truyện ngắn), “Ký Ức Miền Quê” (tập truyện ngắn), “Thương Nhớ Đồng Quê” (tập tản văn), “Chỉ Thấy Mây Trời” (tập truyện ngắn), “Chiều Nay Có Một Cuộc Hẹn” (tập truyện ngắn), “Bình Yên Bóng Mẹ” (tập tản văn).

















































































