LTS: Nhật báo Người Việt mở mục ‘Bạn đọc viết’ nhằm mời gọi quý thân hữu ‘cùng làm báo’ với Người Việt, chia sẻ những rung cảm, ý tưởng, quan niệm, hồi ức, kiến thức, kinh nghiệm,… về đời sống và xã hội. Để tham gia, quý bạn đọc vui lòng gởi email: [email protected]
Trần Ngọc Diệp

Chiều cuối năm, phố vắng đến bất ngờ. Mưa bụi bay bay như sương tơ. Giữa khoảng màu lấp lánh trong ánh sáng mờ đục, tiếng đoàn tàu vừa kéo còi vào ga như kéo tôi theo về những ngày Tết của tuổi thơ xa xôi.
Hướng về phía những ngọn đồi chập chùng đến tận dãy Trường Sơn, ngôi làng nhỏ tựa lưng bên đồi Trọ. Dù cổng làng đã được khắc bảng tên thôn Minh Tiến nhưng trong tất cả những câu chuyện mạ kể ngày xửa ngày xưa thì làng đã có cái tên thật dễ thương. Làng Tâm Duyệt Thượng!
Mẹ vẫn nhắc Tết năm tôi chừng năm sáu tuổi, khi ngoại hỏi cháu ước điều gì cho năm mới. Con bé đã nói con muốn đi tàu qua khỏi đồi Trọ. Bên ấy là thành phố phải không ông? Những bức tranh cá chép, mai lan cúc trúc, đấu vật, câu đối xanh đỏ… đều là những thứ đẹp đẽ đến từ Thủ Đô. Cả những câu chuyện cổ tích cũng được kể từ đó phải không?
Với người dân quê tôi, Ga Xép Thượng Lâm và con tàu kết là nối giấc mơ quê với ánh hào quang thành phố. Từ nhà ga, thong thả qua con dốc thấp, gặp những thửa ruộng như ô bàn cờ xanh xanh, qua một khu vườn trồng dạ hương, loại thân gỗ vàng thơm nức là đến làng. Tâm Duyệt Thượng là bốn xóm nhỏ dưới chân đồi ngó ra đập nước Cổ Hụ trong vắt đủ tưới tiêu cho đồng ruộng vườn tược trong vùng. Mỗi xóm chừng mấy chục nóc nhà, chỉ cần ới một tiếng thì đã thấu tận xóm kia. Ga Xép và tiếng còi tàu cũng góp phần kết nối. Ngày thường, ngày Tết, lúc rảnh rỗi, người ta đều rủ nhau ra ga, quen nghe tiếng còi tàu như kiểu khỏi xem đồng hồ để biết giờ. Bọn con nít còn huênh hoang nói vừa nghe đã đoán ra loại tàu gì từ đâu đến.
Những thửa ruộng nhỏ men theo thung lũng mỗi năm cho ba vụ cày cấy. Cũng đủ rộn ràng cho bọn trẻ chúng tôi theo mẹ theo dì cơm nắm muối mè, tát nước đêm trăng, bắt cá bừa, mót lúa, mót khoai, đơm cá lụt…
Giáp Tết cũng là mùa gieo sạ. Những người xa quê về nhà ăn Tết sớm không ai không ra ruộng. Họ nhớ mùi bùn và cái giá buốt tháng Chạp. Nhiều năm cá chết trắng đồng mà mẹ vẫn đi gieo. Con gái theo chân người dậm vài nắm mạ tay chân đã tê buốt. Trách chi mỗi lần lên tàu về phố, ngang qua đồng làng mắt nhoà đi khi gặp những chiếc bóng lom khom đắp bờ nhổ cỏ giữa mưa phùn gió Đông.
Nhìn về phía tây, những ngọn đồi hiu quạnh, mây tràn về tận con dốc sau nhà. Những ngôi nhà nóc thấp, mái ngói, mái lá, giàn bếp đầy bồ hóng phơi phong đồ đan lát, bắp lúa, hạt rau giống. Tết gặp mùa săn thì thoảng có thêm đôi ba kí thịt hươu nai, thịt heo ủ muối để dùng dần. Còn lại quanh năm thì muối đậu muối mè dầu ép tích trữ chi cũng nhờ cái giàn bếp ám khói.
Con bé háo hức Tết bắt đầu từ ngày ông ngoại rây bột lăn hương và bà ngoại sai chạy qua xóm bên mượn khuôn làm bánh xoài. Khi mẹ và các dì vội vàng trong giá rét đến tận tối thui cấy cho xong mấy đám ruộng tận sát chân đèo thì ngoại đã vác từng bó cây nhang lá xanh hình lưỡi mác về để góc sân. Mấy ngày nắng Đông hiếm hoi chưa đủ khô, đã có giàn bếp hoặc than củi để sấy. Những chùm rễ cây khô khén cùng mùi thơm phảng phất khi ngoại chẻ tre vót que. Ngoại nghiền thành thứ bột nâu màu đậm hơn cám gạo trên chiếc sàng lăn cùng nước hồ khuấy từ bột sắn dẽo quẹo. Chỉ sau một đêm sấy than đã nghe mùi Tết theo khói hương lan toả trong gió. Con bé nhanh tay được ngoại và các dì cho tập đánh bột bằng đũa tre và lót dầu vào khuôn bánh thuẩn. Củi đốt ba ngày Tết đã được chọn kĩ nên than rất đượm. Từng mẻ bánh thuẩn trứng gà thơm nức đặt trên sàn sấy. Bọn con nít bâu quanh lâu lâu xuýt xoa khi được dì cho mấy chiếc bánh xẹp. Rìa bánh cháy vàng giòn rụm, mùi thơm của bột và trứng có thêm vị gừng tươi, mùi khói than bếp củi. Nó từng nghĩ chắc không có loại bánh nào ngon hơn thế!
Đám bông chuối trước nhà lập loè . Cúc vạn thọ ngoại trồng đơm những đoá vàng to như nắm tay thơm mùi mật ong. Chiều ba mươi Tết, đường làng vắng hiu. Thi thoảng có người vội vàng ráng thêm gánh cỏ tươi cho bò hoặc gộc củi khô về nấu ba ngày Tết. Ai cũng mau mau bước qua những rặng tre bờ rào để chạm hơi ấm của cánh cửa mở rộng sáng đèn, những căn bếp ấm cúng.
Chao ôi, cái màn mưa lất phất, bầy gà mẹ rũ cánh lục cục, đám cải vừa nhú ngọn hoa vàng, cây chanh đã ra đọt non bên giếng trong, mùi mứt bánh thơm giòn và cả mùi hương ngoại vừa thắp… Ngoại luôn thắp vài cây đầu tiên lên bàn thờ khi mẻ hương vừa khô . Mùi trầm lan trong khí trời lành lạnh, không khí tất bật của cả nhà, tiếng nhắc gọi, hối thúc của mẹ, sự cẩn thận nghiêm trang của cha khi đặt những vật phẩm lên bàn thờ ông bà, những chiếc áo mới thập thò nếp gấp dưới gối, nồi bánh chưng sùng sục sôi và một chiếc bé tí có hai sợi lạt làm dấu bên góc nồi… Không gian ấy, mùi hương ấy in sâu trong kí ức…
Tết quê thời khó cũng là cái lo suốt mấy tháng trời của mẹ. Làm chưa đủ ăn nói chi sắm sửa. Dành dụm mua vài cân thịt heo, mươi lon gạo nếp, nấu chum rượu ngạo, ít mứt gừng nải chuối bánh thuẩn cũng gọi là tươm tất mâm lễ cúng ông bà. Chị em tôi vẫn nhớ cái nồi treo gióng quá tầm tay với của mấy đứa nhỏ là chục cá chưng mạ tát bàu mươi hôm trước Tết, là kí thịt heo mẹ đã rim nước mắm đường để dành cho mâm cúng chiều ba mươi.
Cứ ao ước mau mau đến Tết để được hít hà áo mới và những bữa ăn ngon. Nhưng tiếng thở dài của mẹ bên thùng gạo cạn năm ấy làm tôi không bao giờ quên được.
Con bé nhớ nhất những lần được mẹ sai đi nhận phần thịt Tết. Mỗi hợp tác xã chia nhỏ thành các đội. Tôi đi nhận phần ở đội bốn, trụ sở đầu làng gần cái giếng cổ. Cái giếng nghe nói được đào từ khi làng mới lập. Mấy trăm năm mà mạch nước vẫn mát ngọt, trong veo. Người ta dựa vào nhân khẩu của từng hộ mấy người lớn mấy người nhỏ để chia phần. Tôi mang gói thịt bò gói trong lá chuối chạy quýnh chân đưa về cho mẹ. Rồi tót ra vườn sau hái một nắm to lá sân để sẵn. Ngoài những phần nạc ngon nhất để dành cúng cơm Tết, tối hôm đó bếp nhà thơm lừng mùi gân bò nấu khế và lá sân…
Tết xưa năm nào cũng rét. Mưa làm con đường vô thôn lầy lội đến mức khó thể đi dép. Những tấm áo dệt bông sợi chị mặc ngắn để dành phần em, đứa nào cũng bị lạnh. Những lần đón tàu chợ Tết bán giúp mẹ buồng chuối hay rổ măng tươi, chị em tôi xuýt xoa ngắm khách đi tàu trong bộ cánh người thành phố với nhánh đào cầm tay đẹp như báo ảnh. Và đêm đêm, ước mơ bước qua khỏi những ngọn đồi lại trở về trong giấc mơ những đứa trẻ.
Những cơn mưa tháng Chạp hồi này không còn lạnh như năm nào. Làng ấm hơn nhờ hoa nở khắp những con dốc nhỏ, mùi hương trầm toả trong gió, vị mứt gừng cay nồng. Bữa cơm cuối năm nhà phải trải thêm đôi chiếu hoa vì con cháu của ba mạ có tới hơn ba chục người lớn nhỏ về đón Tết.
Tôi biết vì sao đến mãi sau này sống ở thành phố, tôi vẫn đợi nghe tiếng còi tàu những chiều cuối năm. Nhắm mắt đã là những toa xe màu xanh xưa cũ, những hàng ghế gỗ ấm, những cánh cửa mở rộng. Là đồi Trọ trắng mù trong mưa. Ánh sáng và mùi hương thơm cây cỏ, cả những dây mạng nhện lướt qua, những cánh đồng như bay lên, những quầng mây gần như chạm tay thấu. Và tôi về nhà!
Lấp ló dưới thung lũng xanh là xóm nhỏ. Bàu nước trắng toả hơi sương, đôi bóng người trùm áo mưa lúi húi bên thửa ruộng lúa non vừa bén rễ. Có tiếng lợn kêu đâu đó, vài bông pháo bì bụp bay lên và mùi hương trầm bao năm ngoại thắp thơm mãi đến bây giờ….

















































































