Dân Việt đã có thể tự do lập hội sau gần 80 năm chờ đợi?

Chuyện Vỉa Hè

Đặng Đình Mạnh

Hội không phải là khái niệm mới. Từ năm 1946 tại miền Bắc và từ Tháng Tư, 1975, trên toàn lãnh thổ, hội đã luôn luôn được thừa nhận, hiện diện trong Hiến Pháp như là một trong các quyền tự do mang tính cách cơ bản của người dân trong suốt 5 “đời” Hiến Pháp của chế độ Cộng Sản Việt Nam, vào các năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.

Ba nhà báo của Hội Nhà Báo Độc Lập gồm Phạm Chí Dũng (phải), Nguyễn Tường Thụy (trái) và Lê Hữu Minh Tuấn (giữa) bị CSVN kết án tù ngày 5 Tháng Giêng, 2021. (Hình: VNA/AFP/Getty Images)

Chưa kể rằng, ngay trong những năm đàn áp các quyền tự do khốc liệt nhất ở miền Bắc, thì chế độ Cộng Sản vẫn mị dân khi ban hành Luật Quy Định Quyền Lập Hội vào ngày 20 Tháng Năm, 1957.

Thế nhưng, được thừa nhận trong Hiến Pháp, ra cả luật, chứ có được thực thi trong thực tế hay không còn là một câu chuyện kéo dài cỡ… 78 năm ròng (1946-2024). Vì lẽ, tương tự như các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do biểu tình… thì quyền tự do lập hội đã luôn bị chế độ Cộng Sản Việt Nam đình chỉ thực hiện hầu như vô thời hạn.

Thế nên, không oan ức gì khi các cơ quan, tổ chức theo dõi, bảo vệ nhân quyền từ Liên Hiệp Quốc cho đến các tổ chức phi chính phủ thường xuyên cáo buộc chế độ Cộng Sản đã thực hiện đàn áp, vô hiệu hóa các quyền tự do căn bản của người dân Việt Nam.

Hoặc chúng ta có một cách diễn đạt khác, rằng những quyền tự do theo Điều 25 Hiến Pháp hiện hành (tu chính năm 2013) là những quyền trên danh nghĩa mà thôi, vì chúng chỉ là những ngôn từ trên giấy, nhưng không hề được chế độ Cộng Sản tôn trọng thực thi trong thực tế.

Kể cả việc mới đây, khi họ ban hành nghị định số 126/2024/ND-CP quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội sau 11 năm trì hoãn (kể từ thời điểm tu chính Hiến Pháp năm 2013) cũng vậy. Chúng không hề là dấu hiệu chế độ sẽ tôn trọng và thực thi quyền tự do lập hội của công dân.

Vì giữa việc chế độ ban hành luật pháp hoặc ký kết tham gia các công ước quốc tế cũng vậy, luôn luôn có khoảng cách rất xa giữa việc ban hành luật pháp với việc thực thi luật pháp ấy.

Để dễ hình dung, chúng ta có thể lấy hàng tá ví dụ về việc chế độ Cộng Sản tham gia ký kết hàng loạt Công ước quốc tế mang ý nghĩa bảo đảm nhân quyền và nhân đạo, nhưng không hề tôn trọng thực hiện như sau:

-Trước năm 1975, chế độ Cộng Sản ký kết tham gia Công Ước Quốc Tế Geneva năm 1949 về bảo hộ nạn nhân chiến tranh, đối xử nhân đạo với tù nhân chiến tranh. Thực tế, đến thời điểm sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, chế độ Cộng Sản trục xuất toàn bộ thương bệnh binh Việt Nam Cộng Hòa đang điều trị tại các quân y viện ra ngoài. Sau đó, họ bỏ tù vô thời hạn gần như toàn bộ lực lượng quân, dân, cán, chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa dưới danh nghĩa mị dân là cải tạo, mà không hề xét xử.

-Năm 1977, chế độ Cộng Sản ký kết tham gia Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948, nhưng suốt từ ấy cho đến nay, chế độ Cộng Sản luôn luôn bị quốc tế cáo buộc và người dân trong nước tố cáo về tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng, kéo dài một cách có hệ thống.

-Năm 1982, chế độ Cộng Sản ký kết tham gia Công Ước về Các Quyền Dân Sự và Chính Trị 1966 (ICCPR), đồng thời, thừa nhận các quyền tự do trong Hiến Pháp. Thế nhưng, ngược lại, họ đã liên tục bỏ tù hàng trăm tù nhân lương tâm khi họ thực hiện các quyền tự do theo Hiến Pháp quy định.

-Năm 2013, chế độ Cộng Sản ký kết tham gia Công Ước Liên Hiệp Quốc về chống tra tấn 1984. Trong thực tế, lực lượng công an Việt Nam tra tấn, dùng nhục hình phổ biến trong hầu hết đối với các nghi can hình sự, hoặc chính trị. Kể cả người mới bị tạm giữ, gây ra hàng trăm cái chết của công dân trong các đồn công an. Thậm chí, trao trả những người tỵ nạn Tân Cương về Trung Quốc cho dù biết rằng họ sẽ bị đối xử tàn bạo, bất công sau khi bị trao trả.

-Năm 1982, chế độ Cộng Sản ký kết gia nhập công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc 1969. Trong thực tế, năm 2023, chế độ Cộng Sản đã đưa 100 người Thượng ở Đắk Lắk ra xét xử lưu động. Trong khi đó, luật pháp không hề quy định thủ tục xét xử lưu động và việc xét xử tự phát này cũng đã chấm dứt áp dụng từ năm 2018. Điều này thể hiện sự phân biệt chủng tộc đối với người Thượng.

Với những tiền lệ xấu đó về việc ban hành luật pháp và thực thi luật pháp, cho nên, không có gì bảo đảm về việc chế độ Cộng Sản sẽ thực hiện Nghị Định 126/2024/ND-CP, cho phép người dân được thực hiện quyền tự do thành lập hội.

Chưa kể rằng, theo thông lệ kỳ quặc về việc thực thi luật pháp trong nước, thì việc ban hành nghị định vẫn chưa đủ điều kiện để thực thi khi chưa có thông tư hướng dẫn thi hành nghị định. Theo đó, chắc chắn các cơ quan ban ngành có liên quan vẫn sẽ bất động để chờ đợi.

Đăng ký hay xin phép lập hội:

Nghị Định 126/2024 dùng khái niệm “đăng ký” là chính xác, vì nó phù hợp với bản chấp pháp lý của một quyền tự do. Thế nhưng, bên cạnh đó, cũng Nghị Định 126 lại quy định về các thủ tục phê duyệt điều lệ hội, tham khảo ý kiến các ban ngành có liên quan, xem xét, cho phép, ra quyết định… đã phủ nhận hoàn toàn khái niệm “đăng ký.” Mà thực chất, chính là sự “cho phép” trá hình theo cơ chế xin cho, chứ không còn là “đăng ký” như một quyền nữa.

Thực tế về việc lập hội trong thời gian qua như thế nào?

Trong suốt 78 năm qua (kể từ khi ban hành Hiến Pháp 1946), nhưng mãi đến nay, tức ngày 8 Tháng Mười, 2024, chế độ Cộng Sản mới ban hành Nghị Định 126/2024/ND-CP về việc lập hội, chứng tỏ quan điểm không hoan nghênh của chế độ đối với việc lập hội.

Thực tế tại Việt Nam cần có sự phân biệt về hai phương diện, hiệu lực pháp lý và thực tế thực hiện.

Về phương diện hiệu lực pháp lý: Kể từ thời điểm bản Hiến Pháp có hiệu lực pháp lý, thì quy định việc thành lập Hội là một quyền tự do của công dân cũng sẽ có hiệu lực. Theo đó, về nguyên tắc, công dân có quyền thành lập hội.

Việc chế độ chậm ban hành văn bản để thực hiện, đó là trách nhiệm của chế độ. Nó không phải là trách nhiệm của người dân. Chế độ không thể vin vào sự vô trách nhiệm của mình như là cơ sở để phủ nhận quy định của Hiến Pháp, hoặc phủ nhận quyền tự do của người dân đã có hiệu lực pháp lý được.

Về phương diện thực tế: Trong thực tế thì chế độ Cộng Sản thường xuyên ngăn cản việc người dân thành lập hội. Họ cho rằng do chưa có văn bản luật pháp quy định về việc lập hội, cho nên, lập hội là bất hợp pháp.

Trong vụ án xét xử các thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập gồm ông Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy và Lê Hữu Minh Tuấn, tòa án nói công khai rằng Hội Nhà Báo Độc Lập là một tổ chức bất hợp pháp vì không xin phép chính quyền khi thành lập. Thực tế, nếu có xin thì chính quyền vẫn không cho phép vì cho rằng chưa có luật để thi hành.

Dân Hà Nội biểu tình tự phát ngày 1 Tháng Năm, 2016, chống nhà máy thép Formosa ở Hà Tĩnh xả chất thải độc hại giết chết sinh vật biển nhiều tỉnh miền Trung Việt Nam. (Hình: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)

Các hành động của chế độ CSVN đàn áp người dân lập hội trước nay đều là bất công và bất hợp pháp. Để tham khảo thêm, khi xét xử các trường hợp này, thì một mặt họ khẳng định trong phiên tòa rằng các hội thành lập không xin phép đều bất hợp pháp. Mặt khác, chế độ CSVN thủ đoạn, không xét xử người dân về tội thành lập hội bất hợp pháp, mà xét xử người dân về những tội danh khác.

-Nếu hội ấy là đảng, tổ chức chính trị, thì chế độ cáo buộc người dân về tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,” hoặc tội danh “phá rối an ninh.”

-Nếu hội ấy hoạt động báo chí, xuất bản, thì chế độ xét xử người dân về những tội danh đàn áp quyền tự do ngôn luận, như Điều 331 Hình Sự về “lợi dụng các quyền tự do dân chủ…” hoặc Điều 117 Hình Sự về “tuyên truyền chống nhà nước…”

Để tham khảo, tại miền Nam, chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã hai lần ban hành Hiến Pháp vào các năm 1956 và 1967. Trong đó, cả hai bản Hiến Pháp đều có quy định về quyền tự do lập hội.

Trong thực tế, thực thi về quyền lập hội tại miền Nam chưa bao giờ là vấn đề khiến công chúng phải phàn nàn. Theo đó, các hội, đoàn thể, tổ chức xã hội dân sự được tự do thành lập nhiều vô kể, như nấm mọc sau cơn mưa…

Hơn nữa, đối với một xã hội dân chủ, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, thậm chí đối lập chính trị, thì lập hội chỉ là nhu cầu bình thường, lành mạnh của xã hội. Nó chưa bao giờ bị xem như mối nguy hại tiềm ẩn cho an ninh chính quyền để phải đàn áp, bóp nghẹt từ trong trứng nước như dưới chế độ Cộng Sản.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT