Trần Doãn Nho
Trong giai đoạn đầu tiên sau 1975, một trong những trở ngại mà báo chí và văn học hải ngoại phải đối phó là: không có máy đánh chữ Việt, không có nhà in Việt cũng không có máy vi tính Việt. May, chữ “quốc ngữ” sử dụng bảng chữ cái La Mã, nên không đến nỗi “vô kế khả thi” như chữ Hán, chữ Phạn. Chỉ cần in ra chữ Tây, bỏ dấu vào, thành chữ Ta.

Báo “Người Việt” (California) chẳng hạn.
Năm 1978, khởi đầu với một máy chữ “IBM Selectric” đi mượn và bốn ngàn ($4,000) đô la tiền vốn, hai nhà báo Đỗ Ngọc Yến và Lê Đình Điểu đã lao vào một cuộc kinh doanh và cũng là một nghĩa vụ: thực hiện một tờ báo tiếng Việt cho cộng đồng di dân. Cũng như mọi tờ báo khác trong thời kỳ này, báo in ra bằng chữ không dấu, dùng bút mực bỏ dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) từng chữ một, đồng thời cắt, dán để hoàn tất tờ báo trước khi sao ra nhiều bản, phân phát đi các nơi.
Mãi đến năm 1986, “Người Việt” mới thoát khỏi công việc tốn thời gian này nhờ “Việt Diplomat,” bộ gõ tiếng Việt do “VN Labs,” một công ty nhu liệu do kỹ sư Nguyễn Việt (Victor Nguyen) thành lập vào năm 1984, tọa lạc tại San Jose, tiểu bang California. Mời đọc một trích đoạn từ bài “Typing in Tongues” (Gõ phím ra Giọng nói) [1] của Maria L. La Ganga, ký giả báo “Los Angeles Times” ngày 16 Tháng Sáu, 1989, viết về công trình này của Victor Nguyễn:
“Đối với các nhân viên của Người Việt, tờ báo tiếng Việt quan trọng ở Quận Cam, việc xuất bản một số báo đã là công việc hết sức vất vả trước khi Victor Nguyen xuất hiện. Viết bài không phải là vấn đề; đánh máy chữ mới là vấn đề. Và chính tiếng Việt – với vô số dấu trên gần như mọi chữ – là nguyên nhân cốt lõi của sự phức tạp đó. Cho đến gần đây, chưa có phần mềm máy tính nào giải quyết được sự phức tạp của tiếng Việt. Vì vậy, các nhân viên của báo Người Việt phải gõ bài vào máy điện toán mà không có dấu, sau đó in ra bản chính của từng bài viết và quảng cáo, rồi tự tay bỏ dấu trước khi đem báo đi in. Ruth Talovich, một biên tập viên của tờ báo phát hành năm-ngày-một-tuần, nhận xét: ‘Nhìn tất cả những chữ trên trang báo và tưởng tượng phải đi xuyên suốt hết để thêm dấu vào trên từng chữ một. Hãy nhìn những dấu móc trên chữ U [Ư] và chữ O [Ô], những dấu mũ trên chữ E [Ê]. Chỉ cần lướt qua một trang thôi là sẽ thấy nó tốn thì giờ biết chừng nào.’”

Người kỹ sư trẻ tài năng này không ngừng ngang đó. Maria L. La Ganga cho biết tiếp:
“Vào năm 1986, khi tạp chí Người Việt bắt đầu sử dụng Diplomat, nhu liệu này chỉ có tiếng Việt; ngày nay [1989], nó cho phép các nhu liệu tiếng Anh ‘nói’ được 23 ngôn ngữ khác nhau, từ tiếng Albania đến tiếng Urdu. Và ông Nguyen đã rời bỏ môi trường doanh nghiệp để dành thời gian cho VN Labs, công ty của ông tại Newport Beach chuyên sản xuất sản phẩm đa ngôn ngữ này. (…) Ông Nguyễn cho biết, với các nhu liệu và máy tính cá nhân trước đây, “người dùng muốn viết hoặc xuất bản bằng ngôn ngữ của mình thì không thể làm được. Nhưng giờ đây, với (các chương trình) của chúng tôi, họ có thể sử dụng tất cả tính năng của các bộ xử lý văn bản tiếng Anh hiện có – và quan trọng hơn nữa là nhu liệu dàn trang – để viết bằng ngôn ngữ của mình.”
1986 đúng là “năm bản lề” của báo chí tiếng Việt hải ngoại. Nó thay đổi hẳn cung cách viết lách và xuất bản sách vở báo chí mọi loại, góp phần quan trọng cho sự phát triển mạnh mẽ của một nền báo chí và văn học non trẻ ở ngoài xứ sở.

Ngoài Nguyễn Việt, còn có Hồ Thành Việt, tức John Hồ (1955-2003). Trước năm 1975, Việt là sĩ quan Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến, quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Di tản sang Mỹ năm 1975, anh theo học California State University, Fullerton. Tốt nghiệp kỹ sư vi tính, anh thành lập “Công Ty Nhu Liệu VNI” (VNI Software Company). Gần như cùng thời điểm với Nguyễn Việt, anh phát hành bộ chữ VNI, lúc đầu được sử dụng với MS-DOS, về sau, dùng chung với những hệ điều hành khác như Microsoft Word, WordPerfect, Ventura Publisher… Năm 1995, công ty VNI phát hành nhu liệu “VNI-Tân Kỳ for Windows” bao gồm kiểu chữ và cách nhập dữ liệu dùng cho Windows Workstation 3.1 và Windows 95. Năm 2000, bộ “VNI-Tan Viet 2000 UNICODE” được cải tiến để sử dụng được trên mọi hệ điều hành.
Sau này, vào năm 1993, Hội Chuyên Gia Việt Nam (Vietnamese Professionals Society) cũng sản xuất ra một nhu liệu tiếng Việt mới, VPSKeys, thiết kế cho hệ điều hành Windows 3.1; nhu liệu này về sau cũng trở thành phổ biến trong ngành báo chí cũng như cho các máy vi tính cá nhân.
Ngoài ra, tưởng cũng nên nhắc đến “Vietnet”, một nhóm các nhà khoa học máy tính trẻ gốc Việt được thành lập vào năm 1986. Máy tính thời kỳ đó chỉ hỗ trợ tiêu chuẩn mã hóa ký tự ASCII (American Standard Code for Information Interchange = Mã tiêu chuẩn Mỹ trong trao đổi thông tin). Trong khi chưa có nhu liệu tiếng Việt, để liên lạc với nhau trong nhóm, các thành viên đã đã kiến tạo một danh sách điện thư, kết nối các cộng đồng người Việt hải ngoại thông qua giao tiếp điện tử, bằng cách sử dụng các ký tự có sẵn trong ASCII để biểu thị những dấu thanh trong tiếng Việt. Sau đó, họ chuyển danh sách email này đến một diễn đàn thảo luận có tên là: soc.culture.vietnamese (SCV).
Mẫu dưới đây là thư của một thành viên gửi cho các thành viên khác trong diễn đàn này, hỏi về cách đặt tên trong tiếng Việt:
Tiện lợi và đơn giản: biến chữ Tây thành chữ Ta, không cần bỏ dấu!
Những ai chưa từng biết qua cách viết này cũng có thể đọc và tạm hiểu nội dung của nó. Chẳng hạn câu trích ra sau đây:
-Okay, trong Tu+’ Ddu+’c, “Co^ng, Dung, Ngo^n, Ha.nh”, “Dung” co’ nghi~a gi` ha? ba` con? (Dung nhan?) = Okay, trong tứ đức “Công, Dung, Ngôn, Hạnh,” “Dung” có nghĩa gì hả bà con? (Dung nhan ?)
Quy tắc viết được gọi là quy ước “SCV” hoặc “VIQR” (Vietnamese Quoted-Readable) được quy định như sau:
Dấu . = nặng; ` = huyền; ’ = sắc; ? = hỏi; ~ = ngã
Các nguyên âm đặc biệt: o+ = ơ; u+ = ư, a^ = â ; a( = ă dd = đ
Quy ước “VIQR đã trở thành tiêu chuẩn mà nhiều công dân trực tuyến Việt Nam trong thời hoàng kim của các nhóm tin và diễn đàn tin dùng, và vẫn còn được nhiều người sử dụng cho đến tận ngày nay.”
Khi vừa đến định cư (1993), tôi đã từng đọc khá nhiều tài liệu chính trị, xã hội và văn chương viết dưới dạng này, được gửi qua email, trong đó có “Tạp Chí Văn Chương Liên Mạng” của Phạm Chi Lan. Chính tôi cũng đã tập sử dụng hình thức này để trao đổi thư từ, cũng như ghi chép tài liệu cất giữ trong máy tính.
Lược qua vài nét như thế để thấy những khó khăn lớn lao của người viết văn làm báo hải ngoại trong thời gian đầu trước khi phát triển thành một nền báo chí hoàn chỉnh. [hp]
—-
[1] Maria L. La Ganga, Typing in Tongues : Software Lets Users of Conventional Word Processors Write in Any of 23 Languages
https://www.latimes.com/archives/la-xpm-1989-06-16-fi-2232-story.html












































































