Trương Văn Thường, cựu chiến sĩ Pháo Binh TQLC

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Chiến sĩ Trương Văn Thường, cựu hạ sĩ quan Pháo Binh của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trước kia, gia đình của ông thuộc dân di cư từ Miền Bắc vào trong Miền Nam trong khoảng năm 1954.

Trương Văn Thường tham dự diễn hành Tết Nguyên Đán 2015, tại Westminster. (Hình: Trương Văn Thường cung cấp)

Phóng viên nhật báo Người Việt gặp ông Trương Văn Thường tại nhà của ông tại thành phố Westminster. Ông kể lại quá khứ, lúc ông còn bé sống tại Bắc Việt, cho đến khi gia đình của ông được di cư vào Miền Nam. Sau đó, ông trở thành một chiến sĩ Pháo Binh TQLC cho đến ngày tàn cuộc chiến tại Miền Nam vào cuối Tháng Tư, 1975.

Cuộc di cư vào Nam

Tại miền Bắc, vì cha của ông mất lúc ông còn bé, và mẹ của ông đã tái giá với một người đàn ông khác, ông Thường vẫn xem người đàn ông này là cha của mình. Năm 1954, ông Thường khoảng 10 tuổi. Sau trận đánh tại Điện Biên Phủ, có vấn đề người Pháp cho đồng bào miền Bắc di cư vào trong Nam. Những gia đình nào có con cái đi lính Pháp sẽ được chánh quyền Pháp mang xe đến rước từ khu làng này về đến Hà Nội.

Gia đình của ông Thường không có ai đi lính Pháp, nên họ phải đi bộ từ Vĩnh Yên ra đến Hà Nội khoảng chừng bảy cây số mới đến chợ Đồng Xuân. Còn những gia đình khác đi về hướng Hải Phòng, rồi được xuống “tàu há mồm” di cư vào Nam. Trong khi đó, những gia đình nào có người đi lính Pháp, được người Pháp đưa bằng máy bay để vào trong Nam.

Ông Thường kể: “Khi gia đình tôi đến chợ Đồng Xuân thì nghỉ ngơi ở đó. Trong thời gian này có vài người có học vấn cao, phần nhiều là những vị linh mục người Việt và người Pháp, liên lạc với ‘Ban Di Cư.’ Sau đó, họ đưa những gia đình muốn di cư vào trường học Hàng Than ở phố Hàng Than thuộc huyện Hoàn Kiếm, Hà Nội. Chúng tôi tá túc tại trường học này khoảng hai tuần lễ. Sau đó, họ đưa những người di cư chúng tôi ra phi trường Gia Lâm, và chúng tôi được đưa lên phi cơ vận tải lớn, rồi bay thẳng về đến phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn.”

“Khi phi cơ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt, có nhiều soeur người Pháp và lính Pháp đón tiếp chúng tôi. Sau đó, họ mới đưa dân di cư đến trường học Bách Nghệ, sau này trường được đổi tên là Cao Thắng. Trong thời gian ở đây, có một số người thuộc chánh quyền VNCH đưa chúng tôi ra đường phố để biểu tình chống chánh quyền Hà Nội, lúc đó cộng sản đã nắm chánh quyền Miền Bắc, không còn thực dân Pháp cai trị nữa,” ông cho biết thêm.

Trong khi đó tại miền Nam, ông Ngô Đình Diệm, là chính khách người Việt từng làm quan triều Nguyễn thời còn Vua Bảo Đại. Sau khi Vua Bảo Đại bị truất phế, ông Ngô Đình Diệm được làm thủ tướng Quốc Gia Việt Nam. Rồi được bầu chọn làm tổng thống của nền Đệ Nhất VNCH.

Trương Văn Thường (trái) và cựu Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức (nguyên cục trưởng Cục Tiếp Vận VNCH). (Hình: Trương Văn Thường cung cấp)

Ông Thường kể tiếp: “Chúng tôi tá túc tại trường Bách Nghệ thêm hai tuần lễ nữa. Sau đó chính phủ VNCH trưng dụng khoảng hơn 15 chiếc xe vận tải lớn của các cơ sở cao su từ Bình Dương, An Lộc… đến rước những dân di cư chúng tôi về những nơi để định cư, một số gia đình được đưa về Cái Sắn, miền Tây, một số gia đình được đưa về những vùng Tam Hiệp, Hố Nai, Rạch Dừa…”

Ông cho biết thêm: “Riêng gia chúng tôi thì được đưa về thành Tuy Hạ, Cát Lái. Từ đó đến Long Thành thì có con đường đất đỏ dài khoảng 30 cây số. Trên con đường này chánh phủ VNCH cho xây dựng 7 trại cho những người mới di cư được định cư. Gia đình chúng tôi được vào trại thứ tư, do Linh Mục Huấn làm trại trưởng. Xin được ngỏ lời cám ơn cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vì ông chính là người đã có chính sách cứu vớt dân di cư từ miền Bắc được vào trong miền Nam định cư, lập nghiệp và sau đó, đã có nhiều con cháu của dân di cư đã thành công trong thương trường tại miền Nam, các chuyên ngành kỹ sư, bác sĩ, giáo chức đã từng phục vụ cho chánh quyền VNCH, và cũng có nhiều sĩ quan tài ba trong hàng ngũ quân đội sẵn sang chiến đấu chống cộng sản xâm lược miền Nam.”

Tại bảy trại mà chánh phủ VNCH xây dựng để cho những gia đình di cư ngụ, lúc trước nơi này còn hoang vu và có nhiều Việt Cộng tại miền Nam hoạt động, nhưng đến khi có dân di cư về ở thì không còn thấy bóng dáng của Việt Cộng nữa. Trong khi đó, những gia đình di cư được chánh phủ cấp đất đai để được sinh sống bằng nghề làm ruộng rẫy, vườn tược, và chăn nuôi.

Trong lúc này, chánh phủ VNCH cho xây dựng những ngôi trường học Cấp 1 để cho các con em của các gia đình di cư vào học. Các thầy cô giáo làng lúc đó là những người từ những dân di cư, có trình độ văn hóa cao được chánh phủ trưng dụng để dạy chữ Việt cho các em nhỏ tại những làng di cư, mặc dù họ chưa có văn bằng giáo chức. Nhưng bố ghẻ của ông Thường lại không cho ông vào trường học, mà buộc ông phải đi làm cho những cơ sở trong những khu vườn cao su. Vì các cơ sở này đang cần nhiều công nhân, và đã có nhiều dân di cư được tuyển chọn làm công nhân cho những cơ sở cao su.

Trương Văn Thường (phải) và cựu Thiếu Tá Tôn (Phòng 3 TQLC), trong buổi Lễ dựng cờ VNCH tại Utah 2010. (Hình: Trương Văn Thường cung cấp)

Xin tình nguyện vào lính Biệt Động Quân

Ông Thường nhớ lại: “Lúc tôi được 12 tuổi, tôi rời gia đình để đi theo những công nhân đi làm tại các vườn cao su ở Bình Ba, Bình Giả. Hằng ngày, tại các vườn cao su có rất nhiều công việc làm như dọn dẹp khu vườn, lựa hột giống, cao mủ cao su… Về phần tuyển chọn công nhân, họ không giới hạn tuổi gì hết, mà nếu ai có đủ sức đi làm thì cứ làm. Vì thế, tôi mới 12 tuổi, nhưng họ vẫn chấp thuận cho tôi đi làm. Có thể vì chánh phủ miền Nam lúc đó muốn khuyến khích dân di cư nên hoạt động trong bất cứ ngành nghề để mưu sinh. Vì tôi còn nhỏ nên họ cho tôi làm những công việc lặt vặt trong vườn cao su, như nhặt những hột cao su và quét rác, xếp của tôi bảo tôi làm gì thì tôi cứ làm.”

Trong gần năm năm xa gia đình để đi làm trong các công ty cao su, mỗi năm, ông Thường đều có về thăm bố mẹ và cho họ tiền để mưu sinh. Ông làm công nhân cho nhiều khu vườn cao su tại Bình Giả, Lộc Ninh và An Lộc đến năm 16 tuổi. Lúc này, Việt Cộng xuất hiện tại khu Rừng Sát và có một số hoạt động trong làng của những người dân di cư một cách thầm lặng, vì họ biết dân di cư không thích người cộng sản.

Trương Văn Thường nhớ lại: “Lúc tôi đang làm công nhân tại An Lộc thì biết có một đơn vị Biệt Động Quân (BĐQ) đang bảo vệ An Lộc. Lúc đó tôi thấy lính BĐQ chưa mặc quân phục rằn ri, mà chỉ mặc quần áo đen và mang phù hiệu BĐQ và cũng chưa thành lập tiểu đoàn. Đơn vị này được lệnh đến yểm trợ cho những xe ủi đất trong vườn cao su và bảo vệ những nhân viên đến phát lương cho công nhân. Lúc đó, tôi nhìn thấy những người lính BĐQ thì rất thích, và muốn mình được trở thành những quân nhân của BĐQ. Tôi quyết định đến văn phòng tuyển mộ BĐQ để xin gia nhập đơn vị này. Họ từ chối, nói tôi chưa đến tuổi để đi lính, vì lúc đó tôi mới 16 tuổi.”

Tình nguyện vào lính Dân Vệ

Đến khi ông Thường được 17 tuổi, bố ghẻ của ông viết thơ cho ông, bảo rằng khi con trai từ 17 tuổi phải trở về nơi làng mình ở lúc trước để làm thẻ trưng binh và trình diện quân dịch, theo lệnh của chánh phủ VNCH.

ừ trái, Trương Văn Thường, ca nhạc sĩ Nhật Trường và vợ của Trương Văn Thường, tại Westminster 2003. (Hình: Trương Văn Thường cung cấp)

Ông Thường nhớ lại: “Khi trở về làng di cư, tôi lên trình diện tại quận Dân Trạch để họ làm thẻ trưng binh và thi hành quân dịch. Họ bảo tôi là còn sáu tháng nữa, tôi mới đủ tuổi đi lính. Tôi trở về làng gặp lúc chánh quyền đang tuyển mộ Dân Vệ để bảo vệ làng xã. Sáu tháng sau, khi đến tuổi đi lính, tôi liền đến đăng ký để được trở thành lính Dân Vệ. Tại đơn vị này có sáu người lính Dân Vệ là người Bắc Kỳ di cư, và bốn người Nam Kỳ được đưa xuống trại huấn luyện Dân Vệ tại Phước An là trại xa nhất trong làng người di cư của chúng tôi.”

Ông nói thêm: “Chúng tôi được tập huấn nơi đây để cho biết cách thức tập họp trình diện quân số, biết cách thức đi đội hình diễn hành và tập bắn súng. Huấn luyện viên là một trung sĩ già đã từng đi lính Pháp ngày xưa đã được di cư vào Nam từ năm 1954 cũng như chúng tôi. Được thụ huấn chỉ có ba ngày, chúng tôi được phát súng MAS-36, loại súng trường Đông Dương. Loại súng này có thân rất dài, nên người Việt của mình thường gọi là ‘súng chọc bưởi’.”

“Mười quân nhân chúng tôi được họ phát cho mỗi người một khẩu súng MAS-36, và một cảnh sát người Nam được một khẩu MAS-49, còn người chỉ huy được phát khẩu súng ‘Ru-lô’. Tổng cộng là 11 người chúng tôi đóng quân tại trại huấn luyện Dân Vệ tại Phước An. Hai tuần lễ sau, khoảng 10 giờ tối, Việt Cộng đến phát loa từ bên ngoài đồn và đốt lửa sáng rực. Đi theo họ cũng có một số dân chúng kéo đến để biểu tình. Việt Cộng và đám chống đối hô to ‘Đả đảo Mỹ-Diệm.’ Khi nghe bên ngoài có tiếng la lớn, cũng làm cho chúng tôi mất tinh thần,” ông Thường kể.

Trong khi đó, đám người đang phát loa cũng có mặt mẹ và vợ của ông đội trưởng ở đó. Những người trong nhóm biểu tình phóng loa gọi ông đội trưởng ra đầu hàng. Theo ông Thường, trong lúc đó có một tên Việt Cộng tên Võ Lực Lượng, trưởng toán Du Kích Phước Thiền, và một người nữa tên là Đoàn Chi Lăng, trưởng toán Du Kích xã Phước Long. Còn ở xã của gia đình ông Thường, là xã Phước An cũng có một tên trưởng toán Du Kích Xã có mặt. Việt Cộng muốn tập hợp ba liên quân Du Kích Xã đến phát loa kêu gọi lính trong đồn ra đầu hàng, mà không có hành động dùng vũ khí để tấn công đồn trú. [dtr]

(còn tiếp)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT