Hiếu Chân/Người Việt
Ngày 2 Tháng Tư năm ngoái, Tổng Thống Donald Trump đứng giữa Vườn Hồng Toà Bạch Ốc công bố một danh sách dài những mức thuế nhập cảng mà Mỹ sẽ áp dụng với đối tác thương mại khắp thế giới. Ông tuyên bố thuế quan (tariff) là một trong những chính sách chính của nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông. Ông gọi hôm ấy là “Ngày Giải Phóng” (Liberation Day), “ngày mà chúng ta bắt đầu làm cho nước Mỹ giàu có trở lại” (“the day we began to make America wealthy again”), công ăn việc làm sẽ dồi dào, vốn đầu tư nước ngoài sẽ đổ vào, giá tiêu dùng sẽ giảm mạnh, cán cân thương mại sẽ cân bằng… Một năm đã trôi qua, chúng ta đã “giàu có” hơn đến mức nào?

Chập chờn quan thuế
Tổng Thống Trump và đội ngũ cố vấn kinh tế của ông cho rằng nước Mỹ đang trong “tình trạng khẩn cấp quốc gia về thương mại” do nhập siêu quá lớn và kéo dài qua nhiều đời tổng thống khiến thâm hụt thương mại (trade deficit) luôn ở mức cao. Số liệu thống kê ghi nhận năm 2024 – năm cuối nhiệm kỳ của Tổng Thống Joe Biden – thâm hụt của Mỹ là $903.5 tỉ, tăng gần 17% so với năm trước.
Tình trạng này, theo ông Trump, là do các nước lợi dụng sự thông thoáng và mãi lực khổng lồ của thị trường Mỹ để bán hàng, đồng thời dựng rào cản để hạn chế người dân mua hàng Mỹ. “Các nhà lãnh đạo nước ngoài đã ăn cắp công việc làm của chúng ta, những kẻ lừa đảo nước ngoài đã cướp phá các nhà máy chúng ta và bọn lưu manh nước ngoài đã xé nát giấc mơ Mỹ một thời tươi đẹp của chúng ta,” ông Trump khẳng định.
Để chấm dứt tình trạng đó, lập lại sân chơi công bằng, chính quyền Trump ban hành chính sách “thuế đối ứng” (reciprocal tariff); hễ nước nào đánh thuế cao lên hàng Mỹ thì Mỹ sẽ đánh thuế cao tương ứng vào hàng hoá của họ bán vào Mỹ. Ông Trump viện dẫn đạo luật The International Emergency Economic Powers Act (IEEPA) năm 1977 làm căn cứ pháp lý cho hành động. Mức thuế đối ứng cho mỗi nước mỗi khác nhưng tính bình quân vào khoảng 22.5%, cao gần 10 lần so với mức thuế bình quân (2.4%) áp dụng trước đó.
Thị trường lập tức phản ứng mạnh. Ngay sau tuyên bố của ông Trump, ngày 3 Tháng Tư 2025, chứng khoán Mỹ có ngày tồi tệ nhất: chỉ số Dow Jones mất 1,700 điểm (4%), S&P 500 giảm 4.8% và Nasdaq giảm 6%.
Hốt hoảng, vài hôm sau chính quyền Trump thông báo hoãn thi hành các sắc thuế mới trong 90 ngày để đàm phán các thỏa thuận (deal) thương mại mới, nhưng sau một năm, Mỹ chỉ “deal” được với 19 nước. Nhờ các thoả thuận mới, mức thuế bình quân cho hàng hóa nhập cảng vào Mỹ từ “Ngày Giải Phóng” tới nay chỉ ở mức 10-12%, theo CFR.
Ngày 20 Tháng Hai 2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ, với số phiếu 6-3, phán quyết Tổng Thống Trump đã vượt quá quyền hạn khi ban hành thuế đối ứng, thuế quan thuộc thẩm quyền của Quốc Hội, buộc chấm dứt việc đánh thuế đối ứng bất hợp pháp và hoàn trả những khoản thuế đã thu được. Không chùn tay, chính quyền Trump áp đặt mức thuế căn bản tạm thời 10% theo Section 122 của Đạo Luật Thương Mại 1974 và tổ chức điều tra hành vi thương mại của hơn 70 quốc gia theo Section 301 của Đạo Luật Thương Mại 1974, chuẩn bị cho việc đánh thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp…
Trong một năm qua, chính quyền Trump rất nhiều lần tăng thuế, rồi đình hoãn, rồi giảm thuế một cách tuỳ tiện, dựa vào cách ứng xử của từng quốc gia mà không theo một nguyên tắc cố định nào. Chính sách “chập chờn” sáng đúng chiều sai đó gây vô số khó khăn cho đối tác và bạn hàng, làm suy giảm niềm tin vào tính chất nhất quán của đường lối kinh tế nước Mỹ.
Thu được nhiều hơn… từ túi dân
Một trong những cái “được” của năm qua là thuế quan giúp chính phủ Mỹ thu thêm được hàng trăm tỉ đô la ngân sách, có tháng thu được trên $30 tỉ. Trong năm tài khoá 2025, Bộ Tài Chính thu về $194.9 tỉ tiền thuế nhập cảng, tăng 146% so với cùng kỳ ($79 tỉ), còn năm tháng đầu năm tài khoá 2026 (Tháng Mười, 2025 đến Tháng Hai, 2026) đã thu về $144.3 tỉ, tăng 307% so với cùng kỳ năm 2025.
Tuy nhiên, đáng nói là số tiền thuế quan khổng lồ kể trên là từ túi của người Mỹ chứ không phải từ nhà sản xuất nước ngoài. Khi hàng hóa mua về đến hải cảng nước Mỹ thì công ty nhập cảng phải đóng thuế trước khi lấy hàng ra bán. Nghiên cứu của các kinh tế gia thuộc Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang (Fed) New York ghi nhận vào Tháng Tám 2025, người Mỹ gánh chịu 94% chi phí thuế quan, nhà xuất cảng nước ngoài chỉ chịu 6%. Tỉ lệ này biến đổi theo thời gian, đến cuối năm 2025, nhà xuất cảng chịu 16% chi phí thuế quan, chứng tỏ các nhà nhập cảng Mỹ đã có thành công khiêm tốn trong việc chuyển một phần thuế quan sang nhà sản xuất nước ngoài.
Người tiêu dùng thua thiệt
Nhà nhập cảng đóng thuế cho chính phủ, sau đó họ sẽ tìm cách nâng giá bán, chuyển một phần tiền thuế đó sang vai người tiêu thụ. Theo nghiên cứu của Yale Budget Lab thuộc đại học Yale University, hiện người tiêu dùng Mỹ phải gánh chịu 76% tiền thuế quan khi mua một món hàng nhập cảng.
Đáng chú ý là sau phán quyết Tháng Hai 2026 của Tối Cao Pháp Viện, chính phủ Mỹ phải thu xếp hoàn lại cho nhà nhập cảng những khoản thuế quan họ đã nộp theo mức “thuế đối ứng” hồi Tháng Tư năm ngoái. Hàng ngàn công ty, trong đó có những tập đoàn lớn như Costco, FedEx… đã nộp đơn đòi hoàn thuế theo phán quyết của tòa và chính phủ đang xem xét giải quyết. Có điều, những khoản tiền hoàn thuế này cũng sẽ không quay lại ví tiền của người dân vì hàng đã bán, tiền đã thu; đằng nào người tiêu dùng cũng thua thiệt.
Thuế quan làm cho giá hàng nhập cảng tăng lên, từ đó thúc đẩy lạm phát chứ không làm giảm giá hàng hoá như lời ông Trump. Thời cựu Tổng Thống Biden, lạm phát cao do chuỗi cung ứng hàng hoá bị gián đoạn vì đại dịch COVID 19 và chiến tranh ở Ukraine. Thời ông Trump, lạm phát chủ yếu do thuế quan. Hôm 18 Tháng Ba, Chủ Tịch Fed Jerome Powell nói tại cuộc họp báo rằng thuế quan đang góp thêm từ nửa điểm đến ba phần tư điểm phần trăm vào tỉ lệ lạm phát. Các nhà kinh tế khác xác nhận, trong Tháng Hai 2026, thuế quan làm cho chỉ số giá tiêu dùng CPI (Consumer Price Index) tăng thêm 0.87 điểm phần trăm.
CPI Tháng Hai 2026 là 2.4% thấp nhất kể từ Tháng Năm năm ngoái nhưng đó là chưa tính giá xăng dầu và thực phẩm tăng nhanh gần đây do ảnh hưởng cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Trung Đông.
Thâm hụt thương mại chưa giảm
Một trong những mục đích chính của ông Trump khi ban hành chính sách thuế đối ứng Tháng Tư năm ngoái là làm giảm thâm hụt thương mại của Mỹ. Nhưng các chuyên gia kinh tế cho rằng, thâm hụt thương mại là do thói quen tiêu dùng và cơ cấu kinh tế thiên về dịch vụ của Mỹ, chưa hẳn do nước ngoài lạm dụng. Trong năm qua, dù thuế quan tăng nhưng Mỹ nhập cảng nhiều hàng hoá hơn trước, bởi nhu cầu tiêu thụ của người Mỹ không giảm. Sự bất định trong chính sách thuế của ông Trump làm cho các doanh nghiệp tranh thủ mua nhiều hàng hơn trước khi mức thuế mới có hiệu lực hoặc khi thuế tạm thời giảm xuống.
Năm 2025, Mỹ nhập cảng $3.4 ngàn tỉ hàng hoá, tăng 4% so với năm trước; xuất cảng cũng tăng 6%, lên $2.2 ngàn tỉ, thâm hụt khoảng $1.2 ngàn tỉ, theo NPR. Tuy nhập siêu về hàng hoá nhưng Mỹ luôn xuất siêu về dịch vụ nên bù trừ giữa hàng hoá và dịch vụ, trong năm 2025, Mỹ thâm hụt khoảng $901.5 tỉ, giảm chút ít so với năm trước.
Công nghiệp chưa hồi phục
Các biện pháp thuế của ông Trump luôn để mở một cơ hội: miễn thuế cho doanh nghiệp xây nhà máy ở Mỹ, tuyển dụng công nhân, tạo ra việc làm cho người Mỹ. “Các bạn sản xuất ở đây, ở nước Mỹ. Vì nếu bạn xây nhà máy, sản xuất ở Mỹ bạn sẽ không bị đánh thuế,” ông Trump nói.
Khi công bố “Ngày Giải Phóng,” ông nói chính sách thuế quan của ông sẽ thu hút $6 ngàn tỉ vốn đầu tư vào Mỹ, rồi đầu năm 2026, ông và các bộ trưởng luôn đưa con số đó lên $18 ngàn tỉ, nhưng thực tế hoàn toàn khác. Đến nay có 11 trong số 19 quốc gia ký thỏa thuận thương mại với Mỹ đã hứa đầu tư, nhiều nhất là Liên Âu ($600 tỉ) và Nhật Bản ($550 tỉ), cộng chung khoảng $2,500 tỉ. Nhưng lời hứa đầu tư này chủ yếu để lấy lòng ông Trump, để ông giảm thuế cho họ, hơn là để thực thi.
Trong năm đầu nhiệm kỳ hai của ông Trump, các nhà đầu tư đã cam kết $330 tỉ vốn đầu tư vào Mỹ, tăng gấp rưỡi so với năm đầu thời Biden, nhưng thực tế chỉ thực hiện $288 tỉ, thấp hơn năm trước và dưới mức bình quân của 10 năm gần đây.
Ngay các công ty Mỹ ở ngoại quốc cũng không hào hứng với việc chuyển cơ sở sản xuất về lại nước Mỹ (reshore) do chi phí nhân công, năng lượng, quy định về môi trường và lao động của Mỹ thiếu sức cạnh tranh so với nhiều quốc gia Châu Á, theo các khảo sát của các công ty tư vấn KPMG, ISM…
Kết quả là việc làm trong ngành chế tạo (manufacturing) không tăng nhanh như ông Trump mong muốn. Ước tính từ Tháng Tư năm ngoái đến Tháng Hai năm nay, ngành công nghiệp chế tạo Mỹ mất khoảng 89,000 việc làm; do nhiều nguyên nhân, trong đó có phần do chính sách thuế quan của ông Trump làm các nhà đầu tư ngần ngại, không dám mở rộng kinh doanh. Cần biết, sự suy giảm số công việc làm trong các ngành công nghiệp chế tạo của Mỹ là xu hướng đã có nhiều thập niên, cùng với làn sóng toàn cầu hoá kinh tế trên toàn thế giới chứ không phải do chính sách của các tổng thống Mỹ.
Thâm hụt thương mại triền miên của Mỹ là có thật và cần giải quyết để có một môi trường kinh doanh công bằng hơn. Nhưng đánh thuế tràn lan lên mọi bạn hàng không phải là giải pháp tối ưu. Từ thực tiễn, có nhiều lý do để hoài nghi khả năng của chính quyền Trump hoàn thành những mục tiêu “làm cho nước Mỹ giàu có trở lại” mà họ đặt ra trong “Ngày Giải Phóng” hồi Tháng Tư năm ngoái. [dt]

















































































